Lại nói Trương Long, Triệu Hổ áp giải Bàng Dục về đến nhà khách quan. Hai người lập tức đưa y lên công đường.
Bao Công thấy cổ Bàng Dục còn mang khóa sắt, vội truyền:
- Các ngươi thật chẳng hiểu phép tắc gì cả! An Lạc Hầu há lại có thể khóa như phạm nhân hay sao? Còn không mau tháo ra!
Đám sai dịch vội bước lên mở khóa. Bàng Dục đến lúc ấy bất giác muốn quỳ xuống. Bao Công khoát tay:
- Không cần làm thế. Dẫu rằng không thể vì tình riêng mà bỏ phép công, nhưng ta và Bàng thái sư vốn có nghĩa thầy trò, hai nhà lại là chỗ thân tình lâu đời. Ngươi với ta cũng xem như anh em đồng khoa. Chẳng qua vì vụ án này, đôi bên phải đối chất cho rõ. Ngươi cứ khai đúng sự thật, mọi người mới còn biết đường mà liệu. Chớ vì sợ tội mà quanh co né tránh.
Dứt lời, Bao Công sai đưa mười vị phụ lão, Điền Trung, Điền Khởi Nguyên cùng những người phụ nữ bị cướp bắt lên công đường ngay.
Bao Công cầm từng đơn kiện một, lần lượt hỏi rõ. Bàng Dục nghe những lời vừa rồi, lại thấy Bao Công mặt mày hòa nhã, giọng điệu như có ý tìm cách cứu mình. Y thầm nghĩ: “Chi bằng cứ nhận hết cho xong. Rồi cầu xin Bao Hắc nể mặt cha ta mà giảm nhẹ tội, may ra còn thoát được.”
Nghĩ vậy, y liền nói:
- Khâm sai đại nhân không cần hỏi kỹ nữa. Những chuyện này đều do phạm quan nhất thời hồ đồ mà gây nên. Bây giờ có hối hận cũng đã muộn. Chỉ xin đại nhân hạ bút mở lòng, phạm quan suốt đời ghi nhớ ơn đức!
Bao Công hỏi:
- Những việc ấy ngươi đã nhận tội, còn một chuyện nữa: Hạng Phúc là kẻ do ai sai đến?
Tên ác bá nghe hỏi thì sững người. Một lúc lâu sau, y mới đáp:
- Hạng Phúc là do thái thú Tưởng Hoàn sai tới. Phạm quan không biết gì hơn.
Bao Công truyền:
- Đưa Hạng Phúc lên đây!
Chẳng bao lâu, Hạng Phúc bước vào công đường. Dáng vẻ y vẫn bình thường, không hề có vẻ bị giam giữ.
Bao Công bảo:
- Hạng Phúc, ngươi hãy đối chất thẳng mặt với Hầu gia.
Hạng Phúc bước lên, nói với Bàng Dục:
- Hầu gia không cần che giấu nữa. Mọi chuyện, kẻ hèn này đã bẩm rõ với đại nhân cả rồi. Hầu gia cứ khai thật đi, đại nhân tự có phán đoán.
Bàng Dục thấy Hạng Phúc nói đến nước ấy, đành phải nhận y đúng là người do mình sai đi. Bao Công lập tức sai y viết lời nhận tội. Bàng Dục lúc này không thể không đặt bút.
Sau khi lời cung đã viết xong, tất cả người làm chứng cũng lần lượt được đưa lên. Bao Công bảo từng nhà đến nhận người thân. Có cha nhận con gái, có anh nhận em gái, có chồng nhận vợ, có mẹ chồng nhận con dâu. Người nọ chen người kia, tiếng khóc vang lên thảm thiết, nghe mà đứt ruột.
Bao Công truyền cho mọi người đứng chờ phán quyết ở hai bên bậc công đường, rồi sai người đi mời thái thú mau đến.
