Chương 139: Ngoài cửa và trong cửa
Tháng Ám Dạ, ngày hai mươi bốn.
Vẫn đúng vào giờ hôm qua.
Cao Đức lại tìm đến xưởng phù văn ở tầng ba lầu Gia Văn.
Cũng như hôm qua, hắn không thấy người thầy của mình, Hà Tây · Áo Khẳng Lợi.
Nhưng lần này, hắn chẳng cần tự gây tiếng động. Từ căn phòng đóng kín bên trong xưởng đã vọng ra giọng nói già nua mà bình thản.
Chỉ là nghe không bình thản như hôm qua. Cao Đức cảm thấy hôm nay, giọng lão già trong căn phòng kia dường như mang theo vẻ phấn khích khó nén.
Có lẽ chỉ là ảo giác.
- Cứ đọc tài liệu trên bàn trước đi. Đọc xong thì có thể rời khỏi đây.
Vẫn là câu nói hôm qua.
Đến một chữ cũng không thay đổi.
Nếu đặt trong một cuốn tiểu thuyết, người ta thậm chí có thể nghi tác giả lười biếng, bê nguyên đoạn trước sang đây.
Nhưng Cao Đức không nghĩ nhiều đến thế.
Với hắn, đây chỉ là một “mệnh lệnh” khác mà thôi.
Hắn lặng lẽ nghe, chân đã bước tới trước bàn làm việc đặt giữa xưởng phù văn.
Bàn làm việc hôm qua còn hơi bừa bộn, nay đã được thu dọn lại, ngăn nắp hơn hẳn.
Tài liệu Hà Tây muốn hắn đọc cũng được đặt ngay chính giữa, ở nơi dễ thấy nhất.
Hắn không cần tự đoán già đoán non, lục tìm như hôm qua nữa.
“Nhập môn phù văn”.
Cái tên đơn giản, dễ hiểu. Chỉ liếc qua cũng biết nội dung nói về phù văn.
Theo Cao Đức, đây mới là tài liệu đáng lẽ phải đưa cho hắn hôm qua. Ít nhất cũng nên nhận biết phù văn trước, rồi mới học những quy tắc căn bản của phù văn.
Có điều cũng chẳng sao. Sáu quy tắc căn bản của phù văn vốn “đơn giản”, xem sớm hay muộn một ngày cũng không ảnh hưởng gì.
Đảo lộn thứ tự như vậy vẫn có thể hiểu được.
Tài liệu vẫn do người viết tay, hệt như cuốn “Lý thuyết nhập môn phù văn học” hôm qua.
Cao Đức mở tài liệu ra. Thứ đầu tiên đập vào mắt hắn lại không phải hai chữ “phù văn”:
“Vạn vật trong trời đất đều có quỹ đạo riêng.
Gió lay động theo quỹ đạo của gió. Nước chảy theo quỹ đạo của nước. Mặt đất nứt ra theo quỹ đạo của mặt đất. Ngay cả ma lực hiện diện khắp nơi cũng có quỹ đạo riêng.
Những quỹ đạo ấy lúc ẩn lúc hiện, chẳng theo quy luật nào.
Nhưng đến một ngày, nếu gió thổi theo một quỹ đạo nhất định, nó sẽ hóa thành vòi rồng cuốn trời lấp đất.
Nếu nước chảy theo một quỹ đạo nhất định, nó sẽ dấy lên sóng lớn long trời lở đất.
Nếu mặt đất nứt ra theo một quỹ đạo nhất định, nó sẽ tạo nên biến đổi long trời lở đất.
Chúng ta gọi những biến đổi ấy là sức mạnh tự nhiên.
Sức mạnh tự nhiên rất lớn, nhưng con người không thể nắm giữ, ngoại trừ ma lực.
Không cần nghi ngờ, một khi ma lực chảy theo quỹ đạo nhất định, nó sẽ tạo ra sức mạnh còn đáng sợ hơn.
Vấn đề là, làm sao chúng ta khống chế được nguồn ma lực mạnh mẽ ấy?
Đáp án đầu tiên là pháp thuật.
Pháp sư chuyển ma lực thành pháp lực trong cơ thể, rồi dùng mô hình pháp thuật khống chế quỹ đạo vận hành của pháp lực, từ đó thi triển những pháp thuật mang hiệu quả khác nhau.
Nhưng đó không phải cách duy nhất.
Pháp lực của pháp sư luôn có giới hạn. Mà pháp lực hữu hạn cũng quyết định sức mạnh tự nhiên pháp sư có thể khống chế chỉ đến một mức nhất định.
