- Tổng giám đốc Cố, quản lý Từ, quản lý Lâm, mọi người đừng vội. Hợp tác mà, phải hiểu nhau thật kỹ chứ. Sáng nay đàm phán mệt rồi, mọi người cũng nên nghỉ trưa một lát. Để người của chúng tôi dẫn mọi người đi tham quan khuôn viên, muốn xem chỗ nào cứ nói.
- Quản lý Từ nãy giờ chưa dự tiệc trưa, nào, chuẩn bị chút trà chiều. Doanh nghiệp đầu tư từ Vùng Vịnh như chúng tôi có thói quen văn hoá này, mọi người cứ coi như nhập gia tuỳ tục.
Sau khi xem xong mẫu vật liệu mới do Từ Tung trình diễn, phía Hải Xương đổi hẳn thái độ cứng rắn ban đầu. Vị tổng giám đốc Chu của phòng nghiên cứu phát triển, người đóng vai mặt trắng hù doạ, cũng lập tức bị cắt bớt quyền phát ngôn trong các vòng đàm phán sau, nhường lại cho vị tổng giám đốc Sử vốn đóng vai mặt đỏ hiền hoà gánh nhiều hơn.
Tổng giám đốc Sử tiếp quản toàn bộ rồi thì vận dụng chiêu “câu giờ”. Một mặt lén mở cuộc họp nội bộ ngắn để đánh giá tình hình, mặt khác sai nhân viên hành chính khao Cố Triệt ăn uống tử tế, dẫn họ đi tham quan, tiếp đãi hết mực chu đáo.
Vừa xong tiệc trưa đã bày trà chiều, chắc chỉ có Từ Tung, kẻ nãy giờ ăn không ngon, mới nuốt nổi thêm điểm tâm. Nhưng dù ăn hay không, phía chủ nhà đều mời họ vào phòng nghỉ ngơi thật kỹ.
- Tổng giám đốc Cố, rốt cuộc họ tính gì vậy? Đã thấy thực lực kỹ thuật của mình rồi, chắc chắn là rất hứng thú với bằng sáng chế của ta chứ? Sao còn câu giờ?
Ăn xong điểm tâm, Từ Tung không nhịn được phải hỏi. Khi ra ngoài, cả bọn đã được dặn kỹ, bắt buộc phải xưng Cố Triệt là tổng giám đốc Cố cho khỏi lộ. Sau mấy ngày tập quen trước khi đến, giờ ai nấy đã gọi trôi chảy.
Cố Triệt chỉ vắt chân chữ ngũ trên ghế sô pha, ngón tay gõ nhịp đều đều lên thành ghế, chẳng nói một lời có ích nào, chỉ buôn chuyện phiếm vô thưởng vô phạt.
Hắn nhìn kỹ một vòng phòng nghỉ, không thấy camera hay lỗ thu âm nào lộ ra ngoài, nhưng hắn vẫn không muốn tán dóc nhiều về quân bài của mình ở nơi thế này.
Câu giờ một lúc, thấy bên kia cứ mãi nhởn nhơ, trong lòng hắn cũng phỏng đoán được mùi vị. Hắn cầm áo khoác lên, nói: “Anh cũng no rồi chứ? Vậy ra ngoài đi dạo chút, nãy tiệc trưa tôi lỡ ăn hơi nhiều.”
Cả bọn nói rồi rời phòng nghỉ, dặn nhân viên hành chính của đối phương không cần đi theo, chỉ định lang thang tản bộ trong vườn hoa dưới chân toà nhà.
Từ Tung và Lâm Tịnh Tịnh thấy Cố Triệt thận trọng đến vậy mới ngộ ra hắn sợ bị nghe lén, cũng tạm thời im miệng, mãi đến khi vào thang máy mới định mở lời bàn tán.
Nhưng Cố Triệt vẫn vẻ tự tin nắm chắc phần thắng, tuỳ miệng thả mấy câu mồi nhử khói mù. Thang máy mới xuống được hai tầng, chưa tới đáy, bỗng dừng lại, giữa đường có hai nữ công sở mặc vest, đang tự nhiên gọi điện thoại, bước vào.
Mãi đến tầng trệt, Cố Triệt cùng mọi người bước ra khỏi sảnh, mới tách đường với đám kia.
Đi vào giữa vườn hoa, hắn còn giả vờ móc ra một điếu xì gà ngậm trên môi, nhưng không châm. Bị ai bắt gặp cũng chỉ cho rằng hắn là người có văn hoá, không hút thuốc trong nhà, chứ không ai nghĩ hắn ra ngoài để bàn chuyện bí mật.
