Chương 41: Tiềm Dân Nhai - Sắt Thép, Hỏa Dược Và Pháp Sư

Trang chủ › Sắt Thép, Hỏa Dược Và Pháp Sư › Chương 41

Chương 41 - Tiềm Dân Nhai

☰ DS Chương 📖 3,026 chữ

Field chỉ Winters:

- Đây là học viên mới đến.

Rồi hắn lại chỉ Moritz:

- Còn đây là phụ tá của tôi. Nhưng xem ra hai người quen nhau… Thì ra lần trước Moritz xin nghỉ phép đầy bí hiểm là để đi đón các anh?

- Thiếu tá Moritz, còn đây là Thiếu tướng Layton.

Bà cụ mở cửa dưới lầu nghe thấy tiếng tháo cửa trên lầu, bèn đi lên xem có chuyện gì.

- Bà Warren, lại phải phiền bà tìm người đến sửa cửa rồi.

Field đưa cho bà Warren mấy đồng bạc nhỏ. Bà chẳng hỏi han gì, cứ thế nhận lấy, rõ là đã quen với cảnh này.

Viên trung tá lại đưa bà một túi tiền, nhờ bà sang các nhà lân cận mua giúp ít quần áo cũ và giày cũ, vừa với dáng người của ba viên sĩ quan.

Thiếu tá Moritz thì rời giường, lục ngăn bàn tìm giấy, bút và lọ mực. Winters làm người ghi chép. Cả ba dùng lời nói, chữ viết lẫn cử chỉ để trao đổi.

Field không hề hay phụ tá của mình được phái sang Liên Tỉnh công tác. Quân đội xem đó là nhiệm vụ bí mật, còn hắn vẫn tưởng Moritz đang dưỡng bệnh ở nhà.

Khi biết thiếu tá bị phép thuật của mình làm rách màng nhĩ, viên trung tá cười ngặt nghẽo.

Nhưng đến lúc phát hiện Winters và Moritz đều tận mắt chứng kiến chuyện ấy mà lại giấu nhẹm hắn, vẻ mặt hắn lập tức trở nên khó tả.

Trông hắn như thể vừa phát hiện hai người kia lén lập một nhóm riêng sau lưng mình.

Nói cho cùng, chuyện này đều do câu “bàn bạc bí mật” của thiếu tá Moritz mà ra.

Có điều lúc này Field không rảnh truy hỏi cho rõ. Hắn còn chuyện quan trọng hơn.

- Còn dùng được không? Field hỏi.

Thiếu tá Moritz ngái ngủ, thò tay xuống dưới đệm lấy ra một đồng bạc.

Ngay sau đó, tiếng xé gió rít lên. Đồng bạc trong tay hắn biến mất, chai rượu trên bàn vỡ tan, bức tường gỗ phía sau thủng thêm một lỗ.

- Dậy đi, theo tôi.

Thiếu tá Moritz xoa cổ, ngáp dài:

- Cũng phải cho tôi tắm rửa đã chứ?

- Khỏi cần. Đến phố Kẻ Chìm. Cái bộ dạng nhếch nhác của anh vừa khéo hợp cảnh. Với cái mã này mà còn tắm rửa sạch sẽ thì chỉ có thể giả làm trai bao thôi.

Viên trung tá cười lạnh.

Phố Kẻ Chìm nghe như chỉ là một con phố, nhưng thực ra diện tích chẳng kém khu nội thành Hải Lam bao nhiêu.

Lịch sử Hải Lam có thể lần về tận thời Đế quốc Cổ. Cái tên Hải Lam, Venetus, cũng bắt nguồn từ tiếng cổ.

Thành phố này từng nhiều lần bị chiến tranh và thiên tai tàn phá, rồi lại được dựng lên. Nằm dưới nền Hải Lam ngày nay là tàn tích của những thành phố xưa.

Người cổ để lại cho thành phố hai thứ: hệ thống dẫn nước và hệ thống cống rãnh.

Hệ thống dẫn nước đã mất công dụng ban đầu. Chỉ còn vài tàn tích của những máng nước trên cao, trơ trọi đứng ngoài thành như dấu vết của một nền văn minh đã lụi tàn.

