Là một tu sĩ có thiên phú luyện đan, Ngô Thăng được nhà họ Thẩm hết lần này đến lần khác níu kéo, mong hắn trở về với gia tộc. Nhưng hắn đâu muốn ở lại Bình Dư. Trên đầu hắn còn mang hai lệnh truy nã, chẳng biết ngày nào thân phận giả sẽ bị vạch trần. Đến lúc ấy, hắn sẽ kết thù với nhà họ Thẩm mất.
Hắn từ chối mãi, rồi lại hết lời hứa sẽ giữ liên lạc, ra sức bày tỏ lòng gắn bó với gia tộc. Cuối cùng, hắn mới thoát thân được.
Rời khỏi Bình Dư, thấy Ngô Thăng đã quyết ý lên đường, Kim Vô Huyễn hỏi:
- Ngô huynh định đi đâu?
Ngô Thăng nghĩ ngợi rồi đáp:
- Ta chưa quyết. Nhưng dù sao cũng phải tìm một nơi vừa yên ổn, vừa đông vui náo nhiệt, không để người nước Sở và học cung Tắc Hạ tìm ra, mà vẫn có thể qua lại với giới tu hành. Cuộc sống êm đềm như hai vợ chồng đệ trốn trong núi, hiện giờ ta chẳng dám mơ tới.
Trốn trong núi tuy an toàn, nhưng không thể giao thiệp bình thường với các tu sĩ. Không có dịp qua lại, biết kiếm tiền đâu mà tu hành?
Thẩm nương tử chợt lên tiếng:
- Ta biết một nơi. Đi về phía đông tám mươi dặm, bên bờ Dĩnh Thủy có ngọn núi tên Lang Sơn. Phía tây bắc giáp nước Sái, phía đông bắc giáp nước Trần, phía nam giáp nước Sở, là vùng ranh giới ba nước. Trong núi có nhiều tán tu không thuộc môn phái nào. Dưới chân núi có đầm tên Liên Phố. Cứ mồng một và ngày rằm, chợ họp bên bờ đầm, người trong giới tu hành thường đến đó gặp gỡ. Mỗi năm ta đều tới một hai lần, đem dược liệu trong vườn thuốc bán đi, đổi lấy những thứ cần cho việc tu hành…
Mắt Ngô Thăng sáng lên, hắn vỗ tay khen:
- Được đấy!
Kim Vô Huyễn và Thẩm nương tử định đi cùng hắn, nhưng Ngô Thăng từ chối:
- Hai vợ chồng đệ thật coi ta như trẻ con à? Ta đã bôn ba giang hồ bao năm…
Thẩm nương tử che miệng cười:
- Chẳng phải huynh vừa tròn hai mươi tuổi sao?
Ngô Thăng cười đáp:
- Dẫu ta mới hai mươi thì cũng đâu cần hai vợ chồng đệ lo lắng?
Ba người bèn chia tay. Nghe theo lời Thẩm nương tử chỉ đường, Ngô Thăng đi về phía Lang Sơn.
Lang Sơn không cao, nhưng núi non trùng điệp, kéo dài qua mấy chục ngọn, xen giữa là hơn chục khe núi. Cây cối um tùm, chim chóc bay thành đàn.
Vùng ranh giới ba nước phần lớn đều là đất chẳng ai quản. Vì thế, không ít tán tu, kể cả những kẻ từng gây chuyện, đều ẩn cư tu hành ở Lang Sơn, tựa như vùng đầm lớn nơi Ngô Thăng từng lánh đời.
Một nhánh của Dĩnh Thủy là sông Hoằng Thủy chảy vòng quanh Lang Sơn, gần như biến nơi này thành một bán đảo. Chỉ có phía đông nam, qua quãng đường hơn hai dặm, mới nối liền với nước Sở.
Vào núi, Ngô Thăng bắt đầu tìm chỗ ở. Hắn có thể chọn hang núi, hoặc tự dựng nhà, nơi nào cũng được. Men theo nơi linh khí đất trời dồi dào mà đi, hắn đến bên một ngọn thác. Quả nhiên, chỗ này đã có người chiếm trước. Tựa vào sườn núi là một tòa nhà dựng trên vách đá, nhà cửa lẫn tường viện đều xây bằng đá, trông biết chủ nhân đã dày công sửa sang.
Nơi này tên là Thạch Bộc Đài. Tấm biển treo dưới mái hiên cheo leo, nom cũng có đôi phần thi vị.
Đây quả là chỗ ẩn cư tuyệt đẹp, linh khí khá dồi dào. Nếu Ngô Thăng tu hành ở đây, mỗi ngày hẳn có thể chuyển hóa hơn hai hạt linh sa, bằng công phu hai ngày ở nơi khác. Dĩ nhiên, với hắn thì chuyện ấy cũng chẳng ích gì bao nhiêu. Điều hắn ưng nhất là cảnh sắc nơi này.
Tiếc rằng trong giới tu hành có lệ ai đến trước được trước. Ngô Thăng tiếc nuối lắm, đành đi tiếp.
Men theo khe suối ngược lên, đi chừng nửa canh giờ, hắn lại gặp một đầm sâu nước biếc. Nơi đây vắng vẻ kín đáo, linh khí cũng không tệ.
Ngô Thăng đưa mắt nhìn quanh, không thấy dấu vết có người ở. Đang cân nhắc thì trên vách đá bên đầm chợt hiện ra một làn khói. Trong làn khói, một lão tu sĩ tuổi đã cao bước ra.
Thì ra động phủ được che bằng ảo trận.
Lão tu sĩ chống gậy sắt, đánh giá Ngô Thăng rồi hỏi:
- Tiểu hữu đến đầm Yên Ba của ta, có việc gì?
