Cao Đức trợn tròn mắt.
Hắn biết trong một thế giới tồn tại sức mạnh siêu phàm, con đường phát triển của kỹ thuật ắt hẳn sẽ khác xa Trái Đất.
Nhưng nghe Pierre nhắc đến khí cầu, hắn vẫn sững sờ.
Một thế giới đến xe hơi, xe lửa còn chưa có, vậy mà lại phát triển được kỹ thuật khí cầu trước tiên ư?
Đúng là hết nói nổi!
- Đúng vậy. Khí cầu từ lâu đã là phương tiện đi lại phổ biến nhất của các pháp sư vòng cao trên đại lục.
Pierre nói:
- Đi đường thủy thì phải đổi tuyến liên tục, đường đi vòng vèo, tốc độ cũng chẳng nhanh. Đường bộ thì càng khỏi cần nói, phức tạp hơn nhiều. Hơn nữa, những tuyến đường bộ băng qua nơi hoang vắng còn cực kỳ nguy hiểm.
- So ra, khí cầu vừa nhanh nhất, vừa an toàn, lại ngồi thoải mái nhất.
Cao Đức cố nén những đợt sóng kinh ngạc cuộn trào trong lòng.
- Vậy sao tôi đến thành Bất Lai Mai đã một tháng mà chưa từng nhìn thấy khí cầu?
Pierre thở dài, vẻ bất lực:
- Vì nước ta chỉ là một công quốc nhỏ thôi.
- Bởi thế, khí cầu của Tây Ân không những lạc hậu mà số lượng còn ít ỏi. Chúng đều nằm trong tay quan phủ, các thương hội lớn và quý tộc, chưa được đưa vào phục vụ dân chúng.
- Giá một chiếc khí cầu đắt đến mức kinh người. Mua được nó vẫn chưa phải xong, hằng năm còn phải chi rất nhiều tiền cho việc bảo dưỡng, sửa chữa, rồi thuê người chuyên trách vận hành. Chi phí sử dụng cao ngất ngưởng.
- Muốn khí cầu được dùng rộng rãi trong dân gian thì phải có đủ hành khách, như vậy mới không lỗ, thậm chí còn kiếm được lời.
- Nhưng trong một công quốc nhỏ như chúng ta, chuyện ấy hoàn toàn không thể xảy ra.
Pierre xòe hai tay:
- Tây Ân nghèo, người Tây Ân cũng nghèo. Phần lớn dân chúng đâu có đủ tiền ngồi khí cầu.
- Vì vậy, trong thành Bất Lai Mai vốn chẳng có khí cầu.
Nghe đến đây, Cao Đức đã hiểu.
Cũng giống như trên Trái Đất, chỉ có một số ít thành phố mới có sân bay.
Đến miếng bánh từ trên trời rơi xuống, muốn đưa vào miệng cũng đâu phải chuyện dễ dàng.
Chưa biết bức thư giới thiệu kia có đáng tin hay không, vậy mà vấn đề tiếp theo đã sớm bày ra trước mắt hắn.
Đường đến thành Thánh Tây Ân quá xa, lại quanh co khúc khuỷu.
Từ thành Hogen đến thành Bất Lai Mai, hắn còn có thể đi nhờ đoàn buôn.
Nhưng từ khu thành Bất Lai Mai đến thành Thánh Tây Ân, muốn tìm một đoàn buôn có thể cho hắn quá giang thì khó hơn nhiều.
Ngồi khí cầu là tiện nhất.
Nhưng khí cầu ở đâu ra?
Pierre chẳng nghĩ ngợi nhiều như hắn. Ông vui vẻ đứng dậy, gọi:
- Đi thôi, trưa nay ta mời ngươi ăn! Nhóc con, sau này rảnh rỗi cứ đến tìm ta. Dù chỉ ngồi nói chuyện vài câu cũng được.