Còn hệ thống cống rãnh đến nay vẫn làm đúng chức phận mà người xưa thiết kế cho nó.

Chủ nhân thành phố đổi hết đời này sang đời khác, nhưng chức quan chuyên khơi thông những đoạn cống bị bùn rác làm nghẽn vẫn được giữ lại.

Cống ngầm cũ ở Hải Lam luôn có người tu sửa, nên không bị tắc nghẽn rồi bỏ hoang như hệ thống cống cũ ở Quế Thổ.

Mỗi khi có người biết lo cho thành phố nắm quyền, họ lại bồi đắp, sửa sang những đường cống xưa để đáp ứng dân số ngày một đông.

Sửa đi sửa lại, hệ thống cống rãnh ở Hải Lam biến thành một mê cung. Chẳng ai biết trong đó còn bao nhiêu lối nhỏ và đường hầm bị lãng quên, cũng chẳng ai biết nó thông đến những đâu.

Hệ thống từng giúp Hải Lam giấu đi những thứ ô uế, giờ quả thật đã thành chỗ chứa đủ mọi thứ bẩn thỉu. Kẻ trộm, bọn buôn lậu, sát nhân, tín đồ quỷ thần, đủ hạng người chen chúc ở đó.

Những món hàng không thể đem ra ngoài chợ đều được mua bán tại đây. Những ham muốn xấu xa nhất của con người cũng có chỗ để thỏa mãn.

Hội đồng cai trị Hải Lam đành bó tay. Mỗi lần cho lính vào quét dọn, đám chuột cống lại trốn biệt, biến mất trong những lối nhỏ và đường ống không hề có trên bản đồ.

Đến khi lính rút khỏi cống ngầm, đám chuột lại từ dưới rãnh chui lên, tụ tập trở về.

Bởi vậy, cống ngầm Hải Lam còn có tên là phố Kẻ Chìm. Quyền lực công khai dưới ánh mặt trời và đám chuột chỉ có thể sống trong bóng tối duy trì với nhau một thế cân bằng mong manh.

Winters thay bộ áo vải thô và áo choàng bẩn thỉu, đeo mặt nạ mèo, tay vịn thanh đao cong Dussack mà trung tá Field cho mượn, theo sau hai viên sĩ quan.

Viên trung tá thô lỗ mà không hề sơ ý. Hắn không chỉ nhờ bà chủ nhà của Moritz tìm quần áo, còn bảo bà kiếm thêm mấy đôi giày.

Ba viên sĩ quan đi chung đã đủ khiến người ta chú ý. Nếu còn xỏ giày quân đội, đến người mù cũng nhận ra.

Nhưng đồ tìm vội thì khó mà vừa chân. Đôi ủng Winters đang mang hơi chật, ép chân hắn đau nhức.

Ba người để ngựa lại chỗ ở của thiếu tá Moritz. Field dẫn đường, đưa họ từ chiếc thang cạnh cầu Thợ Mộc ở khu DC xuống bờ cạn bên sông, đến trước một đường ống thoát nước cao chừng một người.

Viên trung tá dùng phép nhóm lửa đốt đuốc rồi đi đầu bước vào.

Thấy Winters hơi căng thẳng, tay ghì chặt chuôi đao, thiếu tá Moritz khẽ trấn an:

- Không sao đâu, phố Kẻ Chìm chẳng nguy hiểm gì mấy, hàng rẻ cũng nhiều. Thả lỏng đi. Dáng đi của cậu bây giờ nhìn là biết lính ngay.

Dứt lời, thiếu tá Moritz bước vào thứ hai.

Winters xoay xoay bả vai, cố đi cho tự nhiên rồi cũng bước vào đường cống.

Đường cống rộng hơn hai mét, xây bằng gạch đá. Nước chiếm hơn nửa bề ngang, dưới ánh đuốc đen kịt, chẳng rõ sâu cạn thế nào.

Dọc mép cống có một lối nhỏ chỉ đủ cho một người đi, vốn hẳn dành cho thợ khơi thông cống rãnh.