Là người sinh những năm tám mươi, Cố Triệt đương nhiên chẳng nghiện thuốc rượu gì, mấy thứ đó chỉ là đạo cụ để hắn diễn kịch thương chiến.
Diễn xong màn ấy, hắn mới mở miệng:
- Sau này đàm phán thương vụ nhớ cẩn thận một chút. Mỗi khi các người tưởng mình đã rời khỏi trường đàm phán, đã lơi lỏng cảnh giác, thì đối thủ lão luyện chưa chắc không đang tính mò quân bài của các người.
Hai cô vừa nãy vào thang máy giữa tầng thấp, tôi không nhìn ra họ có vấn đề hay không. Nhưng nếu tôi làm ông chủ, mời nhà cung cấp hay khách hàng đến đàm phán, tôi tuyệt đối sẽ bố trí người chờ sẵn dưới tầng của phòng họp sau khi buổi nói chuyện kết thúc, bấm thang máy tiễn khách xong thì cho người của mình đi chung thang ở tầng kế tiếp. Thang máy là loại không gian kín tạm thời, là nơi đối phương dễ lơi lỏng cảnh giác nhất, dễ trao đổi ý kiến thật về quân bài nhất.
Đương nhiên, trường hợp hôm nay của chúng ta còn đỡ, vì cả toà nhà đều là của Hải Xương. Nếu là loại toà nhà văn phòng có nhiều công ty cùng thuê, phía khách đến còn dễ lơi lỏng cảnh giác hơn, vì sẽ nghĩ rằng rời khỏi tầng đó là đã ra khỏi địa bàn đối phương rồi.
Ba người đi theo nghe đến trợn mắt há mồm: trời ơi?! Âm hiểm đến thế cơ á?
Bọn họ thầm mừng: may mà trước khi chính thức bước vào giới công sở, mình được đi theo anh Cố lăn lộn. Nếu không có những trải nghiệm này, mai sau ra ngoài bị ai hố cũng không hay biết.
Kẻ nào làm đối thủ của anh Cố, đúng là xui tận tám kiếp.
Khiển trách xong, Cố Triệt mới bắt đầu phân tích phần thực chất:
- Tôi thấy trận thế của họ lúc này, vừa coi trọng, vừa họp nội bộ khẩn cấp để giữ chân ta, chắc chắn là định mua quyền sử dụng của ta rồi. Đang họp, chắc chắn là bàn phương thức giao dịch cụ thể, tìm cách ép giá mình.
Tôi vẫn luôn đề phòng họ sinh ra tâm lý kiêu ngạo kiểu “thì ra vật liệu mới này chỉ là chuyện chọc thủng một lớp giấy cửa sổ, tôi làm tôi cũng nghiên cứu ra được, tìm cách vòng qua vật liệu hiện có, tìm ra vật liệu cùng loại mà hiệu năng vẫn đạt chuẩn”.
Một khi tâm lý này nảy sinh, sẽ rất bất lợi cho việc bán phát minh vật liệu được giá tốt. Nhất là lĩnh vực hữu cơ phân tử cao, chuyện này nhiều vô kể. Vật liệu công nghiệp thực ra còn chưa phải vùng thảm hoạ nặng nhất; nặng nhất là dược phẩm sinh học.
Nhiều chất hữu cơ có dược hiệu, chỉ cần thêm chút liên kết hoá học, gắn thêm một nhánh phụ, dược hiệu vẫn đạt được, nhưng đã vòng qua được bằng sáng chế của hợp chất gốc, rồi thổi phồng thêm rằng nhánh mới gắn này có hiệu quả độc đáo riêng, là có thể nộp đơn thành công.
Cho nên tôi mới chú ý giữ bí mật đến vậy, phải tận dụng tối đa thời hạn bảo mật theo luật định. Không thể nộp đơn công khai ngay và đi vào giai đoạn thẩm định thực chất. Chỉ dựa vào trình diễn trực tiếp cho họ xem hiệu quả, còn tầng nguyên lý thì giữ lại một tay.
Những nội tình ngành mà Cố Triệt nói, vốn Từ Tung và Lâm Tịnh Tịnh không hiểu, nhưng gần đây lăn lộn theo hắn, cũng học được vài ví dụ, mới miễn cưỡng theo kịp mạch suy nghĩ.
