Chương 11: Ba ngày sau - Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng

Trang chủ › Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng › Chương 11

Chương 11 - Ba ngày sau

☰ DS Chương 📖 2,144 chữ

Ngoài thành Thượng Khuê, đại doanh quân Thục.

Gia Cát Lượng ngồi lặng hồi lâu, mắt dán vào tờ tin thắng trận từ Nhai Đình gửi về. Hắn trầm ngâm, mãi chẳng nói lời nào.

Sau trận thú dữ tràn xuống núi, cộng thêm số quân Ngụy chết trong lần công núi bất thành trước đó, năm vạn quân tiên phong chỉ còn lại hơn hai vạn. Bọn chúng nhếch nhác lui sáu mươi dặm, dựng trại dưới cửa Lũng Để, chờ quân cứu viện kéo đến.

Mã Tắc thắng rồi!

Đại thắng!

Mà chẳng mất một người lính nào.

Chiến công ấy, so với việc đích thân thừa tướng ra trận, cũng chỉ kém đôi chút mà thôi.

Đứa trẻ này quả nhiên đáng để trọng dụng!

Nhà Thục Hán đã có người kế tục!

Gia Cát Lượng đặt tờ tin xuống, lòng tràn đầy an ủi.

Có lẽ niềm vui quá lớn, cũng có lẽ hắn chợt nhìn thấy hy vọng khôi phục cơ nghiệp nhà Hán, nên bàn tay run run đưa lên lau đôi mắt cay xè.

Trên đầu ngón tay ánh lên giọt lệ trong veo.

Bỗng nhiên, hắn cảm thấy gánh nặng trên vai nhẹ đi rất nhiều.

Ông trời mới biết, trọng trách mà tiên đế gửi gắm trước lúc lâm chung nặng đến nhường nào!

Tiên đế qua đời mới hơn bốn năm, vậy mà Gia Cát Lượng đã già đi chẳng dưới mười tuổi.

Tể tướng nho nhã thuở nào nay đã xế chiều, ôm thân già mà thống lĩnh đội quân tinh nhuệ, đưa mũi giáo hướng về phương Bắc.

Ăn chẳng thấy ngon, đêm nằm khó ngủ,
Tóc mai bạc trắng, năm tháng giục mau.

Đó chính là hình ảnh chân thật của Gia Cát Lượng lúc này.

Bây giờ, cuối cùng cũng có người san sẻ với hắn đôi phần.

Bảo sao nước mắt chẳng trào ra!

Gia Cát Lượng nhất thời để mặc dòng suy nghĩ cuồn cuộn trong đầu, trăm mối ngổn ngang. Chợt nhớ đến lời dặn của Lưu Bị trước lúc qua đời: “Mã Tắc chỉ giỏi nói quá tài mình, chớ nên giao việc lớn.”

Hắn lắc đầu, bật cười.

Nói thật, ngày ấy nghe tiên đế dặn vậy, trong bụng hắn cũng từng ít nhiều ngờ vực.

Từ khi Mã Tắc dẫn quân đến Nhai Đình, suốt bảy tám ngày qua, đêm nào Gia Cát Lượng cũng thấp thỏm, ngày nào cũng đứng ngồi chẳng yên. Hắn chỉ sợ bất chợt nhận được tin: “Nhai Đình đại bại, toàn quân Mã Tắc bị diệt.”

Thật ra, trong trận giữ Nhai Đình lần này, Gia Cát Lượng vốn không tán thành việc để Mã Tắc cầm quân. Nguyên do là Lưu Bị nhìn người rất chuẩn, cả đời hiếm khi lầm lỡ.

Nhưng Mã Tắc nhất quyết xin đi. Hắn thậm chí còn lập quân lệnh trạng, thề rằng nếu thất bại thì cả nhà xin chịu tội chết, chỉ để chứng minh bản lĩnh của mình.

Từ năm Kiến An thứ mười bốn, tức năm 209, khi được Lưu Bị triệu vào làm việc, Gia Cát Lượng đã giao du với Mã Tắc gần hai mươi năm. Hắn hiểu rõ tính nết người này.

Nói cho đúng, Mã Tắc không phải kẻ chỉ biết ba hoa, một mực ngồi đọc sách. Từ nhỏ hắn đã đọc rộng binh thư, trong bụng đầy mưu lược. Trước đây, vào hai thời điểm then chốt, cũng nhờ kế sách của Mã Tắc mà Thục Hán hai lần thoát khỏi cảnh nguy nan.

Một lần là kế đánh vào lòng người.