Sau đó, Bao Công quay sang Bàng Dục:
- Những việc ngươi gây ra, theo phép phải giải về kinh. Nhưng đường sá xa xôi, e rằng ngươi còn phải chịu nhiều khổ sở dọc đường. Vả lại, khi về đến kinh thành, vụ án cũng phải giao cho Tam pháp ty xét xử. Đến lúc ấy, da thịt ngươi khó tránh khỏi đòn roi. Nếu Thánh thượng nổi giận, tất sẽ giáng tội nặng. Khi ấy, ngươi còn biết xoay xở thế nào? Chi bằng ta xử ngay tại đây cho gọn. Ngươi thấy thế có được không?
Bàng Dục vội đáp:
- Mọi việc xin để đại nhân định đoạt. Phạm quan nào dám trái lệnh?
Bao Công lập tức sa sầm mặt, đôi mắt sáng quắc như hổ. Ông truyền:
- Mang hình cụ ngự ban ra đây!
Chỉ ba tiếng ấy vang lên, đám sai dịch hai bên đồng loạt quát lớn. Uy thế công đường rung chuyển.
Bốn nha dịch khiêng máy chém đầu rồng vào giữa sảnh, đặt ngay ngắn. Vương Triều bước lên giũ tung tấm vải thêu rồng, để lộ lưỡi chém mới tinh, ánh vàng lóe lên lạnh buốt, khiến người ta nhìn mà rợn tóc gáy.
Bàng Dục vừa trông thấy đã sợ đến hồn xiêu phách lạc. Y còn chưa kịp mở miệng, Mã Hán đã nhào tới quật ngã xuống đất.
Bốn nha dịch xông lên, nhét miếng gỗ vào miệng y, lột phăng quần áo, rồi trải một tấm chiếu cói ra. Bàng Dục lúc này còn sức đâu mà giãy giụa? Chúng lập tức cuộn y vào trong chiếu, lấy dây thừng buộc chặt ba vòng.
Trương Long và Triệu Hổ khiêng Bàng Dục đến trước máy chém, đặt vào miệng chém, chỉnh cho hai đầu cân nhau.
Mã Hán và Vương Triều quay lưng về phía trong, tay trái nắm chặt cán dao, tay phải đè lên sống lưỡi, cùng ngước mắt nhìn Bao Công trên ghế xử án.
Bao Công phất tay áo, nghiêng đầu một cái, lạnh lùng thốt:
- Hành hình!
Vương Triều bật người lên, dồn hết sức vào hai cánh tay. Chỉ nghe một tiếng “rắc” khô khốc, lưỡi chém hạ xuống. Tên ác bá lập tức bị chém ngang lưng, thân thể đứt làm hai đoạn, hai đầu đều ngay ngắn.
Bốn nha dịch vội chạy lên công đường. Người nào cũng quấn quanh eo một dải vải trắng. Chúng chia nhau trước sau, đỡ thi thể lên, ôm xuống khỏi máy chém.
Trương Long, Triệu Hổ lại lấy vải trắng lau sạch máu trên lưỡi chém. Dưới bậc công đường, Điền Khởi Nguyên cùng người hầu Điền Trung, các vị phụ lão, đám phụ nữ trong thôn đều tận mắt thấy Bàng Dục bị chém. Bấy giờ họ mới hiểu Bao đại nhân quả thật một lòng vì nước, ra tay trừ hại cho dân. Người thì chắp tay niệm Phật, người thì hả lòng hả dạ, cũng có kẻ nhát gan không dám nhìn cảnh hành hình.
Bao Công truyền tiếp:
- Đổi hình cụ ngự ban đi, rồi bắt Hạng Phúc cho ta!
Chỉ nghe một tiếng “bắt”, đám sai dịch hai bên lập tức vươn tay tóm lấy Hạng Phúc.
Vừa thấy Bàng Dục bị chém, trong lòng Hạng Phúc đã đập thình thịch. Nay lại bị bắt, y sợ đến mềm nhũn chân tay, vội kêu lớn:
- Kẻ hèn này phạm tội gì?