Trong khi đó, sức mạnh của tự nhiên là vô tận.
Có cách nào mượn dùng nguồn sức mạnh tự nhiên vô tận ấy không?
Rất đơn giản.
Bắc cầu. Dùng tri thức và trí tuệ, dựng một cây cầu giữa con người với tự nhiên.
Từ thuở con người còn ăn lông ở lỗ, các bậc hiền nhân đã dựa vào trí tuệ và tri thức của mình, từng bước lấy sức mạnh từ tự nhiên như thế.
Những trí tuệ và tri thức ấy chính là thứ ngày nay chúng ta thường gọi là phù văn.”
“Cách thiết kế khác nhau, vật liệu bắc cầu khác nhau, cây cầu dựng lên sẽ có sức chịu đựng khác nhau.”
“Phù văn sư chính là người thiết kế cầu.”
Sau một đoạn dẫn nhập dài dằng dặc, hai chữ “phù văn” cuối cùng cũng lần đầu xuất hiện trước mắt Cao Đức.
Hắn lặng thinh, tiếp tục đọc xuống.
“Ma lực giữa trời đất vận hành không theo quy luật.
Phù văn chính là cây cầu nối giữa phù văn sư với ma lực trời đất. Phù văn sư dựng cầu xong, chỉ cần mở lối, ma lực sẽ khiến gió nổi, nước dâng, sao dời, trời đất chuyển vần.
Bản chất của phù văn là cố định quỹ đạo vận hành của ma lực, khiến nó đi theo một tuyến đường đã định.
Nhiều phù văn căn bản có thể hợp thành phù văn phức hợp. Nhiều phù văn phức hợp có thể tạo thành ma pháp trận.
Còn ma pháp trận chính là hình thái hoàn chỉnh nhất của phù văn, cũng là một hệ thống trọn vẹn.”
“Phù văn căn bản là nền móng của ma pháp trận, là khởi đầu của phù văn học.”
“Phù văn căn bản tồn tại trong thế gian đã vượt quá tám vạn loại, hơn nữa vẫn không ngừng sinh ra loại mới.”
“Nhưng phần lớn phù văn căn bản đều rất ít dùng. Số phù văn căn bản thực sự thường dùng chỉ vào khoảng ba nghìn bảy trăm loại.”
“Một phù văn sư đạt yêu cầu chỉ cần nắm vững từ một nghìn đến hai nghìn phù văn căn bản.”
“Bởi vì một nghìn phù văn căn bản sau khi phối hợp có thể đáp ứng chín phần mười nhu cầu. Hai nghìn phù văn căn bản sau khi phối hợp có thể đáp ứng chín mươi chín phần trăm nhu cầu.”
Đoạn giới thiệu này khiến Cao Đức nảy sinh cảm giác quen thuộc mãnh liệt.
Hắn dừng lại, suy nghĩ cẩn thận một hồi, cuối cùng cũng hiểu ra.
Chẳng phải nó giống hệt chữ Hán ở kiếp trước của hắn sao?
Số lượng chữ Hán hiện nay đã vượt quá mười vạn, nhưng những chữ thật sự thường dùng chỉ khoảng ba nghìn.
Một nghìn chữ Hán thông dụng có thể đáp ứng hơn chín mươi phần trăm nhu cầu diễn đạt. Hai nghìn chữ Hán thông dụng có thể đáp ứng chín mươi chín phần trăm nhu cầu.
Hơn nữa, trong điều kiện không ngừng xuất hiện sự vật mới, hai nghìn chữ thông dụng vốn đã tồn tại từ lâu vẫn có thể dựa vào cách sắp xếp, kết hợp để diễn đạt hoàn chỉnh.
Chẳng hạn, hai chữ “điện” và “não” đều đã tồn tại từ nghìn năm trước. Đến nghìn năm sau, ghép chúng lại là có thể dùng để chỉ một sự vật mới vừa ra đời, đó là “máy tính”.
Phù văn căn bản cũng mang ý nghĩa tương tự.
Liên tưởng như vậy, Cao Đức lập tức hiểu được tầm quan trọng của phù văn căn bản.
Không cần nói cũng biết, muốn nhập môn phù văn học cũng giống như muốn viết được một bài văn thì trước hết phải biết mặt chữ. Hắn cần nắm vững những phù văn căn bản thường dùng trước đã.
Đọc tiếp xuống dưới, quả nhiên đúng như vậy. Chỉ có một điểm hơi khác:
“Phù văn căn bản được chia thành tám cấp, từ phù văn căn bản cấp không đến phù văn cấp bảy.”