Ông lão sống một thân một mình. Từ ngày chạy đến thành Bất Lai Mai, việc buôn bán ở tiệm tạp hóa cũng mất luôn, ngày nào cũng nhàn rỗi, cô quạnh vô cùng.
Cao Đức đến thăm khiến ông có người mở lời trò chuyện.
Cao Đức cũng cười:
- Ngài không chê tôi đến ăn chực uống chực thì sau này tôi nhất định sẽ thường xuyên ghé thăm. Chỉ là lần sau đến đây, e rằng chẳng còn rượu ngon nữa.
Pierre cũng có thể xem là người quen đầu tiên hắn kết giao sau khi đến thế giới này. Vì vậy, trong lòng hắn ít nhiều vẫn có một phần tình cảm đặc biệt dành cho ông.
Cao Đức nói thêm:
- Tôi ở số 437 đường Camond, làm thợ sửa chữa, kiếm chút tiền nuôi thân.
Quả nhiên Pierre rất giàu có. Bữa trưa ông mời hắn là ở một nhà hàng cực kỳ sang trọng.
Món ăn cũng xa xỉ không kém.
Một phần bánh sữa hấp giá bốn bạc.
Một phần gà tơ nuôi bằng ngũ cốc giá mười hai bạc.
Một phần sốt thịt giăm bông giá bốn bạc sáu đồng.
Măng tây giá tám bạc.
Rượu ngọt giá ba bạc sáu đồng.
Tổng cộng hết một vàng mười hai bạc.
Số tiền ấy mà đem đến quán ăn nhỏ đối diện nhà bà Misu, đủ cho Cao Đức ăn trưa cả tháng, vẫn còn dư.
Cơm no rượu say, Cao Đức thu hoạch được không ít tin tức rồi tạm biệt Pierre.
Nhưng chuyến đi hôm nay của hắn vẫn chưa kết thúc.
Buổi chiều.
Số 267 đường Camond.
Sau một tháng xa cách, Cao Đức lại gõ cửa nhà bà Misu.
Bà Misu mở cửa, vẻ mặt kinh ngạc:
- Cậu Gúc-gồ, có chuyện gì sao?
Cao Đức bày ra vẻ sốt ruột:
- Thưa phu nhân, tôi gặp một chút rắc rối.
- Hả?
Bà Misu lập tức để tâm, vội mời hắn vào:
- Rắc rối gì? Vào trong rồi nói.
Cao Đức bước thẳng vào nhà, ngồi xuống khu vực tiếp khách.
Bà Misu cũng chẳng còn lòng dạ pha trà, ngồi đối diện hắn rồi ân cần hỏi:
- Cậu gặp chuyện gì vậy?
- Ta thấy dạo này việc làm ăn của cậu khá tốt mà. Chẳng lẽ căn nhà có vấn đề gì?
Cao Đức lắc đầu. Hắn lấy từ trong áo ra một bức thư đã chuẩn bị sẵn, đưa cho bà Misu.
- Phu nhân cứ xem trước đi.
Cùng lúc ấy, ý niệm trong đầu hắn khẽ động. Pháp lực lướt qua mô hình pháp thuật.
Cánh cửa vốn chưa được bà Misu khép lại lập tức đóng sầm, ngăn cách mọi ánh mắt nhòm ngó có thể tồn tại bên ngoài.
[Phép Đóng Mở].
Thấy vẻ mặt Cao Đức nghiêm trọng, bà Misu vội nhận lấy bức thư, mở ra xem.
Mới liếc qua một cái, bà đã buột miệng kêu lên. Sau đó, bà ngẩng phắt đầu, ngơ ngác nhìn Cao Đức.
Hắn không nói gì, chỉ ra hiệu bảo bà đọc tiếp.
Bà Misu im lặng cúi xuống, chăm chú xem hết bức thư.
Cao Đức ngồi bên cạnh, không lên tiếng. Hắn kín đáo quan sát vẻ mặt bà, muốn nhìn ra những thay đổi trong tâm trạng của bà.
