Chương 42: Tay sai
Trên đường về nhà, Antonio vui mừng nói với Winters:
- Không ngờ anh làm việc nhanh nhẹn đến thế. Vậy tôi yên tâm rồi.
- Đừng nhắc nữa. Ngài vừa đi khỏi, tôi đã ăn ngay một cái tát.
Winters ủ rũ đáp. Hắn vô thức sờ lên má mình. Cơn đau ngoài da đã tan từ lâu, nhưng vết thương trong lòng thì vẫn còn nguyên.
- Bị tát ư? Có phải anh vội vàng quá không?
- Tôi và cô Navarre không giống như ngài nghĩ đâu. Cô ấy nghe hiểu cổ ngữ.
- Ồ? Một cô gái cũng biết cổ ngữ sao?
- Anna không phải phụ nữ bình thường. Tôi thấy học thức của cô ấy còn cao hơn tôi.
Giọng Antonio chất chứa nỗi buồn kiểu người nhìn sắt thép mãi không thành kim:
- Sao anh ngây thơ thế? Mới gặp người ta một lần đã bị mê mẩn đến mất hồn rồi à?
- Sao ngài cứ không chịu tin? Tôi thật sự không có ý theo đuổi cô Navarre.
Antonio đã thành kiến sẵn, Winters có trăm miệng cũng khó phân bua. Hắn đành nói tiếp:
- Với lại, tôi thấy cô Navarre… rất chân thành.
- Dĩ nhiên là chân thành rồi! Nếu không khiến anh cảm thấy cô ta chân thành thì làm sao cô ta sai khiến anh được?
Antonio hỏi vặn, rồi đổi giọng, cười nói:
- Nhưng đàn ông mà, phải để đàn bà lừa vài lần mới trưởng thành được.
Winters chẳng còn gì để nói. Hắn mím chặt môi, mắt nhìn thẳng phía trước, dùng gót giày khẽ thúc vào sườn ngựa. Cường Vận nhận lệnh, hí vang rồi tung vó chạy nhanh.
- Đừng giận chứ! Có chuyện gì mà chúng ta không thể nói với nhau? Đêm hôm đừng cưỡi nhanh quá, coi chừng ngựa gãy móng!
Antonio gọi với theo lưng hắn.
Winters vốn chẳng muốn để ý, nhưng nghe nói có thể làm gãy móng ngựa, hắn vẫn ghìm tốc độ lại. Antonio liền đuổi kịp từ phía sau:
- Này, có gì mà phải xấu hổ? Hồi chúng tôi còn trẻ, chuyện này đều được xem là chuyện hay để đem ra khoe đấy.
- Ngài đừng nói nữa. Tôi tuyệt đối không có ý nghĩ như ngài tưởng về cô Navarre.
- Được rồi, được rồi, không nói nữa.
Antonio tỏ vẻ tử tế, nhưng giọng điệu lại chẳng khác gì đang dỗ dành một cậu trai trẻ ngượng ngùng.
Winters cũng lười giải thích. Hai người im lặng cưỡi ngựa một quãng. Chợt Antonio thở dài, cảm khái:
- Than ôi, xem ra điều tôi lo nhất năm xưa cuối cùng cũng thành sự thật.
Lão cố ý kéo dài giọng, chờ Winters phụ họa. Nhưng hắn chẳng buồn tiếp lời.
Antonio mất hứng, chép miệng rồi tự nói tiếp:
- Anh biết Học viện Sĩ quan Lục quân được xây dựng theo mô hình nào không?
Winters nghe vậy thầm nghĩ: Chẳng lẽ không phải mô hình trường đại học sao?
Nhưng lúc này hắn chẳng muốn đáp lời Antonio, cứ thế im thin thít.
- Nếu anh nghĩ là trường đại học thì sai rồi.
Antonio tự hỏi rồi tự trả lời:
- Đại học là nơi thanh niên học hành, uống rượu và tụ tập đánh nhau. Anh từng trải qua chưa? Học viện Sĩ quan Lục quân được xây dựng theo mô hình tu viện. Nói cách khác, các anh ở học viện chẳng khác nào những tu sĩ khổ hạnh khoác thân phận quân nhân. Ít giao tiếp với bên ngoài, coi học viện là cả thế giới của mình.