“Bước đầu tiên để trở thành phù văn sư: nắm vững sáu trăm năm mươi mốt phù văn căn bản cấp không thường dùng.”
Đến đây, phần mở đầu của “Nhập môn phù văn” kết thúc.
Phần tài liệu phía sau là hình mẫu cùng lời giải thích cấu tạo của những phù văn căn bản cấp không thường dùng.
Có điều, tài liệu không liệt kê đủ sáu trăm năm mươi mốt phù văn căn bản cấp không, mà chỉ có mười loại.
Cao Đức lập tức hiểu ra. Mười phù văn căn bản cấp không này chính là “bài tập hôm nay” của hắn.
Cũng giống những bài tập sau buổi học trong tài liệu hôm qua.
Bên cạnh tài liệu còn có một xấp giấy ma pháp căn bản để trắng, một cây bút phù văn căn bản và một lọ mực ma pháp căn bản.
Đó chính là “văn phòng phẩm” Hà Tây chuẩn bị cho Cao Đức.
Phù văn căn bản cấp không đầu tiên được giới thiệu trong tài liệu có tên “Tụ Ma cấp không”. Tác dụng của nó cũng rất đơn giản, đó là gom tụ ma lực trong trời đất.
Thế nhưng chính nhờ công dụng đơn giản ấy, phù văn “Tụ Ma cấp không” đã trở thành loại phù văn căn bản gần như không thể thiếu trong mọi ma pháp trận.
Hơn nữa, hình phù văn của “Tụ Ma cấp không” cũng chẳng hề đơn giản.
Dù chỉ là phù văn căn bản cấp không như lời tài liệu nói, cấu tạo của nó vẫn rối rắm vô cùng.
Mà chuyện này không có đường tắt.
Chỉ có thể không ngừng mô phỏng, ghi nhớ, rồi thông hiểu và vận dụng.
Cao Đức thậm chí chẳng dành lấy một giây để sợ hãi trước việc học gian nan sắp bắt đầu.
Tâm trí hắn lập tức dồn cả vào hình phù văn “Tụ Ma cấp không” cùng phần giải thích cấu tạo trong “Nhập môn phù văn”, không còn chứa thứ gì khác.
“Nhập môn phù văn” là tài liệu viết tay, hiển nhiên do chính Hà Tây · Áo Khẳng Lợi viết.
Vị phù văn sư đứng đầu học viện này chắc chắn đã nắm kiến thức phù văn học vô cùng vững vàng. Vì thế, phần giải thích cấu tạo của cả hình phù văn vừa ngắn gọn, vừa rõ ràng dễ hiểu.
Cao Đức chăm chú đọc. Chẳng bao lâu, hắn đã đọc xong lượt đầu tiên.
Sau đó, hắn khép tài liệu lại, bắt đầu suy ngẫm và hồi tưởng.
Khoảng ba mươi giây trôi qua, Cao Đức lại mở tài liệu ra, đọc lại những chỗ còn mơ hồ hoặc chưa hiểu rõ trong lúc hồi tưởng và suy nghĩ vừa rồi.
Lần này, thời gian hắn cần ngắn hơn lượt đầu.
Rồi hắn lại khép tài liệu, tiếp tục suy ngẫm, hồi tưởng.
Hai mươi giây sau, hắn lại mở ra, tiếp tục đọc.
Cứ lặp đi lặp lại như thế bảy tám lần, Cao Đức một lần nữa khép tài liệu. Hắn hồi tưởng lại toàn bộ nội dung, lần này ý nghĩ trôi chảy, không còn vướng mắc hay ngập ngừng ở bất kỳ chỗ nào.
Hình phù văn cũng được hắn ghi nhớ bằng phương pháp tương tự.
Trong xưởng phù văn yên tĩnh, chỉ còn tiếng giấy sột soạt vang lên mỗi khi Cao Đức lật tài liệu.
Đến lần cuối cùng khép “Nhập môn phù văn”, hắn không mở nó ra nữa.
Cao Đức hít sâu một hơi, cầm lấy bút phù văn. Sau khi nhúng mực ma pháp cho thấm đều, hắn trải một tờ giấy ma pháp ra trước mặt rồi chính thức hạ bút.
Đây là lần đầu Cao Đức mô phỏng phù văn. Hắn nín thở, ánh mắt tập trung, vẻ mặt nghiêm túc.
Cùng lúc đó, pháp lực trong cơ thể truyền từ lòng bàn tay vào cây bút phù văn. Qua ngòi bút, pháp lực hòa cùng mực ma pháp, đều đặn và vững vàng rơi xuống mặt giấy.
