Chương 61: Giá Văn Chương Diệu A! Nhị Canh! Cầu Thu Tàng Ô! - Võ Đại Lang: Cuối Cùng Ta Vẫn Cưới Phan Kim Liên

Trang chủ › Võ Đại Lang: Cuối Cùng Ta Vẫn Cưới Phan Kim Liên › Chương 61

Chương 61 - Giá Văn Chương Diệu A! Nhị Canh! Cầu Thu Tàng Ô!

☰ DS Chương 📖 2,269 chữ

Những kỳ thi lấy bằng cử nhân có rất nhiều môn mục, người không có thực học thì đến đề bài cũng chẳng đọc hiểu nổi.

Lúc này, Trần Phong đã hoàn toàn bước vào trạng thái làm bài.

Kỳ thi chia làm ba trường, thí sinh có ba ngày để hoàn tất bài vở.

Nội dung gồm một bài thơ năm chữ tám vần, bài luận bàn việc nước, kinh sử, thời vụ, các điều trong Tứ thư Ngũ kinh, cùng những bài thơ phú và văn sách. Dung lượng mỗi phần cũng được quy định rõ ràng.

Thi đủ ba trường rồi còn phải qua một kỳ phúc khảo.

Trường đầu tiên thi về thơ văn, phải làm một bài thơ năm chữ tám vần và bốn bài văn sách.

Bài thơ đầu tiên chẳng làm khó được Trần Phong. Thế nhưng đề thi chứa rất nhiều điều cần cân nhắc, không thể tùy tiện viết bừa.

Trong khi làm bài, thí sinh có thể viện dẫn điển tích, nhưng dùng điển nào, đặt vào đâu đều phải hết sức thận trọng. Ngoài ra còn có những bài văn bàn về nghĩa lý kinh sách.

Nói cho cùng, muốn viết được bài hay thì cách nghĩ không thể đơn điệu, càng không thể chỉ chép lại ý kiến của người khác. Phải có kiến giải và lập luận riêng, quan trọng nhất là phải hợp với tư tưởng của quan chủ khảo.

Đó mới là chỗ then chốt.

Trần Phong dò hỏi được rằng quan chủ khảo lần này là Tăng Bố. Người này giữ chức cao, được Tống Huy Tông tin dùng, lại thuộc phe Vương An Thạch, tức phái tân đảng chủ trương cải cách.

Trần Phong từng tìm hiểu khá kỹ về Tăng Bố. Trước kia hắn đã đọc rất nhiều sách sử.

Tăng Bố mười ba tuổi thì cha qua đời. Ông theo người anh là Tăng Củng học hành, sau được Vương An Thạch và Hàn Duy tiến cử. Nhờ vậy, Tăng Bố có cơ hội dâng sớ bàn việc triều chính, được Tống Thần Tông chú ý rồi trọng dụng. Trong thời kỳ Vương An Thạch tiến hành cải cách, ông từng giữ vai trò rất quan trọng.

Về sau, trong cuộc tranh luận về phép Thị dịch, Tăng Bố bị cho là đã cản trở tân pháp, nên bị giáng chức, đày ra ngoài kinh. Ông phải bôn ba qua nhiều nơi, lần lượt nhận chức quan ở các địa phương.

Sau khi Tống Thần Tông băng hà, Thái hậu Cao buông rèm nhiếp chính, phe cựu đảng nắm quyền. Tăng Bố lại kiên quyết giữ phép sai dịch cũ, vì thế không được bước vào trung tâm quyền lực.

Mãi đến khi Tống Triết Tông đích thân chấp chính, ông mới được trọng dụng trở lại, tiếp tục sự nghiệp cải cách. Ông được bổ nhiệm làm Khu mật sứ, nhưng rồi nảy sinh mâu thuẫn với Chương Đôn, cũng là người thuộc tân đảng.

Sau khi Đoan vương Triệu Cát lên ngôi, Chương Đôn vì chống đối mà bị giáng chức, đày đi nơi khác.

