Kịch bản được duyệt, Trần Kỳ vẫn có thể tiếp tục ở nhà khách.
Công việc của hắn chuyển từ viết kịch bản sang phối hợp với đoàn phim. Mỗi ngày vẫn được trợ cấp hai đồng.
Xưởng phim Bắc Ảnh sẽ chọn một đạo diễn. Đạo diễn lại chọn diễn viên, rồi còn phải chuẩn bị đủ thứ trước khi khởi quay. Từ giờ đến lúc bấm máy còn lâu lắm.
Không cần chạy theo tiến độ, cũng chẳng chịu áp lực từ nhà đầu tư hay thứ danh tiếng rẻ tiền nào. Tất cả chỉ nhằm làm ra một tác phẩm tử tế.
Đơn giản như đóng vai nông dân thì diễn viên phải về nông thôn sống thử. Đóng vai công nhân thì phải xuống nhà máy. Đóng vai ngư dân thì phải lênh đênh ngoài biển, tự mình nếm trải cảnh đánh cá là thế nào…
Chẳng ai xem những chuyện ấy là vinh quang để đem ra khoe khoang. Đó vốn là việc hết sức bình thường.
Về sau, một số diễn viên giỏi vẫn giữ được truyền thống này. Chỉ có các minh tinh thần tượng thì chịu thua. Vai của họ toàn là tổng giám đốc bá đạo với cô vợ kiều diễm, cần gì phải trải nghiệm?
Trừ phi đóng vai người nghèo, khi ấy họ sẽ cho chúng ta được mở mang tầm mắt. Thế rồi chúng ta được thấy những người nghèo “mỗi tháng kiếm ba nghìn đồng ở Thượng Hải, thuê nhà bên bờ sông Hoàng Phố, ngày nào cũng ăn mì gói Thang Đạt Nhân”.
Nói lại chuyện chính, thời này diễn viên chưa có cát-xê.
Diễn viên thuộc các đơn vị văn nghệ khác nhau, mỗi tháng đều lĩnh lương. Đóng phim là phận sự của họ, nói nặng hơn thì đó là nhiệm vụ quốc gia. Đã vậy, làm sao có chuyện nhận thù lao riêng? Dù thế, mỗi ngày họ vẫn được trợ cấp khoảng năm hào đến một đồng.
Lưu Hiểu Khánh, Phan Hồng, Đường Quốc Cường… Dù nổi tiếng đến đâu cũng chỉ nhận mức ấy.
Phải đến thập niên tám mươi, diễn viên mới bắt đầu có thù lao.
So với họ, biên kịch, thậm chí trong cả ngành điện ảnh, mới là tầng lớp lương cao đúng nghĩa. Cao đến mức nào ư? Cao bằng cả tòa nhà ba bốn tầng!
Chẳng hạn vào thập niên năm mươi, nhà nước quy định người viết nhạc và lời ca được tính tiền theo từng bài. Mỗi bài nhận từ 10 đến 20 đồng. Bài “Mười lăm vầng trăng”, ca khúc từng vang khắp đất nước, tác giả được trả 15 đồng. Về sau còn vì chuyện ấy mà kiện tụng một phen.
Thơ thì cứ 20 dòng tính thành 1.000 chữ, mỗi nghìn chữ được trả từ 10 đến 20 đồng.
Bởi vậy,
bạn hiểu rồi chứ,
vì sao thơ các thi sĩ
đều viết
thành
từng dòng một.
Cổ Long cũng chẳng khác gì người chuyên viết để lấy tiền nhuận bút. Ông ta tính tiền theo dòng, thế nên mới có lối văn thế này:
Đêm
Đêm lạnh
Một ngọn đèn cô độc leo lét như hạt đậu.
Nhuận bút tiểu thuyết và các tác phẩm khúc nghệ cũng xấp xỉ như vậy. Chỉ riêng kịch bản điện ảnh là ngoại lệ. Khi ấy, mỗi bộ được trả từ 3.000 đến 8.000 đồng, đúng là giá trên trời!