Antonio nói tiếp:
- Hồi học viện mới thành lập, chuyện ấy cũng không đáng ngại. Khi tôi và cha anh vào học, một người mười sáu, một người mười bảy tuổi, hầu như đã là người lớn. Nhưng người Liên tỉnh lại lập thêm trường dự bị và trường thiếu niên. Đến thế hệ các anh, mới chín tuổi đã bị đưa vào học viện, cứ thế học lên từng bậc. Mười năm sống đời tu viện, gần như chẳng có chút kinh nghiệm xã hội nào. Tôi cũng không biết mô hình ấy tốt hay xấu, nhưng giờ tôi đã hiểu một điều. Hễ gặp Judith, các anh đều biến thành Hô-lô-phéc-nê cả.
Judith dùng sắc đẹp tiếp cận Hô-lô-phéc-nê, viên tướng địch đang thèm khát nàng. Đợi hắn say rượu, nàng chém đầu hắn, khiến quân Assyria đại bại. Winters không phải tín đồ, nhưng cũng biết câu chuyện nổi tiếng được chép trong kinh thư ấy.
Có điều, hắn chẳng muốn nghe thêm lời nào. Hắn vung roi, thúc ngựa phóng thẳng về nhà.
Sáng hôm sau, trước khi đến đồn hiến binh, Winters ghé chào Bud và André.
Bud đi vòng quanh Cường Vận ngắm nghía ba lượt, miệng tấm tắc khen. Còn André vừa thấy con ngựa đã không rời mắt nổi, nhất quyết đòi cưỡi thử một lần.
Winters cùng hai người bạn khoe món đồ chơi mới xong, vừa đi đến trước cửa đồn hiến binh thì thấy viên thư lại Moluc đang đi đi lại lại ngoài hành lang, sốt ruột chẳng khác gì kiến bò chảo nóng.
Winters lên tiếng trêu:
- Chào buổi sáng, ông Moluc. Ông quên mang chìa khóa à?
- Ngài tới rồi, thiếu úy Montagne!
Thấy Winters, Moluc thở phào nhẹ nhõm:
- Người của Bộ tư lệnh Cảnh bị sắp tức điên lên rồi. Chiều hôm qua họ đã phái người tới làm ầm ĩ một trận. Nhưng hai vị chỉ huy đều không có mặt, tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào. Sáng nay họ lại cử người tới, hiện đang ngồi bên trong đấy ạ.
Để tống khứ bốn cái xác bốc mùi kinh khủng kia, nhà tù Hải quan làm việc nhanh đến mức đáng nể. Chân trước Field và Winters vừa rời đi, chân sau viên cai ngục trưởng đã kiếm mấy tấm ván mỏng, đóng thành bốn cỗ quan tài sơ sài. Xác được nhét vào trong rồi chở tới Bộ tư lệnh Cảnh bị Hải Lam.
Một nửa lời viên trung tá Field nói là thật, nửa kia cũng chẳng hẳn là giả. Hắn nói Bộ Tổng chỉ huy Lục quân không có nhà xác, câu ấy đúng.
Nhưng hắn bảo phía Hải quan đưa xác tới “nhà xác của Bộ tư lệnh Cảnh bị Hải Lam”, thì ý nghĩa lại rất nhập nhằng. Bởi Bộ tư lệnh Cảnh bị cũng chẳng có nhà xác.
Khi thấy xe chở xác của Hải quan dừng trước cửa, các sĩ quan lớn nhỏ trong Bộ tư lệnh Cảnh bị nhìn nhau, không hiểu chuyện gì xảy ra.
Đến khi nghe nói Bộ tư lệnh không có nhà xác, người của Hải quan chẳng buồn đôi co. Họ đặt thẳng bốn cỗ quan tài ngay cạnh cổng, nói rằng “trung tá Field bảo đưa tới”, rồi phủi tay bỏ đi.
Người của Bộ tư lệnh Cảnh bị bị phen kinh tởm đến phát bệnh, đúng theo nghĩa đen. Lúc mở quan tài, không ít sĩ quan đã nôn ngay tại chỗ. Bốn cỗ quan tài lập tức bị đóng đinh lại.
Có ngăn cách bằng lớp ván, mùi hôi cũng chỉ giảm từ mức khiến người ta nôn mửa xuống thành mức khiến toàn thân khó chịu mà thôi.