Tăng Bố được Tống Huy Tông bổ nhiệm làm Hữu bộc xạ, rồi tìm cách gạt Hàn Trung Ngạn, người đang giữ chức Tả bộc xạ, ra khỏi triều đình. Sau đó ông lại xảy ra xung đột với Thái Kinh, vị Tả bộc xạ mới nhậm chức. Tăng Bố bị giáng chức hết lần này đến lần khác, cuối cùng chết ở Nhuận Châu, thọ bảy mươi hai tuổi.

Sau khi qua đời, ông được truy tặng hàm Quan Văn điện Đại học sĩ, ban thụy hiệu Văn Túc.

Có thể nói, Tăng Bố là một người kiên định theo đường lối cải cách của Vương An Thạch.

Mấy năm trước, ông còn góp sức đưa Tống Huy Tông lên ngôi.

Hiện giờ Tăng Bố giữ chức Hữu bộc xạ, là cánh tay phải đắc lực của Tống Huy Tông trong triều, quyền thế rất lớn.

Gần đây vùng Nam phủ gặp nạn lũ lụt, Tăng Bố liền đến đây chủ trì khoa thi, tiện thể trấn an dân chúng, tránh để xảy ra biến loạn. Đúng lúc quê nhà ông cũng ở quanh vùng này, vì thế triều đình chọn Thanh Hà huyện làm nơi tổ chức thi, để ông đảm nhiệm chức quan chủ khảo.

Chẳng bao lâu, đề thi được phát đến tay từng thí sinh. Ai nấy đều căng thẳng.

Đề bài là: “Mười đời sau có biết được chăng?”

Đề này bắt nguồn từ lời Khổng Tử.

Xưa kia, Tử Trương từng hỏi Khổng Tử:

- Lễ chế của mười đời sau, có thể biết trước được chăng?

Khổng Tử đáp:

- Nhà Thương kế thừa lễ chế của nhà Hạ. Những điều được giảm bớt, những điều được thêm vào, đều có thể biết. Nhà Chu lại kế thừa lễ chế của nhà Thương, những gì giảm đi, thêm vào cũng có thể biết. Vậy thì sau này, bất kể triều đại nào kế thừa lễ chế của nhà Chu, dù là trăm đời về sau, ta cũng có thể biết trước những điều họ sẽ thêm bớt.

Ý chính của lời ấy là: chế độ đời sau phần lớn đều kế thừa từ đời trước. Nhưng nếu viết theo hướng này, người làm bài rất dễ bị xem là kẻ bảo thủ, không ủng hộ cải cách.

Mà đối với chế độ hiện hành, cũng không thể tùy tiện phê phán. Chỉ cần buông lời chỉ trích đôi câu, rất có thể đã bị quy thành kẻ phản loạn rồi tống vào ngục.

Đến lúc ấy, đừng nói chuyện đỗ đạt, e rằng tính mạng cũng chẳng còn giữ được.

Thế nhưng Khổng Tử cũng không phải người nhất mực giữ cũ. Thật ra, ông không phản đối việc thay đổi.

Chỉ có điều đó là lời nói ngoài miệng. Còn trong lòng ông nghĩ thế nào, chẳng ai biết được.

Với một đề bài như vậy, Trần Phong lại nhớ đến việc Tăng Bố thuộc phe chủ trương cải cách.

Nếu lúc này hắn viết một bài văn quá đỗi bảo thủ, dẫu câu chữ hoa mỹ, lập luận tài tình đến đâu, lọt vào mắt quan chủ khảo cũng chẳng khác nào cái gai. Bài ấy tuyệt đối không thể đạt điểm cao.

Vì thế, Trần Phong đã biết mình phải viết thế nào.

Bài văn cần thể hiện sự ủng hộ cải cách, nhưng không được phô ra quá lộ liễu. Cách viết phải kín đáo, ý tứ phải vòng mà sâu.