Sang thập niên sáu mươi, mức thù lao có giảm xuống, nhưng vẫn cao đến mức người thường không dám nghĩ tới.
Kịch bản phim truyện dài được trả từ 2.000 đến 6.000 đồng một bộ. Phim truyện ngắn thì từ 1.000 đến 3.000 đồng. Đạo diễn phim truyện dài nhận từ 500 đến 1.500 đồng, phim truyện ngắn nhận từ 300 đến 700 đồng.
Thú vị nhất là tiền âm nhạc. Nếu chỉ sáng tác riêng một bài hát, người viết được trả hơn chục đồng.
Nhưng nếu làm nhạc phim hoặc viết ca khúc cho điện ảnh, nhạc sĩ có thể nhận từ 300 đến 800 đồng, người viết lời nhận từ 50 đến 100 đồng.
Có thể nói, hễ dính dáng đến điện ảnh thì chẳng khác nào bước vào tầng lớp lương cao.
Nhà nước vẫn luôn coi trọng điện ảnh. Ngay cả Mao Chủ tịch cũng từng đích thân phê phán bộ phim Võ Huấn Truyện. Suy cho cùng, nguyên nhân chẳng có gì khác ngoài việc điện ảnh còn đảm nhận một chức năng khác: công cụ tuyên truyền tư tưởng.
“Cốc cốc cốc!”
Giang Hoài Diên gõ cửa phòng giám đốc xưởng, đưa vào một bản báo cáo rồi nói:
- Đây là ý kiến về tiền nhuận bút kịch bản Lư Sơn Luyến. Phòng Văn học chúng tôi đã nhất trí thông qua.
- Để tôi xem!
Uông Dương cầm văn kiện lên đọc, mỉm cười:
- Được đấy. Không cao không thấp, lại khuyến khích được người trẻ.
- Vậy chuẩn y nhé?
- Chuẩn y. Cậu sang phòng tài vụ làm thủ tục.
Giang Hoài Diên đáp lời, rồi hỏi tiếp:
- Ông định giao Lư Sơn Luyến cho ai quay?
- Chuyện này khó nói lắm!
Uông Dương nhíu mày, vẻ mặt đầy băn khoăn:
- Các cậu định vị nó là phim trữ tình phong cảnh. Trước đây chưa từng có thể loại này, cũng chẳng ai có kinh nghiệm. Giao cho đạo diễn lớn, tôi sợ họ quay quá nghiêm túc. Mà không khí của bộ phim vẫn phải trẻ trung, tươi tắn.
- Đúng vậy. Chúng tôi cũng nghĩ thế. Trai tài gái sắc, non nước hữu tình, tình yêu đẹp đẽ hòa cùng lòng yêu nước nồng nàn.
- Cứ nghiên cứu thêm đã, không cần vội.
Uông Dương ngừng một lát, chợt hứng thú hỏi:
- Tiểu Giang, cậu thấy cậu thanh niên viết kịch bản kia thế nào?
- Có tài, ngoại hình sáng sủa, tính tình khiêm nhường, lý lịch cũng tốt, không có quá khứ đen tối.
- Hôm chiếu Túy Quyền, tôi nghe cậu ta trò chuyện với người khác. Hình như cậu ta khá am hiểu phim giải trí. Tôi vẫn muốn xưởng phim làm thêm nhiều thể loại khác nhau, không thể lúc nào cũng chỉ quay những chuyện khổ sở, nặng nề. Khổ nỗi người hiểu nghề này chẳng có mấy ai.
- Ông lại tiếc người tài rồi phải không? Giang Hoài Diên cười hỏi.
- Dĩ nhiên là tôi tiếc người tài. Nhưng cậu ta còn trẻ quá, trẻ đến mức khiến tôi chưa yên tâm. Cứ quan sát thêm đã.
Hai người nói thêm vài câu, Giang Hoài Diên trở về phòng Văn học.