Bốn cái xác giờ trở thành vấn đề nan giải của Bộ tư lệnh Cảnh bị. Trong đó chẳng có nơi nào để đặt chúng, mà họ cũng không đủ gan đem bốn cỗ quan tài ném trước cổng Bộ Tổng chỉ huy Lục quân.
Viên chỉ huy đồn hiến binh Cảnh bị nghe nói bốn cỗ quan tài độc khí này là do trung tá Field bảo đưa tới thì giận dữ đến nhảy dựng. Hắn lập tức tập hợp người, hùng hổ kéo đến Bộ Tổng chỉ huy Lục quân, định tìm Field “nói chuyện”.
Nhưng lúc ấy Field không có mặt, Winters cũng đã xem xong báo cáo rồi về nhà. Trong đồn hiến binh chỉ còn mỗi Moluc. Nợ ai người ấy trả, một đám sĩ quan vạm vỡ cũng chẳng làm gì được viên thư lại gầy gò kia. Chẳng lẽ lại đánh một viên thư lại nhỏ bé đang ra sức cười làm lành để trút giận hay sao?
Đấm vào bông, đám người của Bộ tư lệnh Cảnh bị đành hậm hực quay về. Sang hôm sau, họ lại phái một trung tá tới. Lần này, hắn nhất định bắt Field giải thích, đồng thời yêu cầu Field mau chóng mang bốn cái xác kia đi.
Hôm qua, Winters còn áy náy vì đã gây phiền phức cho Bộ tư lệnh Cảnh bị. Nhưng hôm nay, hắn đã biết bản chất vụ án là một cuộc đấu đá chính trị. Field đẩy vụ này sang đồn hiến binh chỉ nhằm khiến trung tá Field khó chịu. Vì thế, Winters chẳng còn chút áp lực tâm lý nào, lại lần đầu nếm được cái lợi của quân hàm thấp.
Hắn bắt chước thái độ của viên cai ngục gầy gò bên nhà tù Hải quan. Sau khi chào theo quân lễ, mặc cho viên trung tá của Bộ tư lệnh nói gì, hắn đều chỉ đáp một kiểu:
- Tôi không biết.
- Tôi không rõ.
- Tôi chỉ là học viên sĩ quan, không có quyền quyết định.
Viên trung tá đối diện tức đến đỏ mặt, nhưng cũng chẳng thể làm gì hắn. Một viên sĩ quan tập sự nhỏ nhoi thì quản được chuyện gì đâu.
Winters vừa nhàn nhã uống chén nước đường Moluc rót cho, vừa lấy bản báo cáo khám nghiệm tử thi của Hải quan ra xem lại. Đúng lúc ấy, trung tá Field bước vào.
Hai viên trung tá vừa chạm mặt đã cãi nhau ầm ĩ. Chẳng ai chịu nghe người kia nói, cứ việc gào lên phần mình.
Kiểu cãi vã này so giọng to, so khí thế. Vì thế, cuối cùng người chiếm thế thượng phong đương nhiên là trung tá pháp sư Field. Hắn dùng thuật khuếch âm, dễ dàng lấn át tiếng của viên trung tá kia.
Trung tá Field gào hết câu này đến câu khác, nước bọt văng đầy mặt đối phương:
- Bốn cái xác ấy là chứng cứ quan trọng!
- Các anh đẩy việc bẩn thỉu cho tôi, đến giữ hộ chứng cứ cũng không làm được à?
- Bộ Tổng chỉ huy không có nhà xác, tạm để bên các anh thì đã sao?
- Nếu không hài lòng, các anh cứ nhận lại vụ án đi!
Vừa gào, hắn vừa đập bàn rầm rầm. Âm thanh vang khắp Bộ Tổng chỉ huy Lục quân, ai cũng nghe rõ mồn một.
Uy lực của ma pháp đâu phải sức người có thể sánh bằng? Giọng của viên trung tá bên Cảnh bị không đọ nổi Field. Biết ở lại chỉ chuốc thiệt, hắn đành hầm hầm bỏ đi.
Trung tá Field còn cố tình nện thêm một cú vào kẻ đã thất thế:
- Không được chôn! Nếu bảo quản chứng cứ không chu đáo, vụ án không thể khép lại, tất cả trách nhiệm sẽ thuộc về các anh!
Trút được chút giận, nhưng vụ án vẫn phải điều tra.