Bao Công đập mạnh thanh gỗ xuống mặt án, quát:
- Đồ phản phúc kia! Ta là khâm sai phụng mệnh triều đình. Ngươi dám kéo đến hành thích ta. Hành thích khâm sai chính là phản nghịch triều đình, vậy mà còn dám nói mình vô tội ư? Ngươi vẫn còn muốn cầu sống sao?
Hạng Phúc cứng họng, không sao đáp được.
Đám sai dịch bước lên, lột quần áo, nhét miếng gỗ vào miệng y, rồi kéo một tấm chiếu thô đến cuộn chặt lại.
Lúc ấy, máy chém đầu chó đã được đặt sẵn. Hạng Phúc, kẻ bạc nghĩa vô lương, bị đem ra hành hình. Sau đó, người ta lau sạch máu trên máy chém, quét dọn công đường, thu xếp mọi thứ đâu vào đấy.
Chẳng bao lâu, người được sai đi gọi thái thú vào công đường quỳ xuống bẩm:
- Kẻ hèn này phụng lệnh đi triệu thái thú. Nào ngờ Tưởng Hoàn sợ tội, đã thắt cổ chết rồi.
Bao Công nghe xong, lạnh lùng nói:
- Đúng là để hắn chết quá dễ dàng!
Ông lập tức sai người khác đến khám nghiệm thi thể.
Kế đó, Bao Công truyền Điền Khởi Nguyên lên công đường, nghiêm giọng răn dạy:
- Ngươi không nên để vợ tự ý lên chùa thắp hương, để rồi sinh ra tai họa này. Từ nay về sau, trong nhà phải giữ gìn phép tắc nghiêm cẩn. Ngươi hãy đến am Quan Âm đón vợ về. Điền Trung là người hầu già, vì chủ mà đi kêu oan, ngươi phải đối đãi tử tế với ông ta. Từ nay lo chuyên tâm học hành, mong ngày sau đỗ đạt tiến thân. Còn những đồ đạc quý giá trong kiệu, hẳn đều là tài sản riêng của nhà ngươi, không cần khám xét nữa, cứ giao hết cho Điền Trung quản lý.
Bao Công lại bảo các vị phụ lão:
- Mỗi người đưa phụ nữ nhà mình trở về, từ nay an phận làm ăn, sống cho yên ổn. Ta còn phải cho người kiểm tra từng hộ, ghi rõ tên tuổi, rồi phát chẩn cứu đói theo lẽ công bằng, để dân chúng bớt khổ. Như vậy mới không phụ tấm lòng thương dân sâu nặng của Thánh thượng.
Mọi người đồng loạt dập đầu tạ ơn, rồi vui mừng kéo nhau ra về.
Bao Công lập tức sai Công Tôn Sách soạn bản tấu, tự mình xem qua. Những đơn kiện và lời nhận tội ban đầu cũng được niêm phong cẩn thận. Bên ngoài kèm thêm một tờ trình, xin triều đình bổ nhiệm người thay vào chức thái thú còn khuyết. Tất cả được chuyển đi ngay trong ngày, mang về kinh tâu trình.
Đồng thời, Bao Công ban lệnh cho người được cử đi kiểm tra hộ khẩu, phát chẩn cứu đói. Dân chúng khắp nơi cảm phục ơn đức, tiếng hoan hô vang dậy trên đường.
Một hôm, chiếu chỉ thăng chức từ kinh thành truyền về. Bao Công cung kính đón nhận, làm lễ bái tạ rồi mở ra xem. Trên chiếu có lời phê son, khen ngợi ông hết lời:
“Bao Công xử việc chí công vô tư, mọi điều làm đều rất phải. Chức thái thú còn khuyết, lập tức chọn người thích hợp để bổ nhiệm.”