Lấy ví dụ kinh điển nhất: trong lĩnh vực dược phẩm, người xưa thực ra đã biết “nhai vỏ cây liễu chữa được đau đầu”, chỉ là không biết thành phần hiệu dụng bên trong là axit salicylic.
Đầu thế kỷ hai mươi, cuối cùng cũng có nhà khoa học tách chiết và kiểm chứng được dược hiệu của axit salicylic. Nhưng axit salicylic dù sao cũng hại dạ dày, có tác dụng phụ, nên tốt nhất là khử tính axit của nó đi. Thế là hãng Bayer phát minh ra axit acetylsalicylic, tức là aspirin.
Nhưng thực tế, khi công thức aspirin được công khai, các hãng khác đều tìm mọi cách đổi phần “acetyl” đi, tạo ra đủ loại hợp chất salicylic khác mà vẫn còn dược hiệu.
Rồi tìm mọi cách mượn các bài báo khoa học chứng minh “hợp chất salicylic mới này còn có hiệu quả riêng trong việc giảm tác dụng phụ”, thế là dần dần vòng qua được aspirin.
Lĩnh vực dược phẩm là vùng thảm hoạ nặng nhất, bởi vì hiệu quả thuốc rất mơ hồ, sự sống quá phức tạp, có hay không hiệu quả khác hoàn toàn là kết quả của việc vận động và tạo thế trong giới học thuật. Ai kéo được nhiều quyền uy học thuật hơn thì người đó có lý, chân lý căn bản không nói rõ được.
May mà, điều duy nhất Cố Triệt trông cậy vào, chính là thời hạn bảo mật hợp pháp mà Luật Sở hữu trí tuệ dành cho hắn.
Như đã nói, bản chất của chế độ bằng sáng chế là “nhà nước dùng sự bảo hộ để đổi lấy việc người nghiên cứu công khai nguyên lý”. Muốn được bảo hộ, phải công khai nguyên lý một cách triệt để tường tận, để người khác có thể “bắt chước mạch nghiên cứu của bạn, đi thử những hướng nghiên cứu khác”.
Nhưng sự công khai này cũng có độ trễ thời gian.
Theo Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ nước ta: “Đơn đăng ký sáng chế kể từ ngày nộp đơn trong vòng ba năm, cơ quan quản lý có thể căn cứ yêu cầu do người nộp đơn đề xuất bất cứ lúc nào mà tiến hành thẩm định thực chất đối với đơn đó. Người nộp đơn không có lý do chính đáng mà quá hạn không yêu cầu thẩm định thực chất thì đơn đó bị coi như đã rút lại. Khi cơ quan quản lý thấy cần thiết, có thể tự tiến hành thẩm định thực chất đối với đơn đăng ký sáng chế.”
Dịch sang lời người thường, nghĩa là một khi đã yêu cầu thẩm định thực chất, toàn bộ nguyên lý kỹ thuật của phát minh sẽ công khai cho toàn xã hội, ai cũng tra được. Còn chừng nào chưa xin vào thẩm định thực chất, Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia cũng chẳng nhắm riêng vào bạn mà chủ động thẩm định, thì bạn giữ được bí mật một thời gian.
Trong thao tác tư pháp thực tế, còn có thể lợi dụng quyền rút đơn một lần (có điều kiện, và nhiều nhất chỉ được rút một lần), cùng “quyền ưu tiên trong nước” khi bổ sung sửa chữa hồ sơ, kéo dài thêm lần lượt mười tám tháng và mười hai tháng thời gian bảo mật.
Nhưng những thao tác này đều có điều kiện. Với tình huống hiện tại của Cố Triệt, cần bán quyền ra ngoài, quyền rút đơn chắc chắn không dùng được; quyền ưu tiên khi bổ sung hồ sơ thì còn chút cơ hội.
Tóm lại, những chi tiết pháp luật âm hiểm hèn hạ kia không cần kể lể, chỉ cần nhớ kết luận: Cố Triệt có bản lĩnh giấu được nguyên lý chi tiết phát minh của mình ba đến bốn năm, trong khi vẫn đảm bảo sau này có thể cấp quyền được.
Tổng thời hạn bảo hộ phát minh là hai mươi năm. So ra, ba bốn năm giấu nguyên lý thực sự không dài.