Field điều bốn đội mười người, dẫn theo Winters và đám hiến binh đi thẳng tới bến cảng.
Thấy con ngựa Lucia Winters đang cưỡi, Field kinh ngạc ra mặt:
- Đây chẳng phải con “May Mắn” sao?
Winters vuốt chiếc cổ dài của con ngựa:
- Bây giờ nó tên là Cường Vận rồi.
Field gật đầu, không để lộ vẻ nghĩ ngợi gì.
Đến bến cảng, Winters nhận ra cách điều tra của trung tá Field chẳng khác mấy Bộ tư lệnh Cảnh vệ Hải quan. Cả hai đều đi tìm nhân chứng, lần lượt hỏi han rồi sàng lọc từng người.
Từ xưa đến nay, người chấp pháp phá án vẫn thường làm như thế. Trước tiên tìm nhân chứng. Không có nhân chứng thì dò xét từng chút một. Tìm được kẻ khả nghi thì dùng hình tra hỏi, rồi khép án.
Winters nghĩ bụng, ngay cả viên quan hành chính Lopp dùng cách này còn chẳng thu được kết quả gì, trung tá Field chắc cũng không thể tìm ra manh mối hữu ích hơn. Nhưng hắn không nói gì, chỉ lặng lẽ làm việc.
Hiến binh thuộc đồn hiến binh của Bộ Tổng chỉ huy Lục quân, xét cho cùng vẫn là lính gác. Bổn phận chính của họ là đứng gác. Trung tá Field vung tay điều cả đám tới bến cảng phá án, chẳng khác nào chiếm mất thời gian nghỉ ngơi vốn có của những người lính ấy.
Bởi vậy, tinh thần binh sĩ sa sút, thái độ uể oải. Người nào người nấy lười nhác hỏi chuyện dân cư và tiểu thương quanh bến cảng. Với bộ dạng ấy, dù có manh mối đáng giá lọt qua trước mắt, họ cũng dễ dàng bỏ sót.
Field nhìn thấy tình trạng của binh sĩ, hiểu rằng cứ điều tra kiểu này thì chẳng có ý nghĩa gì. Chưa đến trưa, hắn đã giải tán toàn bộ hiến binh.
- Cứ tiếp tục thế này không được. Phải nghĩ cách mới thôi.
Trong câu lạc bộ sĩ quan Lục quân, Field vừa ăn trưa vừa nói với Winters đang ngồi đối diện.
Winters nuốt miếng bánh trong miệng xuống, đánh bạo lên tiếng:
- Nếu ngài chỉ muốn khép án, chẳng phải việc ấy rất đơn giản sao?
- Hừ, bọn họ đẩy việc bẩn cho tôi, tưởng tôi sẽ mặc cho họ sai khiến. Nhưng tôi cứ không làm theo ý chúng. Nhất định phải điều tra cho rõ.
Field chẳng ngạc nhiên cũng không phật ý. Hắn liếc Winters rồi hỏi:
- Còn anh thì sao? Biết chỗ tôi là hố lửa, tại sao vẫn nhảy vào?
- Những lời ngài nói trong buổi giới thiệu khiến tôi học được rất nhiều.
Winters thành thật đáp:
- Tôi chưa từng thấy ai điều khiển lượng phát ra của thuật khuếch âm ổn định như ngài. Tôi muốn học kỹ thuật ma pháp của ngài, vì thế mới tới đồn hiến binh.
- Muốn gì thì cứ nói thẳng ra. Cũng thú vị đấy.
Field rót cho Winters một ít bia nhạt:
- Nhưng thiếu úy Montagne, trước hết anh phải nghĩ cho kỹ. Rốt cuộc anh muốn học kỹ thuật ma pháp, hay muốn học cách giết địch?
Winters hiểu viên trung tá đang nói gì. Độ khó của một pháp thuật không liên quan trực tiếp đến sức sát thương của nó. Điều khiển thuật khuếch âm thật chuẩn xác, khó hơn rất nhiều so với việc dùng thuật bạo âm làm thủng màng nhĩ người khác.
Một bên giống như đi trên dây. Một bên chẳng khác nào dùng búa tạ đập hạt óc chó. Việc sau chỉ cần sức mạnh, việc trước đòi hỏi kỹ xảo cao siêu.
- Không thể học cả hai sao?