Ông bảo Lương Hiểu Thanh đi tìm Trần Kỳ. Chẳng bao lâu sau, Trần Kỳ đã tới nơi, lên tiếng:
- Chủ nhiệm Giang, kịch bản lại xảy ra chuyện gì à?
- Không có gì, đừng căng thẳng. Tôi muốn bàn với cậu chuyện nhuận bút.
Nhuận bút!
Mắt Trần Kỳ sáng lên.
Hắn cặm cụi lo cho cái kịch bản này chẳng phải vì hai mục đích đó sao? Một là được ở nhà khách, hai là kiếm tiền.
Thấy vẻ mặt của hắn, Giang Hoài Diên trêu:
- Tôi còn tưởng cậu sẽ bảo mình làm việc vì nhân dân, không cần tiền nhuận bút chứ!
- Tôi đâu phải thánh nhân. Bỏ công sức ra thì đương nhiên muốn nhận lại chút gì đó. Hơn nữa, tôi cũng muốn đem tiền về cho cha mẹ xem, để họ được vui. Nếu một ngày tôi thật sự không còn ham muốn gì nữa, có lẽ lúc ấy tôi sẽ chẳng cần tiền thật.
- Ừm, thế mới là lời thật lòng.
Giang Hoài Diên gật đầu:
- Chuyện tiền công biên kịch, nói thế nào nhỉ, xưa nay vẫn khiến người ta thèm muốn. Sau đó nó bị gián đoạn hơn mười năm, mấy năm gần đây mới khôi phục. Nhà nước chưa ban hành mức mới, nên chúng ta thường tự bàn bạc với nhau.
- Trước kia, một kịch bản có thể nhận 6.000 đồng. Bây giờ dĩ nhiên không thể như thế nữa. Nhưng chúng tôi sẽ cân nhắc mọi mặt, cố gắng dành cho các cậu mức ưu đãi cao nhất.
- Với kịch bản chuyển thể, chúng tôi sẽ xem xét danh tiếng của tác giả và sức ảnh hưởng của nguyên tác. Sức ảnh hưởng càng lớn, tiền công càng cao. Kịch bản nguyên tác cũng tương tự. Cậu là tác giả trẻ, thông thường mức thù lao sẽ không quá cao.
- Tôi hiểu, tôi hiểu!
Trần Kỳ gật đầu lia lịa, trong bụng thầm tính: Năm trăm đồng? Hay bốn trăm? Tệ nhất thì cũng phải được ba trăm chứ…
- Sau nhiều lần cân nhắc, chúng tôi quyết định trả cho cậu 800 đồng nhuận bút!
Hít!
Trần Kỳ run bắn người.
Kiếp trước, hắn cũng từng là ông chủ. Vậy mà giờ nghe đến 800 đồng, hắn lại mừng đến mức gần như thất thố.
Mãi đến năm 1984, nhà nước mới ban hành tiêu chuẩn nhuận bút mới. Kịch bản phim truyện dài được trả từ 1.500 đến 4.000 đồng một bộ, phim truyện ngắn từ 750 đến 2.000 đồng.
Khi ấy, biên kịch quả thật thuộc tầng lớp lương cao. Đáng tiếc chẳng bao lâu sau đã bước vào thập niên chín mươi, làn sóng kinh doanh tràn tới. Các nhà văn kiếm tiền đầy túi, còn biên kịch điện ảnh vẫn khốn khổ nhận theo mức tiêu chuẩn cũ.
- Chủ nhiệm Giang, bao giờ tôi có thể lĩnh tiền?
- Làm xong thủ tục với phòng tài vụ thì cậu có thể đi nhận ngay.
- Tốt quá, tốt quá!
Nhìn vẻ mặt hớn hở của hắn, Giang Hoài Diên hoàn toàn hiểu được. Đó là 800 đồng đấy!
