Chương 181: Cái Niên Khinh Nhân Hất Bất Giảng Võ Đức - Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng

Trang chủ › Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng › Chương 181

Chương 181 - Cái Niên Khinh Nhân Hất Bất Giảng Võ Đức

☰ DS Chương 📖 2,769 chữ

Chương 181: Kẻ trẻ tuổi này thật chẳng màng võ đức

Từ Mạc là một vị đại thần có tài trị quốc, rường cột vững chãi của triều đình nhà Ngụy.

Thuở Vũ Đế Cào Thao còn đương triều, các bậc hiền tài phò tá thuở ấy như Tuân Úc, Tuân Du, Trưởng Ký đều đã qua đời, Chung Dao cũng vừa tạ thế trong năm nay. Tính đi tính lại, những lão thần kỳ cựu còn bám trụ nơi triều đường nay chỉ còn lại ông và Trần Quần.

Cái tư lịch ấy, đứng ở triều đình nhà Ngụy lúc bấy giờ chẳng ai bì kịp. Bản thân Từ Mạc thừa hiểu điều đó, nhưng ngoài niềm tự hào, trong lòng ông đôi khi vẫn dâng lên nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa.

Cảm thán cõi đời vô thường.

Bảy năm trước, nguyên Lương châu thứ sử Trưởng Ký bệnh mất, chẳng bao lâu sau Từ Mạc được cử lên thay thế. Từ đó, ông cắm rễ chốn Tây Bắc xa xôi, chưa từng một lần trở về Trung Nguyên.

Thời điểm ấy, Lưu Bị vừa thua trận Di Lăng rồi ngậm ngùi qua đời. Địa bàn của Thục Hán từ hai mươi ba quận bỗng chốc co cụm lại còn mười ba quận, phong ba bão táp vần vũ Xuyên Trung, nước Thục ngả nghiêng như ngọn đèn trước gió, tưởng chừng sắp mất nước đến nơi.

Nghĩ rằng nhà Thục Hán đã chẳng còn đáng ngại, chiến lược của nhà Ngụy liền dịch chuyển sang phía Đông.

Lúc bấy giờ, Từ Mạc cũng nghĩ như vậy.

Ông tưởng quãng đời làm quan của mình thế là khép lại. Cai quản một phương, mang lại phúc trùm cho dân chúng, cứ an ổn ngồi ghế Lương châu thứ sử cho đến ngày cáo quan về hưu, trải sẵn cho con cháu một con đường tương lai rạng rỡ, thênh thang.

Nhưng vạn lần ông không ngờ tới, Gia Cát Lượng lại có thể kéo Thục Hán từ bờ vực sinh tử trở về chỉ trong vòng vỏn vẹn bảy năm.

Không những kéo về, mà thế lực còn hùng mạnh hơn xưa.

Hễ nghĩ tới cảnh bản thân tuổi đã xấp xỉ sáu mươi, nay lại phải bước ra chiến trường đối mặt với những đợt tấn công như vũ bão của nhà Thục, trong lòng Từ Mạc tràn ngập nỗi ngán ngẩm.

Ngán ngẩm thì ngán ngẩm, nhưng với tư cách là một đại thần trấn thủ một phương, Từ Mạc không để cảm xúc tiêu cực ấy làm ảnh hưởng đến trọng trách trên vai. Vừa hay tin Trương Cáp thất trận, ông lập tức mở kho phủ, cấp phát vũ khí cho tướng sĩ. Sau đó, ông lệnh cho dân chúng ngoài thành dọn tất cả vào trong, đồng thời cho đốn hạ cây cối, san bằng toàn bộ nhà cửa ở vùng ngoại ô.

Thanh dã kiên bích, quyết không để quân Thục tận dụng được bất cứ thứ gì.

Từ Mạc nhận thức rõ ràng, cục diện nay đã khác.

Gác lại mười vạn đại binh mà nhà Ngụy đang bố trí ở Lũng Hữu và Quan Trung, chỉ tính riêng binh lực tại Lương châu, phe nhà Ngụy hiện tại đang rơi vào thế hoàn toàn hạ phong.

Lực lượng dưới trướng Mã Tắc ở vùng Khương tộc lên đến tận mười vạn người, trong đó năm vạn là kỵ binh tinh nhuệ, năm vạn còn lại là quân Khương thông thường. Chỉ cần khoác giáp lên người, năm vạn quân Khương kia lập tức hóa thành kỵ binh thiện chiến.

Thế còn binh lực của nhà Ngụy ở Lương châu thì sao?

Chỉ có chín nghìn người!

Lại còn bị phân tán ra ở tận ba thành trì.

Tỷ lệ binh lực một chọi mười khiến Từ Mạc làm sao có thể yên lòng cho nổi.

Ông chẳng trông mong Tư Mã Ý sẽ đến cứu viện.