Bởi chỉ cần viết sai, tính mạng cũng có thể gặp họa. Chuyện này nhất định phải cân nhắc thật kỹ.

Trong đầu Trần Phong vốn đã có sẵn rất nhiều bài văn. Suy nghĩ một hồi, hắn liền nảy ra ý định, đem thẳng một bài từng đọc trước kia chép vào giấy thi.

Đại ý bài văn là ca ngợi người trẻ dám đổi mới, có chí tiến thủ và tinh thần cải cách, gửi gắm khát vọng đất nước hùng cường, phồn vinh.

Dĩ nhiên, câu chữ vẫn phải sửa sang lại.

Trước hết phải ngầm bày tỏ sự ủng hộ. Từ lập luận ấy, hắn khéo léo triển khai sang những ý khác, không phô trương, không cường điệu, nhưng vẫn kín đáo gửi vào đó tư tưởng cải cách.

Bài văn này chính là “Bài nói về Trung Quốc trẻ”.

Trần Phong viết một hồi lâu. Nhìn những hàng chữ đen rõ ràng trên giấy thi, hắn lại đọc đi đọc lại bốn năm lượt. Đến khi chắc chắn không còn sai sót, hắn mới thở phào.

Suốt quá trình viết, ngòi bút của Trần Phong không hề ngừng lại. Bản thân hắn cũng khá hài lòng.

Bài “Bài nói về Trung Quốc trẻ” mà hắn chép lại vốn là một áng văn kinh điển, được người đời sau công nhận là một trong những bài viết mạnh mẽ và giàu tinh thần tiến bộ nhất của Lương Khải Siêu.

Chẳng ai biết Lương Khải Siêu đã mất bao nhiêu đêm nghiền ngẫm mới viết nên bài văn ấy. Có lẽ chính ông cũng không ngờ tác phẩm của mình lại bị người ta đem vào trường thi Bắc Tống.

Hơn nữa, người chép nó vào trường thi lại là Trần Phong, kẻ chỉ mất một khoảng thời gian ngắn đã viết xong nhẹ nhàng như không.

Trong bài có một câu rất nổi tiếng:

- Tuổi trẻ thông minh thì đất nước thông minh, tuổi trẻ giàu mạnh thì đất nước giàu mạnh, tuổi trẻ hùng cường thì đất nước hùng cường!

Chữ viết trên giấy thi cũng rất đẹp.

Khoảng thời gian này, Trần Phong vẫn chăm chỉ luyện chữ. Nhờ ngộ tính và tài khí được nâng cao, thư pháp của hắn tiến bộ nhanh chóng. Dĩ nhiên, hắn không dám viết theo lối chữ gầy vàng trên giấy thi.

Dù sao hắn cũng không biết Tống Huy Tông hiện giờ đã nghiên cứu ra lối chữ ấy hay chưa.

Nhưng ngay cả như vậy, nét chữ trên bài thi vẫn ngay ngắn, rõ ràng, có vẻ đẹp thanh nhã mà không mất đi vẻ cứng cáp, mạnh mẽ.

Chỉ cần nhìn chữ, chưa cần đọc nội dung, người ta cũng cảm nhận được một khí thế rất riêng, đủ khiến người xem phải ghi nhớ.

Trần Phong ngẩng lên nhìn quanh. Nhiều thí sinh đã cuống đến toát mồ hôi, vẫn đang vò đầu suy nghĩ cách làm bài, còn hắn thì đã viết xong từ lâu.

Phần thơ cũng đã hoàn tất. Tính ra, kỳ thi này chẳng khó như hắn tưởng.

Những trường thi sau chỉ cần viết tốt về cải cách, đồng thời khéo léo ca ngợi triều Tống là được.

Ba ngày sau.

Trần Phong thi xong.

Phải nói rằng làm bài trước người khác quá lâu cũng chẳng có gì thú vị.

Các thí sinh khác không thấy ba ngày là dài, trái lại còn than thời gian quá ngắn, làm mãi vẫn chưa hết bài.