Năm 1979, thu nhập bình quân mỗi tháng của công nhân viên chức thành thị ở thủ đô là 61,8 đồng. Nhớ kỹ, đó là công nhân viên chức thành thị, không tính nông dân. Người dân quê mỗi tháng kiếm được 30 đồng đã là khá lắm rồi, vùng nghèo thậm chí chỉ được hơn chục đồng.
- Cậu cứ ở nhà khách trước đi. Xưởng sẽ lần lượt lo liệu mọi việc, có chuyện gì chúng tôi sẽ gọi.
- Vậy là tôi được tự do đi lại rồi?
- Ha ha, trước mắt cậu chưa có nhiệm vụ. Không về nhà thăm cha mẹ sao?
- Dĩ nhiên là phải về rồi. À này, Chủ nhiệm Giang, kịch bản Lư Sơn Luyến có thể đăng trên tạp chí Sáng tác Điện ảnh số tháng sau không? Tôi muốn mang về cho cha mẹ xem.
- Được chứ, không vấn đề gì.
- Thế thì tốt quá!
Trần Kỳ yên tâm hẳn.
Bây giờ đang là tháng năm, tháng sau là tháng sáu. Như vậy sẽ không đụng với tác giả nguyên tác.
Hắn ra khỏi phòng, lập tức chạy đến phòng tài vụ nhận tiền.
Bấy giờ người ta đang dùng tiền nhân dân tệ loại thứ ba. Mệnh giá cao nhất chỉ có 10 đồng, mặt trước in hình các đại biểu nhân dân bước ra khỏi hội trường. Vì thế, loại tiền này có một tên gọi dân gian là “đại đoàn kết”.
Nhắc đến “đại đoàn kết”, năm ấy Trần Kỳ mới hơn mười tuổi. Hắn vô tình mở một trang văn học trên mạng, trong đó tác phẩm nào cũng đặc sắc, nhân vật chính nào cũng khiến người ta nhớ mãi.
Có cậu thiếu niên ngây ngô, thành tích trung học chẳng ra sao. Có cô giáo đáng thương bị đàn ông ức hiếp. Có vị thái tử Đông Hưng lăn lộn giữa giới giang hồ và thương trường. Thậm chí còn có những kỵ sĩ phương Tây, những nàng Kim Thoa trong Hồng Lâu Mộng, Hoàng Dung sau khi sinh con, rồi Lạc Băng góa chồng…
800 đồng được đựng trong một phong bì dày cộp.
Trần Kỳ trở về nhà khách. Chẳng bao lâu sau, Lương Hiểu Thanh và Cát Ưu cùng tới. Lương Hiểu Thanh còn mang theo một chiếc búa nhỏ, khiến hắn ngẩn ra.
- Cậu đem thứ này theo làm gì?
- Đi gửi tiền với cậu chứ còn gì! Có từng ấy tiền mà cậu không đem gửi đi à? Tôi mang theo thứ này, lỡ có chuyện còn chống đỡ được đôi chút.
Trần Kỳ câm nín.
Hắn sờ sờ mũi. Đã lớn tuổi thế này rồi, cần gì phải thật lòng thật dạ với nhau đến mức ấy? Nghĩ vậy, trong lòng hắn lại thấy cảm động.
Cát Ưu thì ngập ngừng muốn nói lại thôi. Cuối cùng vẫn không nhịn được, lên tiếng:
- À… tôi xem thử được không?
- Xem gì? Tiền à?
Trần Kỳ chẳng để tâm, lấy phong bì ra rồi mở cho hai người nhìn xấp tiền dày bên trong.
- Ôi trời, ôi trời!
Hai mắt Cát Ưu sáng rực. Cứ như số tiền ấy do chính hắn kiếm được vậy. Gã kích động xoa tay, đi vòng quanh phòng:
- Nhiều tiền thế này sao? Lần đầu tiên tôi được thấy từng ấy tiền đấy! Hôm nay tôi cũng có việc, đến đây thôi…
Chúc mọi người mùng Một tháng Năm vui vẻ! Mọi người đều ra ngoài chơi cả rồi phải không?