Chính Tư Mã Ý cũng chẳng dám rời khỏi Lũng Hữu nửa bước.

Bởi vì nhà Thục vẫn còn một con bài tẩy chưa thèm tung ra.

Gia Cát Lượng sau khi rút quân khỏi Ngũ Trượng Nguyên, lại tiếp tục tập kết hơn mười vạn đại binh tại Tây Huyện.

Ý đồ của đối phương rõ như ban ngày.

Chờ thời cơ xuất kích qua Nhai Sơn, đánh chiếm năm quận Lũng Hữu.

Nếu tính cả binh mã dưới trướng Mã Tắc, nhà Thục Hán đã gom lại hơn hai mươi vạn quân ở chiến tuyến phía Tây nhà Ngụy!

Trước tình thế hiểm nghèo nhường ấy, Tư Mã Ý tuyệt đối không dám hành động tùy tiện, và điều duy nhất Từ Mạc có thể làm lúc này là tận lực hết sức mình, còn thành bại đành phó mặc cho trời.

Ngoài chuyện đó ra, điều khiến Từ Mạc phiền lòng không chỉ có vậy, mà còn cả thời tiết nữa.

Khí hậu chốn Tây Bắc khô hanh hơn Trung Nguyên rất nhiều, gió cát thổi mịt mù, mỗi ngày miệng họng đều tự khắc nuốt vào không ít bụi đất. Môi thường xuyên nứt nẻ, qua mấy năm trời phơi dãi dưới ánh nắng gay gắt, hai gò má của ông đã rám lại một màu đỏ tía.

Mỗi khi đi tuần thú Lương châu, thế nào cũng có kẻ nhận nhầm ông thành một lão nông làm ruộng, khiến ông dở khóc dở cười.

Thấy trời đã sẫm tối, Từ Mạc xoa xoa đôi mắt nhức mỏi vì gió thổi, thu hồi ánh mắt rồi thở dài thườn thượt.

Thủ thành ư, chắc chắn không giữ nổi.

Trừ phi bệ hạ phái thêm đại binh đến đây cứu viện.

Nhưng vấn đề ở chỗ, đại binh của đại Ngụy tuy nhiều, ngặt nỗi bốn bề đều là kẻ thù. Phía Bắc có tộc Khả Bì Năng đang nhăm nhe dòm ngó, phía Đông Bắc có Công Tôn Uyên, phía Đông Nam có Tôn Quyền, phía Tây Nam có Thục Hán, phía Tây Bắc lại thêm Mã Tắc.

Trong số những đối thủ này, chẳng có tên nào là kẻ dễ chọc cả.

Đang lúc ưu tư, thám mã bẩm báo rằng Mã Tắc đã hạ đại doanh ở cách cổng Bắc hai mươi dặm.

- Theo dõi chặt chẽ mọi hành động của chúng, hễ có gì bất thường, lập tức về báo ta!

Thám mã cúi đầu lĩnh mệnh lui ra.

Một đêm trôi qua không có chuyện gì xảy ra.

Sáng hôm sau, Từ Mạc hãy còn chìm trong giấc ngủ đã bị đánh thức bởi những tiếng ồn ào náo loạn bên ngoài.

- Đại nhân, không ổn rồi, quân Thục kéo đến đánh thành rồi!

- Cái gì?! - Từ Mạc giật mình chồm dậy từ trên giường, mặt đầy vẻ khó tin.

Trong thâm tâm, ông sớm đã khẳng định Mã Tắc không dám đem quân tấn công thành trì.

Bốn nghìn quân so với ba nghìn quân, Mã Tắc lấy cái gì mà đánh thành?

Đến cái thang mây ngươi còn chẳng có cơ mà!

Từ Mạc vội vã mặc giáp, chạy lên đầu thành, nheo mắt nhìn ra xa.

Chỉ thấy lá cờ đại súT bay phần phật trong gió phất phơ thêu chữ "Mã". Một đám kỵ binh vừa xuống ngựa, tay giương mộc thuẫn, vừa hò hét vừa áp sát cửa Bắc.

Chúng chẳng có thang mây, cũng chẳng có xe xung xa.

Cứ thế nghênh ngang xông tới.

Rồi đứng dưới chân thành khua tay múa chân một hồi, phát hiện không leo lên nổi, lại tiu nghỉu quay đầu rút lui.

Đôi mắt Từ Mạc nheo lại thành một đường chỉ, thân mình vô thức rướn về phía trước, hai khuỷu tay tì lên tường thành, trong đầu nhanh chóng phân tích tình hình.

Quân Thục đang giở trò gì thế này? Tấn công thành ư? Không đời nào! Không thang mây, không xe xung xa, định đánh thành kiểu gì? Mọc cánh bay lên chắc?

Hay là định cười chết lão phu để kế thừa gia sản nhà này đây?