- Ha ha ha! Anh thử nghĩ xem, các pháp sư giỏi pháp thuật hệ đốt lửa như các anh, tại sao năng lực thực chiến lại kém xa những pháp sư chuyên về pháp thuật hệ gia tốc?
- Vì pháp thuật hệ gia tốc vốn giỏi chiến đấu hơn.
- Sai rồi! Vì các anh học quá tạp. Cách đào tạo của Cục Tác chiến Ma pháp sai từ gốc. Muốn rèn một pháp sư giỏi giết chóc, chỉ cần dạy hắn một pháp thuật là đủ.
Field đập tay xuống bàn:
- Hệ đốt lửa hiện có bảy pháp thuật, còn hệ gia tốc chỉ có ba: thuật phi tiễn, thuật ngự phong và thuật lệch hướng. Trong ba môn ấy, chỉ thuật phi tiễn có sức sát thương. Các pháp sư chuyên hệ gia tốc chỉ cần luyện mỗi môn đó để giết địch.
- Nhưng tôi thấy thuật hóa hơi rõ ràng khó hơn, uy lực lại kém xa thuật phi tiễn.
- Anh cũng có thể luyện thuật phi tiễn.
- Tôi không giỏi các pháp thuật gia tốc. Dù luyện nhiều đến đâu, tiến bộ cũng rất chậm.
Field ngửa người ra sau, cười lớn, lưng tựa vào thành ghế:
- Đây chính là điều tôi muốn anh nghĩ cho kỹ. Rốt cuộc anh muốn học pháp thuật mình có thiên phú hơn, hay pháp thuật thích hợp để giết người hơn?
Winters nhai chậm câu nói ấy trong đầu. Ý của viên trung tá rất rõ: nếu mục tiêu là thực chiến, hắn nên luyện pháp thuật thích hợp chiến đấu nhất, cho dù bản thân không có thiên phú ở lĩnh vực đó.
- Anh cứ tự suy nghĩ đi.
Field vừa rót bia nhạt cho mình vừa nói:
- Tôi có thể truyền dạy kỹ xảo pháp thuật của tôi. Nhưng nếu mục đích của anh là thực chiến, tốt nhất hãy học phó quan của tôi. Gần đây hắn đang dưỡng bệnh ở nhà, phải chờ thêm một thời gian nữa mới quay lại.
Nói rồi, viên trung tá đặt dao nĩa xuống đĩa, ngửa cổ uống cạn chỗ bia nhạt còn lại. Thức ăn trên đĩa vẫn còn nhiều, nhưng xem ra hắn chẳng thiết ăn uống. Hắn nói với Winters:
- Ăn xong, chúng ta đi tìm vài phu bến tàu với người đánh xe, hỏi xem có manh mối gì không.
Nghe nhắc đến người đánh xe, Winters chợt nhớ tới gã đánh xe người Palatu ở nhà mình. Hắn lập tức báo với trung tá Field về hội kín của những người đánh xe, rồi nói ra suy đoán:
- Tôi nghĩ hội huynh đệ mà gã đánh xe nhắc tới có thể đã giúp thích khách xử lý cỗ xe. Ít nhất, nghe lời gã thì bọn họ có khả năng làm chuyện đó.
- Cũng đáng để ý đấy.
Field vuốt chòm râu lởm chởm dưới cằm, trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Ý của cậu rất hay. Biết đâu đám người sống chui rúc dưới cống ấy lại nắm được chút manh mối.
Hắn chộp lấy mũ, đứng dậy giục Winters:
- Đừng ăn nữa. Đi thôi, chúng ta tới phố Dân Nghèo. Nhưng trước khi đi phải tìm một người đã.
- Tìm ai?
Winters vội uống nốt mấy ngụm canh.
- Tìm một tay đánh đấm. Cậu là pháp sư hệ lửa, tôi là pháp sư hệ âm thanh, ra tay đánh nhau thì có ích quái gì? Đến cái nơi như phố Dân Nghèo, chỉ cần bốn năm người kẹp trước sau là hai ta toi mạng. Tôi nói mình cũng chẳng nể nang gì đâu. Vì thế phải tìm một tay đánh đấm đi cùng. Tôi sẽ dẫn cậu tới gặp tay đánh đấm giỏi nhất ở Bộ chỉ huy Lục quân! Muốn học cách giết người thì phải học hắn.