Còn Trần Phong đã viết xong từ sớm, phải ngồi chịu đựng suốt quãng thời gian còn lại.

Trong trường thi không được trò chuyện. Viết xong cũng chỉ có thể ngồi yên, nhìn tấm vách ngăn trước mặt.

Thỉnh thoảng, hắn lại nghe tiếng các thư sinh phía trước phía sau đi vệ sinh trong những gian lều nhỏ, âm thanh lách tách vọng ra không ngừng.

Mọi việc gấp gáp của sĩ tử trong trường thi đều phải giải quyết ngay trong gian lều chật hẹp ấy. Bởi vậy, mùi hôi bốc lên nồng nặc.

May mà cuối cùng cũng được bước ra.

Trần Phong ra khỏi trường thi, hít một hơi thật sâu. Không khí bên ngoài quả nhiên trong lành hơn hẳn!

- Đại lang!

Trần Phong vừa bước ra, Phan Kim Liên đã chạy tới. Theo sau nàng là Triệu Tam đang phấn khích ra mặt. Mấy ngày qua cả hai đều mệt rã rời, đứng chờ bên ngoài cũng buồn chán đến phát ngán.

Phan Kim Liên hỏi:

- Đại lang, làm bài có thuận lợi không?

Trần Phong gật đầu:

- Cũng được.

Triệu Tam phấn khởi ra mặt:

- Lão gia đúng là lợi hại! Tôi thấy những thí sinh khác bước ra ai nấy đều lo lắng, chỉ có lão gia vẫn thản nhiên như chẳng có chuyện gì. Hì hì, quả nhiên lão gia nhà ta tài giỏi nhất!

Triệu Tam ra sức nịnh nọt.

Từ ngày theo Trần Phong, Triệu Tam được hắn đối đãi rất tử tế, nên một lòng đi theo chủ nhân. Dần dần, gã đã trở thành kẻ theo hầu thân cận bên cạnh Trần Phong.

Thi xong, Trần Phong cùng Phan Kim Liên trở về nhà.

Đêm ấy, trong phòng vang lên tiếng giường kẽo kẹt hồi lâu. Triệu Tam ngủ ở gian ngoài, lúc tỉnh lúc mê, chẳng biết chuyện gì.

Sáng hôm sau.

Nhìn những chồng bài thi chất cao trước mặt, quan chủ khảo cũng phải thầm cảm khái thế văn của Đại Tống. Người đọc sách quả thật quá đông.

Các quan khảo thí đều bận rộn. Tăng Bố cũng ngồi xem từng bài.

Ông đọc qua mấy quyển, nhưng vẫn chưa thấy bài nào có ý tưởng mới mẻ. Câu chữ nhìn chung chặt chẽ, song chưa thể hiện được tài năng thật sự.

Những vị quan này đòi hỏi rất cao. Nếu đem các bài văn ấy so với bài viết của người thường, tất nhiên đều nổi bật hơn hẳn.

Nhưng đây là trường thi, nơi văn nhân khắp nơi tụ hội. Muốn vượt lên giữa đám đông, quả thật chẳng dễ dàng.

Phải tìm được một bài khiến người ta sáng mắt, lúc ấy mới có thể gọi là văn hay.

Tăng Bố đọc mãi, hai hàng lông mày dần nhíu lại. Những bài trước mặt đều không hợp với điều ông mong muốn.

Thỉnh thoảng cũng có vài bài khá tốt, nhưng rốt cuộc vẫn thiếu một thứ gì đó.

Đúng lúc ấy, một vị quan khảo thí bên cạnh bỗng kêu lên:

- Bài văn này hay quá!

Tiếng kêu của viên phó khảo khiến những người bên cạnh nhíu mày, đồng loạt quay sang nhìn. Tăng Bố cũng ngẩng đầu nhìn về phía đó.

Viên phó khảo lập tức rụt cổ, sau đó cúi xuống, lặng lẽ thưởng thức bài văn trước mặt.