Suy đoán hoang đường ấy vừa xẹt qua đầu Từ Mạc liền bị ông gạt phắt đi.

Dù chưa rõ mười vạn đại quân của Mã Tắc đang trôi dạt về phương nào, nhưng rõ ràng hiện tại Mã Tắc đích thực chỉ có ba bốn nghìn quân trong tay. Vậy thì... rốt cuộc quân Thục làm thế này vì mục đích gì?

Nghĩ ngợi nửa ngày, ngoài việc đang giở trò bịp bợm ra, ông chẳng tài nào nghĩ ra lý do nào khác.

Mấy năm nay, công tác tình báo của nhà Ngụy đối với Thục Hán có phần chểnh mảng, sự hiểu biết của ông về Mã Tắc vô cùng hạn hẹp, chỉ rút ra được kết luận "Mã Tắc rất giỏi giở trò lừa đảo" từ vài lần giao phong ngắn ngủi trước đây.

Nhưng dù thế nào đi nữa, việc quân Thục đang nắm giữ ưu thế tuyệt đối là một sự thật rành rành như đinh đóng cột. Vậy thì Từ Mạc chỉ có nước thu mình cố thủ trong thành, mặc cho Mã Tắc có khiêu khích kiểu gì đi nữa, cứ lấy tĩnh chế động, lờ đi là xong.

Nghĩ đoạn, Từ Mạc ngẩng đầu lên, nhìn quanh hai vị phó tướng đứng hai bên, vẫy tay ra hiệu rồi bảo:

- Các ngươi hãy cẩn trọng canh giữ thành trì, hễ địch quân dám bén mảng lại gần, cứ dùng cung tên mà bắn hạ.

Hai vị phó tướng vội vàng đáp lời:

- Tuân lệnh!

- Thêm nữa, cứ nửa canh giờ lại phải bẩm báo động tĩnh của quân Thục dưới chân thành cho ta biết rõ.

- Vâng, vâng, mạt tướng tuân lệnh.

Dặn dò xong xuôi, Từ Mạc hài lòng gật đầu, định quay người đi về phủ.

Chợt nghe bên tai có tiếng hô hoãn vang lên:

- Tướng quân, mau nhìn kìa!

Từ Mạc vội quay người lại, nhìn theo hướng ngón tay của vị phó tướng đang chỉ.

Chỉ thấy đội hình quân Thục bên ngoài đang vô cùng lộn xộn, binh lính thì thu cờ giấu giáo, ủ rũ cúi gằm đầu.

Mã Tắc đang chống hai tay vào hông, một tay cầm chiếc roi ngựa, vừa vung lên quất túi bụi vào một vị phó tướng, vừa lớn tiếng quát mắng. Tiếng thét vang dội vọng cách xa nửa dặm vẫn nghe rõ mồn một.

Bốp!

- Bản tướng lệnh cho ngươi đánh thành, ngươi dám kháng lệnh không tuân phỏng?

- Ái chà... tướng quân xá tội, không có thang mây với xe xung xa, mạt tướng thực sự lực bất tòng tâm mà...

- Ta mặc kệ ngươi, ta lệnh cho ngươi lập tức, ngay bây giờ phải đánh thành cho ta. Trong vòng ba ngày mà không hạ được thành này, bản tướng đem cái đầu của ngươi ra hỏi tội!

Bốp!

- Ấy, tướng quân tha mạng...

Bốp!

- Ái chà, tướng quân nương tay chút...

Bốp bốp bốp!

- ...

Trên đầu thành, hai vị phó tướng ngẩn người ngắm nghía một hồi, ngập ngừng lên tiếng:

- Đại nhân, quân Thục trận thế rối loạn, binh lính chẳng còn chút chí khí chiến đấu nào. Nếu quân ta nhân cơ hội này xuất kích, dù không thể bắt sống Mã Tắc, thì ít ra cũng giành được một trận đại thắng đấy!

Khóe miệng Từ Mạc nhếch lên, đầy vẻ khinh miệt:

- Chút trò mèo, đừng hòng lừa được ta!

Nói thì nói vậy, kỳ thực trong lòng Từ Mạc cũng đang bán tín bán nghi.

Theo lý mà nói, Mã Tắc không nên chỉ có chút trình độ này, lại đi dùng cái mưu kế vụng về từng được Mã phu Trương Phi dùng để lừa gạt ông cơ chứ.

Mấy trò lừa trẻ con ấy, ngay cả một kẻ võ biền như Nghiêm Nhan còn chẳng lừa nổi, mà lại muốn qua mắt được Từ Mạc này ư?

Đùa chắc!

Từ Mạc lười biếng xem màn kịch vụng về này thêm nữa, xoay người định bước đi.

Hai vị phó tướng bỗng trừng trừng trợn mắt hét lên:

- Đại nhân mau nhìn kìa!