Ba người lặng lẽ đi, rẽ trái rồi rẽ phải, không biết đã bao lâu. Đếm đến ngã rẽ thứ mười hai, Winters bắt đầu loáng thoáng nghe tiếng bước chân. Phía trước dường như có vài đốm lửa.

Đi thêm một đoạn, trung tá Field đột nhiên rẽ phải, dẫn Winters vào một lối khuất trong vách cống. Họ đi thêm mấy chục bước, trước mắt bỗng rộng hẳn ra.

Nơi đây không còn là đường cống phải cúi người mới đi lọt. Đường hầm cao chừng hai mét rưỡi, uốn lượn mãi không thấy cuối. Trong đó có không ít người, trông khá nhộn nhịp.

Một số người che kín thân phận bằng mặt nạ và áo choàng, giống Winters. Cứ cách một hai mét lại có người kê chiếc bàn nhỏ, thắp đèn dầu, dường như đang bày hàng.

Phần lớn đồ vật trên bàn đều xa lạ với Winters. Trên một vài chiếc bàn chỉ có mấy tấm thẻ gỗ nhỏ.

Những người đeo mặt nạ khác thỉnh thoảng dừng chân bên bàn, dùng tay ra hiệu với kẻ bán hàng. Winters chẳng rõ họ tính thế nào là mua được, thế nào là không.

Căn hầm ngầm này khiến hắn thấy kỳ lạ. Có một phần dường như mới được đào gần đây, tường đất lồi lõm còn ướt, mấy cây cột gỗ xiêu vẹo chống đỡ vài tấm ván.

Nhưng vài nơi khác lại kín đáo để lộ dấu vết lâu đời. Dưới đất vương vãi gạch cũ, trên đầu là mái vòm bằng đá. Trên vài mảng tường trát vữa vẫn còn phai phôi sắc màu.

Trung tá Field nhìn thẳng phía trước, cứ thế đi dọc đường hầm. Winters theo sau, vô ý đá phải một vật màu trắng dính bùn. Nó lăn mấy vòng, để lộ ba cái hốc.

Lúc ấy Winters mới hiểu đây là nơi nào. Vật màu trắng kia không phải đá, mà là một chiếc sọ người.

Khoảng ngầm bị đám lái buôn phố Kẻ Chìm biến thành khu chợ này vốn là một ngôi mộ. Winters không rõ ngôi mộ có từ thời nào, nhưng chắc chắn không thuộc thời Đế quốc Cổ, cũng chẳng phải mấy trăm năm gần đây.

Người xưa không xây mộ cạnh hệ thống cống của chính mình. Mộ phần mấy trăm năm trở lại đây cũng không thể đào sâu đến thế. Dưới lòng Hải Lam chồng chất mấy tầng di tích, chẳng ai nói rõ thành phố đã bị hủy diệt và dựng lại bao nhiêu lần.

Có lẽ ai đó tình cờ phát hiện ra ngôi mộ, lấy sạch đồ tùy táng rồi tận dụng nơi này làm phố buôn bán.

Không gian mộ cũ dần chật chội, người phố Kẻ Chìm bèn đào thêm vào vách. Vì vậy có chỗ tường trát vữa, có chỗ chỉ là đất trần.

Winters không khỏi “khâm phục” cái gan liều mạng của đám chuột cống phố Kẻ Chìm. Họ dám ngang nhiên xây cơi nới trong một công trình ngầm có lẽ đã ngàn năm tuổi.

Tường ngôi mộ chống đỡ mái vòm. Đập vỡ tường rồi, họ không sợ đất trên đầu sập xuống hay sao?

Trong đầu Winters nghĩ ngợi lung tung, nhưng chân vẫn bước không ngừng, bám sát trung tá Field.

Còn thiếu tá Moritz bị món đồ bày trên một chiếc bàn thu hút, bèn dừng lại dùng tay ra hiệu với người bán hàng phố Kẻ Chìm.

Field đi trước một đoạn, ngoái lại thấy Moritz đang mặc cả với người ta.

Hắn tức tốc quay về, đá mạnh vào mông thiếu tá một cái.

Thiếu tá vẫn tỉnh bơ, như thể cái mông bị đá không phải của mình. Hắn tiếp tục thong thả ra hiệu với người bán hàng.

