Tề Huyền Tố rời quảng trường Thái Thanh, men đường trở về phường Hải Thiềm. Vừa bước qua cổng phường phía bắc, hắn đã gặp hàng xóm là đạo cô Thôi.
Tề Huyền Tố thu lại những suy nghĩ ngổn ngang, nở nụ cười chào:
- Thím Thôi.
- Tiểu Tề đấy à. Vừa hay, ban nãy người của ty phường có tới tìm cậu. Họ bảo có người gửi đồ cho cậu, dặn cậu đến nhận. Lúc ấy cậu không có nhà, nên nhờ ta nhắn lại.
Tề Huyền Tố hơi ngạc nhiên:
- Làm phiền thím rồi.
- Người một nhà cả, khách sáo làm gì.
Đạo cô Thôi không nán lại nói chuyện. Bà vẫy một chiếc xe bò, rồi vội vã rời đi.
Tề Huyền Tố đổi hướng, đi về phía ty phường.
Ngọc Kinh được chia thành các phường, song không theo lối quản lý phường thị ngày xưa. Thành không cấm đi lại ban đêm, cũng chẳng hạn chế người ra vào. Hai mươi bốn phường của Ngọc Kinh rộng lớn vô cùng, mỗi phường gần bằng mấy phường trong những tòa thành cổ cộng lại.
Đạo môn đặt tại mỗi phường một ty phường, tổng cộng hai mươi bốn ty. Công việc của họ khá giống ty binh mã năm thành ở kinh đô, chuyên tuần tra đường phố, canh gác ban đêm, khơi thông quét dọn đường sá, cống rãnh và trông coi việc phòng hỏa.
Về sau, quyền hạn của ty phường ngày một lớn. Chuyện xích mích hàng xóm, hòa giải tranh chấp, cấp giấy xác nhận… cũng dần do ty phường phụ trách. Nơi đây còn kiêm một phần chức năng trạm dịch. Thư từ, bưu kiện đều được người đưa tin của Đạo môn chuyển đến ty phường tương ứng, sau đó ty phường phái người báo cho chủ nhân tới nhận.
Ty phường là một tòa nhà hai lớp sân. Tề Huyền Tố bước qua gian gác cổng, thấy ngay căn phòng đầu tiên là nơi nhận bưu kiện. Phòng chia thành gian trong và gian ngoài. Gian ngoài kê một chiếc bàn cùng một chiếc ghế. Một nữ đạo cô ngồi sau bàn, tay nâng quyển truyện có tranh màu, say mê đọc đến mức chẳng hề hay biết Tề Huyền Tố đã bước vào.
Tề Huyền Tố liếc qua. Tranh trong sách vẽ một chàng công tử phong nhã và tiểu thư con nhà giàu, bên bờ suối mùa hạ, hàng liễu rủ bóng. Xem ra là loại truyện tài tử giai nhân.
Hắn đứng chờ một lúc. Thấy nữ đạo cô vẫn chìm trong sách, hắn đành đưa tay gõ nhẹ lên mặt bàn.
Nữ đạo cô lúc ấy mới giật mình tỉnh lại. Nhìn thấy Tề Huyền Tố, nàng vội đánh dấu trang, khép quyển truyện trong tay rồi hỏi:
- Vị đạo hữu này…
Tề Huyền Tố nói:
- Tôi tới nhận đồ. Tên là Tề Huyền Tố.
- Xin chờ một lát.
Nữ đạo cô đứng dậy, đi vào gian trong. Chẳng bao lâu sau, nàng mang ra một gói đồ lớn cỡ chiếc tráp đựng đồ trang sức. Bên ngoài bọc giấy dầu, miệng gói niêm bằng sáp đỏ.
Sáp niêm là loại sáp được nung chảy trên ngọn lửa rồi phết lên chỗ phong kín. Sau đó người ta đóng dấu lên trên, để người nhận biết phong thư chưa bị mở.
Nữ đạo cô đặt gói đồ lên bàn:
- Xin đạo hữu đưa giấy thân phận ra để tránh có kẻ mạo nhận.
Tề Huyền Tố làm theo, lấy giấy thân phận của mình đưa cho nàng. Nữ đạo cô kiểm tra không sai sót, rồi trao cả giấy lẫn gói đồ cho hắn.
Tề Huyền Tố cảm ơn, cầm bưu kiện rời khỏi ty phường.