Bao Công đọc xong, thầm nghĩ:
“Thánh thượng dẫu ban ơn hậu hĩnh, nhưng lão tặc Bàng Cát đang ở kinh thành. Ta đã chém đứa con yêu quý của lão, lão há chịu dễ dàng bỏ qua? Ắt hẳn lão đã ngấm ngầm gièm pha trước mặt Thánh thượng, khiến người tạm thời yên lòng, chờ đến khi ta về kinh rồi mới tìm cách hãm hại. Lão tặc kia, lão tặc kia! Bao mỗ ta làm việc ngay thẳng, một lòng vì nước, há lại sợ những trò ma quỷ lén lút của lão hay sao? Nhân lúc quyền hành vẫn còn trong tay, sau khi phát chẩn xong, ta phải đi khắp nơi dò xét, điều tra thêm. Một là không phụ triều đình, hai là trừ hại cho dân, ba là cũng để bày tỏ chí lớn trong lòng Bao mỗ.”
Chẳng ngờ Bao Công vừa nghĩ đến đó, quả nhiên một chuyện kinh thiên động địa lập tức xảy ra.
Các bạn thử đoán xem đó là chuyện gì?
Từ khi Bao Công làm việc công bằng, phát chẩn cứu đói xong xuôi, ông đã quyết tâm đi khắp nơi điều tra, nên không chịu trở về theo con đường cũ, mà đặc biệt chọn một lối khác.
Một ngày kia, đoàn người đi đến nơi gọi là phía đông cầu Thảo Châu. Bao Công ngồi kiệu thong thả tiến bước. Bất chợt, trong kiệu vang lên một tràng tiếng “cót két” hỗn loạn.
Người khiêng kiệu vội hạ kiệu xuống đất. Bao Hưng chạy đến xem xét kỹ, thấy cả hai đòn kiệu đều đã nứt. May mà kiệu vừa được hạ xuống nền đất vững, nếu chậm một chút, hai đòn có thể cùng gãy rời.
Bao Hưng vội bẩm báo. Bao Công truyền dắt ngựa lại.
Con ngựa vừa được đưa đến, Bao Công mới chống tay lên yên định bước lên thì nó bỗng hí vang một tiếng, né sang bên. May có Lý Tài đang đứng phía ngoài giữ bàn đạp, vội vàng ghìm cương lại.
Bao Công thầm nghĩ:
“Con ngựa này đã theo ta nhiều năm. Nó có ba lúc nhất định không chịu đi: gặp kẻ xấu thì không đi, gặp oan hồn thì không đi, gặp kẻ ám sát thì không đi. Chẳng lẽ nơi đây đang có chuyện gì bất thường?”
Ông giữ chặt dây cương, rồi sai Bao Hưng gọi người địa phương đến hỏi.
Chẳng bao lâu, một người địa phương chạy tới trước ngựa, quỳ xuống. Bao Công liếc mắt nhìn, thấy người ấy chừng ba mươi tuổi, tay cầm một cây tre.
Người ấy dập đầu, nói:
- Kẻ hèn này là người coi việc trong vùng, tên Phạm Tông Hoa, xin bái kiến khâm sai đại nhân.
Bao Công hỏi:
- Nơi này tên là gì?
Phạm Tông Hoa đáp:
- Đây không phải sông, mà gọi là cầu Thảo Châu. Tuy có tên là cầu, nhưng chẳng có cây cầu nào cả, cũng chẳng thấy cỏ đâu. Không biết thuở trước người ta đặt tên thế nào, đến kẻ hèn này cũng lấy làm khó hiểu…
Đám sai dịch hai bên quát dẹp đường:
- Bớt lời! Bớt lời!
Bao Công lại hỏi:
- Ở đây có nhà khách quan không?
Phạm Tông Hoa đáp:
- Nơi này tuy là đường lớn người qua kẻ lại, nhưng chẳng phải thị trấn hay bến trạm, chỉ là chốn hoang vắng hẻo lánh. Làm sao có nhà khách quan được? Vả lại, đây cũng không phải trạm nghỉ…
Bao Hưng ngồi trên ngựa nghe mãi sốt ruột, liền nói:
- Không có nhà khách quan thì cứ nói là không có là xong. Ngươi cần gì phải kể lể dài dòng như thế?