Giao dịch xong, thiếu tá lấy mấy đồng vàng ra. Người bán hàng phố Kẻ Chìm thì lôi từ dưới gầm bàn ra mấy gói giấy.

Một bên đưa tiền, một bên giao hàng. Thiếu tá mở gói giấy kiểm tra, xác nhận không sai mới gật đầu với người bán, rồi nhét mấy gói vào ngực áo.

Field đeo mặt nạ nên Winters không nhìn rõ vẻ mặt hắn, nhưng chỉ cần nghĩ thôi cũng biết trung tá đang tức đến mức nào.

Thiếu tá Moritz lại nhún vai như chẳng có chuyện gì, như muốn nói: Sao nào? Tôi vốn thế, anh biết rõ mà.

Trung tá Field bất đắc dĩ thở dài, tiếp tục dẫn đường.

Ba người rời khu chợ ngầm qua một cánh cửa bí mật khác.

Ra khỏi khu chợ ấy, đi sâu thêm vào trong, họ lại gặp một khu chợ ngầm. Chỉ là nơi này thưa người hơn hẳn khu trước.

Rời khu chợ thứ hai, họ đi tiếp. Mặt đất dần bằng phẳng, khô ráo. Đường hầm dường như đã được tu sửa cẩn thận, biến thành lối đi dài. Trên tường thỉnh thoảng có những cửa hầm vừa đủ cho một người lọt qua.

Winters tò mò nhìn vào. Có cửa bị che bằng màn đen, có cửa được chắn bởi cánh cửa gỗ. Hắn không biết chúng dẫn đi đâu.

Trung tá Field dừng trước một cửa hầm, gật đầu với thiếu tá Moritz rồi đẩy cửa gỗ bước vào.

Winters vốn tưởng bên trong đã là nơi cần đến, nào ngờ đó vẫn là một đường hầm.

Đường hầm lồng đường hầm khiến Winters mất hẳn phương hướng. Quỷ mới biết Field làm sao nhận ra đường đi.

Họ men theo lối hầm này chừng mấy chục mét. Phía trước, nơi khúc ngoặt, có ánh đèn chập chờn.

Vừa rẽ qua góc vuông, cả ba đã thấy một gã lực lưỡng ngồi trên thùng gỗ, tay cầm chùy mỏ nhọn, chặn ngang đường như một bức tường.

Cổ gã nổi cơ cuồn cuộn, vai rộng, tay chân thô to, chẳng khác nào một con gấu đứng bằng hai chân.

Một giọng nói lạnh lẽo vang lên sau lưng Winters:

- Các ngươi vừa vào là bọn ta đã để ý rồi. Thế mà còn cắm đầu đi sâu vào trong, chán sống hả?

Không biết từ lúc nào, trong đường hầm chật hẹp phía sau đã lù lù xuất hiện bảy tám tên đeo mặt nạ. Chúng cầm dao ngắn và gậy gỗ đóng đinh, nhìn ba người bằng ánh mắt chẳng lành.

Phía sau gã lực lưỡng kia, mấy cánh cửa bí mật cũng bật mở, lại có bốn năm tên tay chân chui ra.

Field, Moritz và Winters đều rút vũ khí. Winters nhẩm đếm, trước sau có chừng mười bốn tên.

Bên mình ít người hơn hẳn, nhưng trong chỗ chật hẹp này, đám kia chưa chắc đã vung tay chân thoải mái được.

Khó đối phó nhất là gã lực lưỡng. Chùy mỏ nhọn vào tay hắn, mặc nguyên bộ giáp sắt cũng chẳng ích gì.

Giọng nói hiểm độc kia lại vang lên. Lần này Winters nhìn rõ kẻ lên tiếng là tên đeo mặt nạ hề đứng phía sau:

- Đừng vì đám nhà giàu trong Viện Nguyên Lão mà bỏ mạng. Ném vũ khí xuống đất, ta sẽ để các ngươi quay về đường cũ, tha cho một mạng. Bằng không…

Đám tay chân lắc lư binh khí, cười quái dị, cố gây áp lực cho ba người.

Trung tá Field gật đầu với thiếu tá Moritz. Thiếu tá thở dài, cắm thanh kiếm trong tay xuống đất.