Nữ đạo cô chẳng để tâm đến chuyện nhỏ ấy, lại chìm vào thế giới trong quyển truyện.
Về tới nhà, Tề Huyền Tố đi thẳng vào thư phòng. Hắn nhìn tên ghi trên lớp sáp niêm, chỉ thấy hai chữ “A Thất”, không khỏi bật cười.
Nghĩ đi nghĩ lại, người có thể gửi bưu kiện cho hắn chỉ có Thất nương. Hai chữ “A Thất” càng chứng thực suy đoán ấy.
Chỉ là cái tên “A Thất” mang đậm vẻ thiếu nữ, khiến Tề Huyền Tố bất giác cảm khái. Năm tháng chẳng tha người, A Thất cuối cùng cũng đã biến thành Thất nương.
Hắn xé lớp giấy dầu bên ngoài. Quả nhiên bên trong là một chiếc tráp đựng đồ trang sức, trên tráp có một ổ khóa nhỏ.
Loại khóa này không có chìa. Hình dáng của nó giống một thanh trụ tròn đặt ngang, chia thành bốn đoạn. Mỗi đoạn đều có thể xoay lên xuống, trên mỗi đoạn khắc chín ký hiệu, tổng cộng ba mươi sáu ký hiệu.
Muốn mở khóa, phải xoay đúng cả bốn chữ. Nếu thử sai ba lần, cơ quan trong tráp sẽ lập tức phát động, hủy sạch đồ vật bên trong.
Tề Huyền Tố trầm ngâm giây lát. Dựa vào hiểu biết của mình về Thất nương, hắn lần lượt xoay ra bốn chữ “Thiên”, “Hạ”, “Thái”, “Bình”. Đó chính là dòng chữ khắc trên đồng tiền Thái Bình.
Một tiếng động khẽ vang lên, nhưng ổ khóa vẫn im lìm. Lần thử đầu tiên đã mất.
Tề Huyền Tố hơi bất ngờ. Hắn lại xoay ra bốn chữ “Thừa”, “Bình”, “Vô”, “Ưu”, là những chữ khắc trên đồng tiền Vô Ưu.
Vẫn sai.
Tề Huyền Tố bắt đầu căng thẳng. Hắn suy nghĩ hồi lâu, sau đó mới chậm rãi xoay ra bốn chữ “Bình”, “An”, “Như”, “Ý”, cũng là dòng chữ trên đồng tiền Như Ý.
Một tiếng “cạch” vang lên.
Ổ khóa bật mở.
Nắp tráp tự động mở ra. Bên trong chia thành hai tầng. Tầng thứ nhất đặt một phong thư. Trên phong bì dùng lối chữ chân nhỏ, ngay ngắn viết: “Thân gửi Thiên Uyên”. Cuối thư đề tên “Thất nương”.
Tề Huyền Tố cầm phong thư lên. Thấy miệng thư không niêm sáp, hắn liền rút ra hơn mười tờ giấy viết thư.
Nét chữ nhỏ thanh tú, mềm mại đến mức người ta dễ liên tưởng tới thiếu nữ A Thất với đôi mắt trong như nước thu, lạnh như sao băng, chứ không phải Thất nương, kẻ từng giết người cho vay nặng lãi.
Trong thư, Thất nương nói về ba việc.
Việc đầu tiên là chuyện ở huyện Phượng Đài. Sau khi báo cáo lên hội Thanh Bình, hội quyết định chuyển Tề Huyền Tố thành thành viên chính thức, từ thành viên vòng ngoài trở thành người trong hội. Tên hiệu của hắn vẫn là “Kim Thác Đao”, hiện có sáu trăm công lao, dùng tên giả Ngụy Vô Quỷ.
Hai việc còn lại đều liên quan tới chuyện hắn trở thành thành viên chính thức.
Trước hết là quyền lợi sau khi chuyển chính thức. Bùa Tử Mẫu vốn mỗi năm được phát một lần, nay đổi thành mỗi tháng một lần. Mỗi tháng hắn còn nhận mười đồng tiền Vô Ưu, một viên đan Huyết Long và một viên đan Tử Dương. Việc cấp phát sẽ bắt đầu từ tháng Chín.
Ngoài ra, Tề Huyền Tố cũng có quyền tham gia các buổi hội họp hạng Ất của hội Thanh Bình.