Lại xảy ra chuyện gì nữa đây?

Từ Mạc đành vội vã quay người lại lần nữa.

Chỉ thấy ở phía sau đội hình quân Thục, bảy tám tên lính tách ra từ hậu quân theo bốn năm hướng khác nhau, tay lê lết binh khí, lủi thủi biến mất vào vùng đồng hoang.

Toàn bộ quá trình ấy, chỉ có những tên lính ở hàng sau hay biết, nhưng chẳng một ai lên tiếng.

Còn Mã Tắc đang đứng tít ở hàng đầu, hoàn toàn không hay biết gì.

Đào ngũ ư?

Từ Mạc nheo mày hỏi:

- Hai ngươi có nhận ra đám lính đó thuộc phe nào không?

Hai vị phó tướng đưa mắt nhìn nhau, một người đáp:

- Đại nhân, mạt tướng quan sát giáp trụ, binh khí và chiến mã của chúng, hình như là người của gia tộc họ Du ở Vũ Vây và gia tộc họ Khúc ở Kim Thành.

Vị phó tướng còn lại phụ họa theo:

- Đúng vậy, đại nhân ngài xem, cổ ngựa của nhà họ Khúc đều được bôi sơn đỏ; còn mũ trụ của nhà họ Du thường không gắn chùm lông.

Từ Mạc nheo mắt nhìn kỹ lại, quả nhiên đúng như lời hai vị phó tướng nói, mọi đặc điểm đều khớp hoàn toàn.

Nói cách khác, đội ngũ này thực chất chỉ là một nhúm quân do Mã Tắc chắp vá tạm bợ tại địa phương thôi sao?

Xì... !

Tên này gan thật đấy!

Đã là một đám quân ô hợp như thế, thì việc xuất hiện kẻ đào ngũ cũng chẳng có gì lạ.

Trong lúc đang trầm ngâm suy tính, lại có thêm mấy chục tên lính ở hàng sau lén lút chuồn khỏi đội ngũ, bỏ trốn mất tăm.

Từ Mạc bỗng cảm thấy hứng thú.

Ông muốn xem thử nếu cứ kéo dài hết ngày hôm nay, dưới quyền Mã Tắc sẽ có bao nhiêu tên lính bỏ trốn.

Thậm chí, trong đầu ông còn nảy sinh một ý tưởng vô cùng táo bạo, ý tưởng ấy ngày một rõ mệt, khiến ông cách nào cũng không sao đè nén xuống được.

Xung phong ra khỏi thành, bắt sống Mã Tắc!

Nhưng nước cờ này rủi ro cực kỳ cao, bởi vì Mã Tắc luôn kè kè bên cạnh lão tướng Triệu Vân. Nếu Triệu Vân còn đó, đừng hồng chuyện bắt sống Mã Tắc, xông xuống dưới khác nào tự chuốc lấy nhục.

Triệu Vân đánh nhau cực kỳ giỏi.

Thuở trận Trường Bản năm xưa... khụ khụ, chuyện đó lâu quá rồi, cứ nói đến trận Hán Trung mười một năm trước đi, Triệu Vân từng diễn cảnh một mình một ngựa xông vào giữa vạn quân, đơn thương độc mã cứu nguy cho lão tướng Hoàng Trung đấy thôi.

Thế nên, kế hoạch xuất thành này chỉ có thể thực hiện với một điều kiện tiên quyết: Triệu Vân không có mặt ở đây!

Từ Mạc vội vẫy tay ra hiệu cho hai vị phó tướng áp sát lại gần, hạ thấp giọng hỏi:

- Mau nhìn xem, trong trận địa dưới kia có bóng dáng Triệu Vân không?

Hai vị phó tướng trợn trừng hai mắt, dò dẫm tỉ mỉ như hai chiếc đèn pha quét qua một lượt, rồi đồng loạt lắc đầu.

- Đại nhân, chỉ thấy hai tên phản tặc Đới Lăng và Trương Hưu thôi, Trương Hưu đang bị đánh... hiện tại người toàn máu, xem chừng chỉ còn nửa cái mạng.

Từ Mạc gật đầu, dán mắt nhìn Mã Tắc vẫn đang miệt mài múa roi dưới thành, không nói năng gì.

Ông vẫn cảm thấy mọi chuyện diễn ra quá suôn sẻ, phảng phất mùi vị của một âm mưu.

Thêm vào đó, tên trẻ tuổi Mã Tắc này từ trước đến nay vốn chẳng màng võ đức gì cả, hễ chộp được cơ hội là chẳng màng già trẻ, ra tay tàn độc thật sự.

Ông vẫn nhớ như in cái hồi bị Mã Tắc lừa ra khỏi thành Hạ Bi, suýt chút nữa thì bị thiêu sống thành tro tàn.

Cho nên, không vội được đâu, cứ quan sát thêm đã!