- Biết điều đấy. Nhìn người đi cùng các ngươi mà học…

Tên đeo mặt nạ hề chưa nói hết câu, hai mắt đã phụt ra một đám máu. Hắn ngửa người đổ vật xuống đất.

Giờ Winters mới hiểu tại sao Antonio từng nói: “Một đại đội cũng chưa chắc giết nổi Moritz van Nasu.”

Cung thủ muốn bắn phải giương cung, lính súng muốn nổ súng phải nạp đạn. Còn thiếu tá Moritz thi triển phép Phi Tiễn thì chẳng cần chuẩn bị gì cả.

Không chỉ không cần chuẩn bị, phép ấy còn kín đáo đến mức khó lường.

Không tiếng dây cung bật, cũng chẳng có tiếng súng. Chỉ nghe tiếng xé gió the thé. Hắn cũng không cần giơ vũ khí lên ngắm như lúc dùng cung nỏ hay súng trường. Winters chẳng thấy thiếu tá Moritz giơ tay chỉ về phía kẻ địch nào.

Bàn tay phải của thiếu tá buông thõng bên hông. Từng đồng bạc từ đó bắn vút ra, dáng điệu của hắn giống hệt một đứa trẻ đang bắn bi.

Nhưng cứ mỗi đồng bạc bay đi, lại có một kẻ thủng đầu, ngã vật xuống đất.

Bạc không phải thứ kim loại cứng cáp gì, nhưng khi thiếu tá Moritz dùng phép thuật gia tốc đồng bạc đến gần bằng tốc độ viên đạn súng hỏa mai, đồng bạc dù chẳng mài bén cũng đủ sức xé toạc da thịt, cắt ngang xương cốt, nghiền bộ não mềm nhũn thành một đống bầy nhầy.

Đó chính là phép giết người đơn giản và hiệu quả nhất mà trung tá Field từng nói đến. Chẳng cần kỹ xảo cầu kỳ, cũng không cần phân loại rắc rối. Chỉ việc gia tốc một đồng bạc lên hai trăm mét mỗi giây, rồi ném thẳng vào đầu kẻ địch là xong.

Chỉ trong sáu giây ngắn ngủi, phần lớn đám địch trong đường hầm đã bị thiếu tá Moritz hạ gục.

Gã đàn ông cầm búa chiến cũng không thoát. Một đồng bạc ghim thẳng vào giữa hai hàng lông mày, khiến thân hình vạm vỡ như gấu chó của gã đổ ập xuống đất, nằm im không nhúc nhích.

Mấy tên tay chân thấy tình thế chẳng lành, quay đầu định chạy, đều bị bắn trúng sau gáy một cách chuẩn xác.

- Để lại một tên sống!

Trung tá Field xách kiếm bước tới.

Thiếu tá Moritz vừa động ý nghĩ, đồng bạc lập tức đổi hướng, bắn trúng đầu gối tên địch cuối cùng. Gã tay chân đang chạy bỗng khuỵu chân, ngã sấp xuống đất.

- Đám thuộc hạ của tên què chỉ có vậy thôi sao?

Giọng trung tá đầy vẻ tiếc nuối. Vừa nói, y vừa đâm kiếm vào cổ từng kẻ đã nằm im hoặc còn đang co giật. Không cần quay đầu, y hỏi:

- Cậu trai trẻ nhất kia, mấy tên phía sau nhờ cậu xử lý giúp được chứ?

Trung tá không gọi tên Winters, cũng chẳng nói rõ muốn hắn làm gì. Nhưng chỉ cần không phải kẻ ngốc, ai cũng hiểu ý y.

Winters giờ đã chẳng còn là chú chim non vừa rời tháp ngà. Phần ngây thơ cuối cùng trong hắn đã biến mất sau trận giáp lá cà trên tàu. Nói chính xác hơn, nó đã tắt ngay khoảnh khắc hắn dùng dao găm đâm vào cổ người chèo thuyền đáng thương kia.

Hắn nén cảm giác khó chịu âm ỉ, cầm thanh Dussack, lần lượt bồi thêm từng nhát vào đám tay chân của phố Dân Ngầm ở phía sau.