Theo lời Thất nương, hội Thanh Bình không chia cấp bậc chặt chẽ như Đạo môn, chỉ có bốn hạng Giáp, Ất, Bính, Đinh. Hạng Đinh là thành viên vòng ngoài, hạng Bính là thành viên chính thức, hạng Ất là tinh nhuệ, còn hạng Giáp là thành viên nòng cốt.
Hiện giờ Tề Huyền Tố thuộc hạng Bính. Thất nương lại là hạng Ất, mà Tề Huyền Tố được xếp dưới danh nghĩa của nàng, nên hắn có thể tham dự các buổi hội họp hạng Ất.
Mãi đến lúc này, Tề Huyền Tố mới biết thành viên trong hội Thanh Bình được chia thành hai loại.
Một loại là thành viên độc lập, tự nguyện gia nhập hội Thanh Bình. Loại kia là thành viên lệ thuộc, vì nhiều nguyên nhân mà bị ép phải gia nhập.
Thành viên độc lập chỉ được hưởng quyền lợi tương ứng với cấp bậc của mình, nhưng mọi việc đều có thể tự quyết. Tề Huyền Tố thuộc loại thành viên lệ thuộc, dưới quyền Thất nương. Cái lợi là hắn có thể hưởng một phần quyền lợi của nàng, chẳng hạn được tham gia hội họp hạng Ất. Khi có chuyện, Thất nương cũng sẽ lo liệu hậu quả giúp hắn mà không lấy một đồng phí nào.
Cái bất lợi là hắn mất đi một phần quyền tự chủ. Ví dụ như việc chọn nhiệm vụ, từ nay sẽ do Thất nương toàn quyền quyết định.
Tề Huyền Tố không có ý kiến gì về chuyện ấy. Bao nhiêu năm nay hắn đã sống như vậy, thấy cũng chẳng có gì không ổn.
Muốn tham gia hội họp, hắn cần chuẩn bị một nghi thức pháp thuật. Thất nương đã gửi riêng những vật liệu cần thiết, cách sử dụng và bảng kê chi phí. Mọi khoản đều trừ vào số tiền dành dụm phòng lúc chết mà Tề Huyền Tố gửi ở chỗ nàng. Hiện giờ số tiền ấy chỉ còn chưa tới một trăm đồng Vô Ưu.
Tề Huyền Tố đặt thư xuống, mở tầng thứ hai của chiếc tráp.
Tầng này sâu hơn tầng trên gấp mấy lần. Bên trong đặt hai cây nến, một hộp hương sợi, một chiếc hồ lô nhỏ màu đỏ son, một xấp giấy bùa trắng, một hộp chu sa, một cây bút đỏ và một thẻ hình con cá.
Thẻ cá là giấy tờ chứng minh thân phận của Tề Huyền Tố, được hội Thanh Bình dùng pháp thuật bí truyền chế tạo, mỗi thẻ chỉ có một chiếc duy nhất. Tùy màu sắc, thẻ được chia thành bốn loại: trắng ngọc, tím vàng, đỏ bạc và xanh đồng.
Chiếc thẻ của Tề Huyền Tố có màu đỏ bạc, trên mặt khắc ba chữ “Kim Thác Đao”.
Ngoài việc chứng minh thân phận, thẻ cá còn có hai công dụng.
Một là chìa khóa để tiến vào hội họp. Hai là vật chứa đồ.
Vật chứa đồ có thể nhét cả núi Tu Di vào một hạt cải, lấy đồ vật ra từ khoảng không. Tùy phẩm chất, không gian bên trong lớn nhỏ khác nhau. Không gian trong chiếc thẻ cá đỏ bạc này cực kỳ nhỏ, chỉ tương đương chiếc tráp Thất nương gửi tới. Nó chỉ đủ dùng để cất những vật liệu cần cho nghi thức pháp thuật.
Muốn tiến vào hội họp, phải thông qua nghi thức pháp thuật.
Tề Huyền Tố kiên nhẫn chờ đến nửa đêm, đúng giờ Tý, rồi làm theo cách Thất nương ghi trong thư, bắt đầu chuẩn bị pháp thuật.
Trước tiên, hắn rót từ chiếc hồ lô đỏ son ra một chén máu Chúc Long giả.
Chúc Long là sơn thần thời thượng cổ. Nó mở mắt thì trời sáng, nhắm mắt thì đêm xuống; thở ra thành mùa đông, hít vào hóa mùa hạ. Máu của nó dĩ nhiên có công dụng thần kỳ.