Ngô Thăng đã chuẩn bị sẵn lời, bèn hỏi:
- Xin hỏi tiền bối, nơi đây có bán pháp khí không?
Lão tu sĩ lắc đầu:
- Đầm Yên Ba của ta không bán pháp khí, chỉ bán linh đan.
Thì ra là một vị đan sư hiếm gặp. Ngô Thăng cung kính nói:
- Vậy khi nào cần linh đan, vãn bối sẽ lại đến làm phiền tiền bối.
Hắn vừa đi vừa hỏi thăm, ghé hơn mười động phủ. Những nơi linh khí dồi dào quả nhiên đều đã có người ở. Ngô Thăng không bực bội. Hắn đến sau, tu vi lại kém, vốn chẳng có cớ gì để khó chịu, cứ xem như dịp bái phỏng các tu sĩ trong núi.
Bảy ngày sau, cuối cùng Ngô Thăng cũng tìm được một nơi thích hợp để định cư, đó là một khoảnh đất bằng dưới chân vách núi.
Linh khí ở đây đương nhiên không thể sánh với những chỗ dồi dào kia. Nếu mỗi ngày ngồi thiền tu hành, hắn cũng chỉ thu được chừng một hạt linh sa. Nhưng Ngô Thăng chẳng trông mong gì vào đó. Tu hành của hắn trông cậy vào việc mua thật nhiều pháp khí và linh liệu. Nếu không, một năm tích cóp được vài trăm hạt linh sa, đến chết cũng chẳng mong tu thành.
Hắn ưng cảnh sắc nơi này. Một hang đá nằm sát vách núi cao chừng bảy tám trượng, bên cạnh có thác nước chảy xiết, gom lại thành một đầm sâu rộng khoảng một mẫu. Đúng như chỗ động phủ trong mơ của hắn.
Hang đá còn quanh co thông lên đỉnh núi, thêm được một lối thoát thân. Đầm sâu giải quyết luôn chuyện nước nôi, lại có thể nuôi cá, giúp hắn đỡ lo chuyện ăn uống.
Men theo sườn núi đi xuống, có rừng thông trúc rậm rạp. Trong rừng mọc măng, nấm trúc, hạt phỉ; thỏ rừng và dê vàng cũng không thiếu. Vừa có thức ăn, vừa có vật liệu dựng nhà.
Mấy ngày trước liên tiếp tìm nhầm chỗ đã khiến Ngô Thăng chẳng dám chắc nơi này là đất vô chủ. Hắn cứ mặc sức làm ầm lên, khi thì la hét, khi lại nhóm lửa nướng thịt. Suốt ba ngày trời, hắn mới xác nhận được.
Quả thật không có chủ!
Nghĩ lại cũng phải. Ai nấy đều tranh nhau chiếm những nơi linh khí dồi dào. Chỗ này trong mắt tu sĩ chẳng khác nào miếng ăn nhạt nhẽo, chẳng có gì đáng để ý.
Ngô Thăng quyết định dựng nhà. Vẫn theo lệ cũ, đốn cây làm nhà. Hắn dùng gỗ thông làm cột kèo, dùng trúc xanh ghép thành vách. Chỉ mấy ngày, ba gian nhà trúc đã dựng xong. Gian chính để tiếp khách, sinh hoạt và ngủ nghỉ; gian phía đông dùng nhóm lửa nấu ăn; gian phía tây để tắm rửa, giải quyết việc riêng.
Bên ngoài ba gian nhà trúc, như thường lệ là hàng rào trúc kinh điển. Ngô Thăng luôn cho rằng nhà ở trong núi mà thiếu hàng rào trúc thì chẳng thể gọi là trọn vẹn. Quan trọng hơn, mấy gian nhà được dựng khá rộng, che kín hẳn cửa hang vốn đã khó phát hiện.
Trong hang có một căn buồng đá tự nhiên, có thể dùng làm nơi luyện đan hoặc cất giữ đồ đạc. Từ hang đá có lối thông thẳng lên đỉnh núi. Trên đó rừng cây rậm rạp, cửa ra nằm giữa rừng, bị bụi cây um tùm che kín. Ngô Thăng chuyển một tảng đá lớn tới đặt lên lối ra, phía trên buộc thêm mấy cành thông. Trông kín đáo lắm, thế là xong!
Tiếp đó, hắn đóng giường, bàn, tủ và những đồ dùng trong nhà, dựng bếp, đào hố xí. Hắn còn dẫn nước từ thác về bằng ống trúc, vừa để uống, vừa để dội rửa nhà xí.
Trong người có chân nguyên, tuy không thi triển pháp thuật được nhưng thân thể nhẹ nhõm khỏe mạnh, làm việc chẳng thấy mỏi mệt. Đến ngày thứ mười bốn sau khi vào núi, nhà mới đã hoàn tất.
Hắn tìm một tảng đá lớn, dựng bên con đường núi ngoài rừng thông trúc, khắc thật rõ bốn chữ “Tùng Trúc Nhã Uyển”. Hắn muốn ngầm báo cho người ngoài biết rừng thông trúc này đã có chủ.
Lời tuyên bố kín đáo ấy trong thời gian ngắn chưa chắc đã có tác dụng. Người ta đi ngang qua, nên vào vẫn cứ vào. Nhưng tấm bia dựng lâu ngày, lời ngầm báo thấm dần, khu rừng rồi cũng sẽ từ từ thành của hắn.
Tối nhà mới hoàn thành, Ngô Thăng tự sửa soạn một bữa ngon thịnh soạn để ăn mừng. Hắn đánh một giấc thật ngon, sáng hôm sau liền xuống núi, đi đến bờ đầm Liên Phố.
Hôm nay là ngày mười tháng tư, đúng phiên chợ Liên Phố họp mỗi mười ngày.