Lúc mới hạ bút, Cao Đức còn hết sức thận trọng, lo mình sẽ thất bại.
Nhưng ngay khi ngòi bút chạm giấy, mọi tạp niệm trong đầu hắn bỗng biến mất sạch. Trong tâm trí chỉ còn hình phù văn cùng phần cấu tạo tương ứng.
Cao Đức đã hoàn toàn chìm vào việc vẽ phù văn căn bản “Tụ Ma cấp không”.
Trong giới pháp sư có một câu nói được truyền đi rất rộng:
“Pháp thuật là lĩnh vực riêng tư, chỉ mở cửa cho thiên tài.”
Nhưng trong lĩnh vực phù văn học, thiên tài chẳng qua chỉ là tấm vé bước vào cửa.
Nơi này không chỉ cần thiên phú vượt trội, mà còn đòi hỏi năng lực khống chế xuất sắc, sức sáng tạo nổi bật, tinh thần lực mạnh mẽ, trí nhớ tốt, khả năng tập trung cùng lòng kiên nhẫn đầy đủ.
Và cả một tâm hồn thuần túy.
Đối với việc học, Cao Đức trước nay vẫn luôn thuần túy như vậy.
Cùng lúc ấy, trong căn phòng chỉ cách hắn một cánh cửa.
Hà Tây, người thầy mà Cao Đức vẫn chưa từng gặp mặt, đặt cây bút phù văn và tờ giấy ma pháp trong tay xuống.
Trên tờ giấy ma pháp là một hình phù văn trong mắt người ngoài chẳng khác gì thiên thư. Nó phức tạp hơn hình phù văn “Tụ Ma cấp không” chẳng biết bao nhiêu lần, nhưng lại hiện ra như một tác phẩm nghệ thuật.
Lão già nhìn hình phù văn rắc rối trước mắt, chìm vào suy tư sâu sắc.
Đây không phải một lần thử nghiệm ma pháp trận thông thường. Đó là hình phù văn kiểm tra do lão tạo ra nhằm suy luận “hằng số nhiễu”.
Trong đó bao gồm việc kiểm tra giá trị bền vững chính xác đến chữ số thập phân thứ tư, các cấp độ tăng năng lượng theo quy luật, cùng hàng loạt biến thiên logarit phức tạp của phù văn và nhiễu.
Những thứ ấy chẳng dễ xử lý.
Chúng đòi hỏi khối lượng tính toán khổng lồ, nền tảng phù văn học cực kỳ vững chắc, cùng số lần thí nghiệm nhiều đến kinh người.
Ngay cả Hà Tây · Áo Khẳng Lợi, người đã đắm mình trong lĩnh vực phù văn học suốt mấy trăm năm và tự mình suy luận ra sáu, nói chính xác hơn là năm phẩy năm, quy tắc căn bản của phù văn học, lúc bắt đầu cũng đau đầu vì chuyện này.
Chỉ cần nghĩ đến lượng thí nghiệm khổng lồ phải tiến hành, lão đã cảm thấy chẳng biết nên bắt đầu từ đâu.
Lão thậm chí từng nghi ngờ, trong quãng đời còn lại của mình, liệu có thể hoàn thành hết những thí nghiệm ấy, suy luận ra “hằng số nhiễu” hay không.
Nhưng lão hiểu rõ, hằng số này ảnh hưởng đến việc sáu quy tắc căn bản của phù văn học có thể đứng vững hay không. Nó cũng che giấu bí mật cốt lõi nhất trong cách sắp xếp phù văn.
Vì vậy, sau khi ổn định tinh thần, Hà Tây lại cầm xấp giấy bút thường đặt bên cạnh lên, tiếp tục ghi chép số liệu.
Con đường này chỉ vừa bắt đầu.
Có đi được đến cuối hay không là chuyện về sau.
Cứ bước tiếp về phía trước là được.
Đối với phù văn, lão trước nay vẫn luôn thuần túy như vậy.
Một người là lão già đã đắm mình trong lĩnh vực phù văn học suốt mấy trăm năm, một bậc chuyên gia thực thụ.
Một người là thiếu niên mới tiếp xúc với phù văn học vừa tròn một ngày, còn là kẻ đứng ngoài cửa hoàn toàn chưa hiểu gì.
Hai người, bất kể tuổi tác, thân phận hay học thức, đều cách nhau một trời một vực. Thế nhưng giờ đây, họ lại “ở chung một phòng”, cùng dốc sức vì một việc.
Khoảng cách giữa họ chỉ là một cánh cửa mà thôi.