Bao Công dùng roi chỉ về phía trước, hỏi:
- Tòa nhà cao lớn kia là nơi nào?
Phạm Tông Hoa đáp:
- Đó là miếu Thiên Tề. Trong miếu có điện Bồ Tát, điện Lão Gia, điện Nương nương, bên hông còn có miếu Thổ Địa. Chỉ có một đạo sĩ trông coi. Nơi đây ít người dâng hương, nên cũng chẳng nuôi nổi nhiều người…
Bao Hưng cau mày:
- Ngươi lắm lời quá! Ai hỏi ngươi những chuyện ấy?
Bao Công truyền:
- Quát dẹp đường đến miếu Thiên Tề!
Đám người hai bên đồng thanh lĩnh mệnh. Bao Công kéo cương, thúc ngựa đi thẳng về phía miếu Thiên Tề.
Bao Hưng lên ngựa, giật nhẹ dây cương, chạy trước đến miếu. Chàng xua hết những người không phận sự ra ngoài, rồi dặn đạo sĩ:
- Khâm sai đại nhân đi ngang qua đây, không cần chuẩn bị trà nước gì cả. Sau khi lo hương khói xong, các ngươi mau tránh đi. Đại nhân nhà ta thích yên tĩnh nhất.
Đạo sĩ liên tục vâng dạ.
Đang nói, Bao Công đã đến nơi. Bao Hưng vội bước lên đón lấy dây cương. Bao Công vào trong miếu, liền sai Lý Tài kê ghế xử án dưới hành lang phía tây.
Ông dẫn Bao Hưng vào chính điện. Đạo sĩ đã chuẩn bị đủ hương nến, cung kính hầu Bao Công thắp hương xong. Bao Hưng kín đáo ra hiệu, đạo sĩ lập tức lui ra tránh mặt.
Bao Công xuống khỏi điện, đi đến hành lang phía tây, ngồi vào ghế xử án. Ông truyền mọi người ra ngoài miếu nghỉ ngơi, chỉ giữ Bao Hưng ở bên cạnh, rồi bí mật sai gọi người địa phương vào.
Bao Hưng lặng lẽ gọi Phạm Tông Hoa đến. Anh ta lại cúi rạp người làm lễ với Bao Hưng. Bao Hưng nói:
- Ta thấy anh nhanh nhẹn, lanh lợi đấy, chỉ có điều nói năng dài dòng quá. Khi nãy đại nhân hỏi gì, anh cứ chọn chuyện gần nhất mà nói cho xong. Nào cành nào lá nào, kể lể một hồi dài dằng dặc, để làm gì?
Phạm Tông Hoa vội cười, thưa:
- Kẻ hèn này chỉ sợ thưa không rõ ràng, khiến đại nhân nổi giận, nên mới cố nói cho tường tận. Chẳng ngờ càng nói lại càng dài. Thật ra cũng chẳng có gì, xin nhị thái gia rộng lòng bỏ qua cho kẻ hèn này!
- Ai trách anh đâu? Ta chỉ nhắc vậy thôi. Nói nhiều quá, trái lại dễ khiến đại nhân bực mình. Bây giờ đại nhân lại gọi anh đấy. Gặp đại nhân, ngài hỏi gì thì đáp nấy, đừng lải nhải nữa.
Phạm Tông Hoa vâng dạ luôn miệng, theo Bao Hưng đến hành lang phía tây, quỳ xuống trước ghế xử án.
Bao Công hỏi:
- Chung quanh đây có nhà dân nào không?
Phạm Tông Hoa kính cẩn thưa:
- Phía nam thông ra đường lớn, phía đông có rừng du, phía tây là gò đất vàng, phía bắc có lò gạch bỏ hoang. Cộng lại chưa đầy hai mươi nóc nhà.
Bao Công liền bảo người coi việc địa phương dựng tấm biển cao, trên viết hai chữ “Mở cửa nhận đơn”, rồi sai đi báo cho từng nhà: ai có oan khuất thì đến miếu Thiên Tề kêu nài.