Bức thư hắn đưa chính là lá thư Pháp sư Seda từng định gửi cho bà Misu, nhưng cuối cùng chưa kịp gửi đi.
Xét riêng nội dung, đó chỉ là những lời bày tỏ nỗi nhớ, kèm theo vài dòng kể về tình hình gần đây của Seda. Ngoài ra, chẳng còn manh mối nào đáng kể.
Dù không nhìn ra trong thư có điều gì bất lợi cho mình, lòng Cao Đức vẫn thấp thỏm. Hắn không biết rốt cuộc bà Misu đã nắm được bao nhiêu chuyện.
Cứ ngồi chờ cũng chẳng giải quyết được gì. Hắn chỉ còn cách nghiến răng chủ động tìm đến, rồi tùy cơ ứng biến.
Nói cho cùng, ngoại trừ những học đồ trong vườn thuốc biết sự thật, nếu nhìn từ bên ngoài, trong một trăm người thì có đến chín mươi chín người không tin một học đồ nhỏ bé, chẳng có gì nổi bật như hắn lại có thể giết được Pháp sư Seda.
Đó chính là tấm bùa hộ mệnh tự nhiên của Cao Đức.
May thay, tình huống tồi tệ nhất mà hắn dự liệu đã không xảy ra.
Sau khi đọc xong nội dung bức thư, vẻ mặt bà Misu trở nên khó tả. Dường như đã đoán được điều gì, bà thoáng lộ vẻ đau buồn.
Bà ngẩng lên nhìn Cao Đức:
- Sao thư của chồng ta lại ở trong tay cậu?
Cao Đức thành thật đáp:
- Phu nhân, thật ra trước kia tôi đã lừa bà. Tôi không phải người thành Camond, mà là người thành Hogen.
- Thân phận thật của tôi là học đồ của Pháp sư Seda.
Bà Misu nhíu mày:
- Cậu là học đồ của chồng ta?
Cao Đức gật đầu. Hắn nghĩ ngợi một lát, quyết định thăm dò xem bà Misu biết đến đâu, rồi lựa lời kể lại tình hình của Pháp sư Seda ở thành Hogen.
- Pháp sư đại nhân có một vườn thuốc ở thành Hogen, cần học đồ trông nom. Ngài vốn nhân hậu, thấy trong thành có nhiều đứa trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, ngày nào đó còn có thể chết rét chết đói ngoài đường, nên đã đưa vài đứa về vườn thuốc. Tôi cũng là một trong số đó.
- Sau khi đưa chúng tôi về, ngài thu nhận chúng tôi làm học đồ, lo cho chúng tôi ăn mặc, dạy chúng tôi đọc chữ, học pháp thuật và điều chế thuốc phép…
Cao Đức kể lại những việc Pháp sư Seda đã làm bằng giọng tự nhiên, chậm rãi.
Lời hắn nói không hề có sơ hở, bởi tất cả vốn đều là sự thật. Hắn chỉ giấu đi mục đích thật sự của việc nhận họ làm học đồ, đó là dùng họ thử thuốc.
Bà Misu nghe chăm chú.
Ít nhất, Cao Đức không nhìn ra vẻ mặt bà có gì bất thường.
Vậy là hắn tạm thời có thể kết luận, Pháp sư Seda quả thật chưa từng tiết lộ với bà những chuyện cụ thể trong vườn thuốc.
Vốn dĩ phải là như vậy.
Trước khi bị ép phải rời khỏi thành Hogen, Pháp sư Seda chưa phải kẻ xem mạng người như cỏ rác.
Sau này, vì lợi ích của bản thân mà bước lên con đường ấy, lương tri trước kia chưa chắc khiến lão cảm thấy hổ thẹn. Nhưng phần lớn khả năng là nó khiến lão che giấu chuyện đó với người thân cận nhất, để giữ gìn hình ảnh của mình.
Đó chính là bản tính con người.
Con người vốn là như vậy.