Hai người vội vã rời câu lạc bộ sĩ quan. Dưới sự dẫn đường của Field, họ cưỡi ngựa về phía khu Đông.
Cuối cùng, Field dừng trước căn nhà số 122 phố Vỏ Sò. Đó là một dãy nhà xinh xắn xây bằng gạch đá. Một bà lão hiền hậu, mặc váy tạp dề màu xám, đầu quấn khăn xanh điểm hoa nhỏ, ra mở cửa cho trung tá Field. Thấy hắn, bà không hề ngạc nhiên, rõ ràng Field thường lui tới nơi này.
Field cúi người chào, chẳng buồn hỏi han xã giao, đi thẳng vào việc:
- Anh ấy có nhà không?
- Chắc đang ngủ trên lầu.
Bà lão chỉ lên tầng trên.
Field gật đầu rồi bước vào. Winters theo sau, đi ngang qua bà lão cũng cúi người chào.
Vừa vào nhà, trước mắt họ là một hành lang ngắn và hẹp. Đế ủng giẫm lên sàn gỗ kêu cót két, chứng tỏ bộ khung đỡ bên dưới đã đến lúc phải sửa sang.
Họ men theo cầu thang lên tầng hai. Cuối cầu thang có một ô cửa sổ nhỏ, bên phải là phòng sinh hoạt rộng rãi. Trên lớp giấy dán tường màu đỏ sẫm không treo món đồ trang trí nào, cũng chẳng có bàn thờ hay ảnh Đức Mẹ thường thấy trong nhà dân. Một chiếc ghế bành đặt trước lò sưởi, khẽ đung đưa theo gió. Trên bàn viết và bàn trà, ngoài mấy chiếc ly, đâu đâu cũng chất những chai rượu đã uống cạn.
Trung tá Field có vẻ đã quá quen với cảnh này. Hắn đi thẳng tới cánh cửa bên trong phòng sinh hoạt, nện mạnh mấy tiếng.
Không ai đáp.
Hắn gõ mạnh hơn.
Vẫn im lìm.
Hắn thử đẩy cửa, nhưng cửa không nhúc nhích.
Trung tá lùi lại mấy bước, tung chân đá mạnh. Cánh cửa bật tung.
Trong phòng tối om, mùi rượu của cơn say đêm trước nồng nặc xộc ra. Field bước vào, thuần thục kéo rèm rồi mở tung cửa sổ gỗ.
Nắng và luồng không khí trong lành ùa vào. Lúc này Winters mới nhìn rõ bên trong.
Đó là một phòng ngủ nhỏ. Chiếc giường đơn kê sát góc tường, bên cạnh là tủ quần áo. Đối diện giường có một chiếc bàn viết, trên lưng ghế trước bàn vắt mấy bộ quần áo.
Một người đang nằm ngáy khò khò trên giường. Field đá cửa ầm ĩ như vậy mà hắn vẫn chẳng tỉnh.
Cửa sổ vừa mở, ánh sáng tràn vào. Người trên giường chỉ kéo chăn trùm kín đầu.
- Trưa đến nơi rồi mà vẫn còn ngủ à?!
Field quát người trên giường.
Nhưng người kia chẳng buồn phản ứng.
Field cầm chai rượu trên tủ đầu giường, giơ lên nhìn. Trong chai chỉ còn non nửa.
- Mới giữa ban ngày đã uống rượu rồi sao?
Trung tá bực bội lên tiếng.
Người trên giường vẫn nằm im.
Field giật phắt chăn ra, rồi dốc chỗ rượu còn lại trong chai lên đầu hắn.
Chủ nhân căn phòng giật mình tỉnh giấc, lập tức với tay chụp thanh kiếm dưới đất. Đến khi nhận ra người đứng cạnh giường là Field, hắn mới thở phào, ném thanh kiếm trở lại chỗ cũ.
Chủ nhân căn phòng giơ cánh tay lên ngửi, nhăn mặt hỏi:
- Anh không tè lên người tôi đấy chứ?
- Dù sao cũng là đồ của anh thôi.
Field nhún vai.
Chủ nhân căn phòng chỉ vào tai mình, nói lớn:
- Giờ tôi chẳng nghe thấy gì cả.
Winters nhìn rõ mặt người ấy, bất giác buột miệng:
- Thiếu tá Moritz?