Phạm Tông Hoa vâng lời. Anh ta vác tấm biển cao, chạy thẳng đến rừng du. Gặp nhà họ Trương, anh ta hỏi:
- Anh cả Trương, nhà anh có muốn đi kiện không?
Đến nhà họ Lý, anh ta lại hỏi:
- Lý Nhị, anh có oan ức gì không?
Dân chúng nghe vậy, người nào cũng chửi cho một trận:
- Anh là người coi việc trong vùng, chỉ mong thiên hạ gây chuyện để vòi tiền chứ gì! Chúng ta đang yên ổn làm ăn, anh lại tìm đến tận nhà xui người ta đi kiện. Không có gì để nói cả! Muốn đánh Quan Âm tự thì cứ đánh với ông đi! Đồ chó má! Cút ngay cho khuất mắt! Đúng là xui xẻo! Anh mà cũng đòi làm người coi việc à? Đi đi!
Phạm Tông Hoa đành chịu trận, lại chạy đến gò đất vàng. Kết quả cũng chẳng khác gì, anh ta bị dân chúng mắng té tát rồi đuổi về.
Nhưng anh ta chẳng ngại bị chửi, cũng không quản đường xa mệt nhọc. Đến lò gạch bỏ hoang, anh ta lại đứng ngoài cửa gào to:
- Hôm nay Bao đại nhân đang nghỉ đàn, mở cửa nhận đơn tại miếu Thiên Tề. Ai có oan khuất thì cứ đến kêu oan!
Lời vừa dứt, bên trong đã có người đáp:
- Ta có oan! Dẫn ta đến đó!
Phạm Tông Hoa nhìn kỹ, kêu lên:
- Trời đất ơi, mẹ ơi! Lão thái thái có chuyện gì mà cũng muốn đi kiện vậy?
Chẳng ngờ bà cụ này, Phạm Tông Hoa vốn có quen biết, chỉ là anh ta không rõ lai lịch. Anh ta chỉ biết bà là họ hàng của Tổng quản Tần Phượng, ngoài ra chẳng hay gì nữa.
Chuyện này bắt đầu từ khi Dư Trung chịu chết thay Nương nương. Tổng quản Tần Phượng bèn lấy danh nghĩa Dư Trung, đưa Nương nương ra khỏi cung, sai người thân tín hộ tống về nhà mình, rồi dặn người trong nhà phải phụng dưỡng bà như mẹ Tần.
Nào ngờ Nương nương ngày đêm thương nhớ Trữ quân, khóc đến mù cả hai mắt. Bấy giờ, cha của Phạm Tông Hoa tên là Phạm Thắng, mọi người thường gọi ông là “Cơm Thừa”. Ông làm những việc lặt vặt trong phủ họ Tần, tính tình thật thà, chất phác, lại thích làm việc thiện.
Nương nương thấy ông hay giúp người, thường ban thưởng và cứu trợ cho ông. Bởi vậy, Phạm Thắng mang ơn Nương nương sâu nặng.
Về sau, Tần Phượng tự thiêu mà chết. Mẹ Tần cũng lần lượt qua đời. Con cháu trong nhà chẳng ai biết bà lão kia thật ra là người thế nào. Người còn thì còn tình nghĩa; người mất rồi, mọi dây dưa cũng đành dứt sạch.
Nương nương ở lại nhà họ Tần không được nữa, đành rời đi, chẳng biết nương náu nơi nào. Phạm Thắng muốn giữ bà lại nhà mình, nhưng Nương nương nhất quyết không chịu. May sao gần đó có một lò gạch bỏ hoang. Phạm Thắng thu dọn qua loa, dìu bà đến ở.
Từ đó, ông thường xuyên chăm nom. Hễ trời âm u, mưa gió là ông lại mang cơm đến. Sợ người khác bắt nạt bà, ông còn bảo con trai là Phạm Tông Hoa dựng một túp lều bên ngoài lò gạch, ngày đêm ngồi canh.