…
Cố Triệt dựa trên những cân nhắc trên, chọn cách nói đơn giản, phác hoạ đại khái thủ đoạn ép giá âm hiểm mà hắn đoán đối phương đang toan tính:
- Tôi nghĩ, đối phương hiện giờ vừa coi trọng lại vừa thả mình nhởn, họp nội bộ gấp gáp, phần lớn là đang cân nhắc vừa muốn mua quyền, lại vừa tiếc tiền, không muốn mua dài hạn hay mua đứt luôn.
Họ muốn dùng trước vài năm, vừa dùng vừa thử giải ngược, phân tích nguyên lý, rồi tự dựng bếp riêng nghiên cứu ra thứ tốt hơn. Như vậy khỏi phải trả ta nhiều tiền.
Từ Tung và mọi người nghe xong không khỏi bức bối:
- Họ âm hiểm đến vậy sao? Chúng ta giúp họ tiết kiệm bảy phần chi phí sản xuất kính mềm cận nhẹ, họ chia lại vài phần tiền tiết kiệm được làm phí sáng chế cũng tiếc? Không đến nỗi chứ?
Cố Triệt hừ lạnh:
- Đến nỗi hay không, chờ họ họp nội bộ xong là rõ hết thôi. Nhà tư bản không ai chê tiền nhiều, lòng tham không đáy. Nhưng nếu đến lúc đó đúng như tôi đoán, mấy người nhớ phải đối phó thế này…
Hắn dặn dò một lượt những điểm cần lưu ý, rồi giả vờ hút xong điếu xì gà, quay lại phòng nghỉ.
Họ vừa về phòng nghỉ không lâu, tổng giám đốc Sử của Hải Xương cũng họp nội bộ xong, mặt tươi cười rạng rỡ tìm Cố Triệt mở lại buổi đàm phán.
Tổng giám đốc Sử đổi hẳn thái độ công sự trước bữa trưa, trở nên hết sức dễ gần, mời Cố Triệt cứ báo giá thoải mái, khẳng định bọn họ nhất định sẽ mua, đồng thời còn mong chờ hai bên hợp tác nghiên cứu khoa học nhiều hơn trong tương lai.
Sự thân thiết đó, gần như xem Cố Triệt là anh em ruột khác cha khác mẹ, khiến Lâm Tịnh Tịnh và Từ Tung đứng cạnh nhìn mà thấy hơi không quen.
Không quen thì không quen, đến khâu báo giá vẫn phải báo.
Cố Triệt liếc Lâm Tịnh Tịnh ra hiệu. Nàng lập tức rút ra một bộ phương án dự phòng, thao thao bất tuyệt:
- Tổng giám đốc Sử, đây là mạch tư duy báo giá của chúng tôi. Hiện tại chúng tôi đưa ra ba phương án, để tính toán giá trị cấp quyền sáng chế của chúng tôi đối với quý công ty.
Phương án thứ nhất, dựa trên số liệu doanh số sản phẩm liên quan của quý công ty năm ngoái, tính ra quy mô thị phần kính mềm cận nhẹ ly tâm của quý công ty, hạch toán sau khi áp dụng kỹ thuật của công ty chúng tôi, sẽ tiết kiệm cho quý công ty bao nhiêu chi phí sản xuất. Sau đó phía chúng tôi chỉ trích một phần rất nhỏ trong đó làm phí cấp quyền sáng chế…
Số liệu cụ thể xin xem bảng dưới đây: doanh số trung bình hằng năm của quý công ty ba năm qua là 2,2 ức đô la Mỹ, trong đó thị trường đại lục chiếm trên 40%, khoảng 9000 vạn đô la, quy ra 7 ức nhân dân tệ.
Trong số đó, doanh số kính áp tròng của quý công ty chiếm 2,1 ức nhân dân tệ. Kính mềm ly tâm cận nhẹ lại chiếm 40% về số lượng và 22% về doanh số, tức khoảng 4300 vạn nhân dân tệ.
Chi phí công nghệ sản xuất chiếm 28% doanh số, khoảng 1200 vạn nhân dân tệ. Sau khi dùng kỹ thuật của chúng tôi, dù chưa tính đến việc thị phần của quý công ty tăng lên sau này, chúng tôi cũng có thể giúp quý công ty tiết kiệm 800 vạn nhân dân tệ chi phí sản xuất mỗi năm.
Phía chúng tôi cho rằng, công ty tôi trích 30% lợi ích trong đó, khoảng 240 vạn nhân dân tệ mỗi năm, tạm tính làm phí cấp quyền, là hoàn toàn hợp lý. Quý công ty vẫn hưởng lợi 560 vạn nhân dân tệ từ mức chi phí sản xuất ròng giảm xuống…