Chỉ tiếc Chúc Long đã biến mất khỏi nhân gian từ lâu, máu của nó càng không thể tìm thấy. Về sau, Đạo môn nghiên cứu chế ra máu Chúc Long giả. Hiệu lực chỉ bằng một phần mười hàng thật, nhưng giá vẫn đắt ngang vàng trên chợ đen.
Tề Huyền Tố dùng máu Chúc Long giả vẽ một đồ hình hai con cá trên mặt đất. Sau đó, hắn đặt hai cây nến đen trắng vào vị trí hai mắt cá rồi châm lửa.
Hai cây nến này đều không phải vật phàm.
Nến đen được làm từ mỡ máu của loài Ly Lực. Nó có hình dáng giống lợn, chân mọc móng gà, tiếng kêu nghe như chó sủa, lại giỏi đào đất. Nơi nó đi qua, mặt đất sẽ nhấp nhô như sóng.
Nến trắng được làm từ mỡ máu của loài Phi Phi. Nó trông giống mèo rừng, trên mình phủ bờm dài, đuôi trắng muốt. Nuôi nó bên cạnh có thể giúp con người vơi bớt ưu phiền.
Cả hai đều là dị thú hiếm gặp.
Hộp hương sợi kia cũng không tầm thường. Đó là thứ hương nổi danh có tên Hương Gọi Hồn.
Tương truyền trong tiên cảnh Côn Luân có một loài cây gọi là cây Gọi Hồn. Cây giống phong, giống bách; hoa lá tỏa hương, đứng cách xa trăm dặm vẫn ngửi thấy. Người ta đào rễ cây, nấu trong nồi nước rồi lấy nước cốt, luyện đến khi đặc quánh như sơn, thế là thành Hương Gọi Hồn.
Mùi hương của nó lan xa hàng trăm dặm. Xác chết nằm dưới đất, chỉ cần ngửi thấy hương cũng có thể sống lại, bởi vậy mới gọi là Hương Gọi Hồn.
Loại Hương Gọi Hồn Thất nương gửi cho Tề Huyền Tố không có dược lực thần diệu đến vậy, chỉ đủ làm thần hồn ấm khỏe dần lên. Dù thế, nó vẫn đắt kinh người. Một que hương đã đáng giá một đồng Vô Ưu.
Mấy trăm năm trước, ba thứ này đều là vật hiếm có, muốn mua cũng chẳng nơi nào bán. Sau một trận đại biến xảy ra cách đây vài trăm năm, rất nhiều dị thú và dược liệu vốn đã tuyệt tích lại theo các vị cổ tiên trở về nhân gian.
Đạo môn lập tức quản thúc những vật ấy. Nói cho đúng, chỉ Đạo môn mới có thể sản xuất chúng. Vậy mà nay chúng lại nằm trong tay hội Thanh Bình. Lời Trương Nguyệt Lộc nói rằng phía sau các hội kín đều có những nhân vật lớn trong Đạo môn âm thầm chống lưng, quả nhiên không phải lời đồn vô căn cứ.
Tề Huyền Tố đặt thẻ cá vào chính giữa đồ hình hai con cá. Sau đó, hắn làm theo hình mẫu Thất nương gửi, chấm bút đỏ vào chu sa rồi vẽ bùa trên giấy trắng.
Cây bút đỏ đáng giá năm đồng Vô Ưu. Cán bút làm từ trúc đốm, màu xanh pha những chấm đen như sao. Đầu bút đỏ au, sáng trong, dùng lông đuôi của một con chồn vàng đã tu luyện thành tinh chế thành. Dùng nó vẽ bùa, công hiệu tăng lên gấp bội.
Tề Huyền Tố liền mạch vẽ xong hai lá bùa.
Cuối cùng, hắn lấy lư hương ra, đốt một que Hương Gọi Hồn, rồi lần lượt đốt hai lá bùa đã vẽ trên ngọn nến đen và nến trắng.
Làm xong mọi việc, Tề Huyền Tố nhắm mắt ngồi yên. Chẳng bao lâu sau, một cơn buồn ngủ không sao cưỡng nổi ập tới.
Hai ngọn nến vụt tắt.
Vết máu trên mặt đất nhạt dần, chỉ còn khói hương bảng lảng và chấm đỏ nơi đầu que hương, lúc sáng lúc mờ trong bóng tối.
Tề Huyền Tố vẫn ngồi xếp bằng, sắc mặt bình thản, hơi thở đều đặn. Chẳng mấy chốc, hắn chìm vào giấc ngủ say.