Phạm Thắng chỉ nghĩ mình đang báo đáp chút ơn nghĩa ngày trước, nào hay bà lão ấy chính là Nương nương đang gặp nạn.
Đến lúc lâm bệnh nguy kịch, Phạm Thắng còn dặn Phạm Tông Hoa:
- Bà cụ trong lò gạch, con phải hết lòng phụng dưỡng. Ngày trước Tổng quản Tần Phượng sai người đưa bà ấy đến nhà ta. Người này lai lịch không tầm thường, tuyệt đối không được chậm trễ, khinh nhờn.
Âu cũng là cả đời Phạm Thắng làm điều lành, nên cuối đời mới có được một đứa con hiếu thảo.
Sau khi cha mất, Phạm Tông Hoa quả nhiên ghi nhớ lời dặn, trước sau phụng dưỡng bà không hề thay đổi. Ngày thường, anh ta gọi bà là lão thái thái, khi thân mật lại gọi là mẹ nó.
Bấy giờ Nương nương muốn đi kiện. Phạm Tông Hoa mới hỏi:
- Mẹ có chuyện gì mà cũng muốn đi kiện vậy?
Nương nương đáp:
- Ta muốn kiện đứa con bất hiếu của ta.
Phạm Tông Hoa ngẩn ra:
- Mẹ lú lẫn rồi chăng? Bao nhiêu năm nay, con chưa từng nghe mẹ nói mình có con. Hôm nay sao tự nhiên lại đòi kiện con trai?
Nương nương nói:
- Muốn xử đứa con ấy, phải là vị quan thật sự sáng suốt mới được. Ta thường nghe người ta nói Bao Công lão gia xử án thông suốt cả chuyện âm dương, lại là vị quan thanh liêm chính trực. Chỉ tiếc ông ấy chưa từng đi ngang qua đây, nên chuyện này mới bị kéo dài bao năm. Nay ông ấy đã đến, nếu ta không nhân lúc này kêu oan thì còn đợi đến bao giờ?
Phạm Tông Hoa nghe xong, nói:
- Nếu mẹ đã quyết vậy thì con đưa mẹ đi. Đến nơi, con sẽ kéo cây gậy trúc một cái, mẹ cứ quỳ xuống là được. Mẹ đừng làm con bị vạ lây.
Nói rồi, anh ta nắm lấy cây gậy trúc, dẫn Nương nương đến trước miếu. Anh ta vào trong bẩm báo trước, sau đó mới dìu bà vào.
Đến trước ghế xử án, Phạm Tông Hoa kéo cây gậy trúc một cái. Nương nương chẳng buồn để ý. Anh ta lại kéo thêm mấy lần, bà liền giật cây gậy ngược về phía mình.
Phạm Tông Hoa cuống cả lên.
Chợt nghe Nương nương cất tiếng:
- Đại nhân đã bảo người hầu lui ra tránh mặt. Ta có lời muốn nói.
Bao Công nghe vậy, liền truyền người hầu tạm thời lui hết. Đợi bên ngoài không còn ai, ông mới cất tiếng:
- Giờ nơi đây không còn người ngoài, có oan khuất gì thì cứ trình bày đi.
Nương nương bỗng bật khóc, nghẹn ngào kêu lên:
- Ôi, Bao khanh! Ai gia khổ quá rồi!
Chỉ một câu ấy cũng đủ khiến Bao Công trên ghế xử án kinh ngạc tột độ. Bao Hưng đứng bên cạnh bất giác rùng mình.
Khuôn mặt đen sạm của Bao Công thoắt chốc biến thành vàng bệch.
Bao Hưng thầm kêu khổ:
- Trời ơi là trời! Xét án thế nào lại xét ra Ai gia rồi! Phen này biết phải làm sao đây?
Chẳng rõ sự việc về sau sẽ xoay chuyển thế nào, xin xem hồi sau phân giải.