Vua Man là Mạnh Hoạch nổi loạn, quấy phá khắp vùng Nam Trung. Trong mắt bệ hạ Lưu Thiện và bá quan, đó chẳng qua chỉ là một cuộc rối loạn nhỏ, phái một viên đại tướng đi dẹp là xong, không cần đến thừa tướng đích thân cầm quân.

Nhưng Gia Cát Lượng lại nghĩ khác.

Người Man dựa vào đường sá xa xôi, núi non hiểm trở, từ lâu vẫn không chịu phục tùng triều đình Thục Hán. Nếu chỉ phái đại tướng đem quân đánh dẹp, dù người Man tạm thời thua trận, trong bụng chúng vẫn chẳng phục. Sau này rất dễ lại nổi loạn hết lần này đến lần khác.

Khi ấy, hậu phương sẽ chẳng ngày nào được yên.

Theo Gia Cát Lượng, người Man chính là mối họa lớn ngay trong lòng hậu phương Thục Hán. Nếu không giải quyết dứt điểm một lần, kế hoạch Bắc phạt sau này ắt bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Vì thế, khi hắn khiêm nhường hỏi kế Mã Tắc, người kia đã dâng lên mười sáu chữ vàng:

“Đánh vào lòng người là thượng sách, đánh thành chỉ là hạ sách. Dùng lòng người mà đánh là thượng sách, dùng binh đao mà đánh là hạ sách.”

Mười sáu chữ ấy khiến Gia Cát Lượng như bừng tỉnh. Hắn từng cảm thán: “Ngươi quả nhiên hiểu thấu lòng ta!”

Cuộc Nam chinh năm ấy, Gia Cát Lượng đã bảy lần bắt rồi bảy lần thả Mạnh Hoạch, cuối cùng khiến người Man hoàn toàn quy phục. Hậu phương từ đó yên ổn, Thục Hán có thể dốc toàn lực chuẩn bị cho cuộc Bắc phạt.

Lần thứ hai là kế ly gián.

Nhờ kế ấy, kẻ địch đáng gờm Tư Mã Ý bị nước Ngụy điều khỏi vùng Tây Lương, rồi bị gạt bỏ khỏi triều đình. Mối họa lớn trước mắt của Thục Hán cũng theo đó được giải trừ.

Sau khi Tào Phi qua đời, Tư Mã Ý từ sau màn bước ra trước triều đình, chủ động xin đến tiền tuyến Ung Châu và Lương Châu để huấn luyện quân đội. Gia Cát Lượng vốn luôn ung dung bình tĩnh mà nghe tin ấy cũng kinh hãi. Hắn biết, đây mới là địch thủ thật sự của mình!

Trong lúc rối trí, ý nghĩ đầu tiên của hắn là: phải lập tức khởi binh đánh Tư Mã Ý!

Nhưng thử nghĩ xem, làm vậy chẳng phải sẽ cho Tư Mã Ý cơ hội phô bày tài cầm quân, khiến địa vị của y càng thêm vững chắc hay sao?

Đúng lúc ấy, Mã Tắc dâng lên kế ly gián.

Hắn lợi dụng lòng nghi kỵ Tư Mã Ý của Tào Duệ, bí mật sai người đến Lạc Dương và nhiều nơi khác tung tin Tư Mã Ý mưu phản, lại giả tạo những tờ hịch truyền khắp thiên hạ, vu cho Tư Mã Ý đã ban bố.

Tào Duệ nhìn thấy thì kinh hãi. Theo lời khuyên của quần thần, hắn điều Tư Mã Ý khỏi Tây Lương, tước binh quyền. Mối họa cấp bách của Thục Hán cũng nhờ đó được dẹp yên, giúp triều đình có thêm thời gian chuẩn bị Bắc phạt.

Thật ra, phần lớn quan lại trong triều đều bi quan, phản đối việc Bắc phạt. Bọn họ cho rằng lấy nước Thục yếu thế đánh nước Ngụy hùng mạnh chẳng khác nào làm trái ý trời, ngoài việc khiến quốc lực Thục Hán hao mòn thì chẳng đem lại lợi ích gì.

Lời bàn ấy được phần đông tán thành.

Chỉ có Mã Tắc là không.

Hắn hết lòng ủng hộ việc Bắc phạt, bởi cho rằng nước Ngụy đã quá mạnh, không đánh thì chỉ còn đường ngồi chờ chết.

Nếu không đánh Ngụy, Thục Hán sớm muộn cũng bị dồn vào đường cùng.

Ý nghĩ ấy hoàn toàn hợp với Gia Cát Lượng. Vì vậy, hắn xem Mã Tắc như tri kỷ, giao cho nhiều trọng trách.

May thay, lần này hắn đã cược đúng.

Dương Nghi đứng hầu bên cạnh thấy vậy thì lấy làm lạ, lên tiếng hỏi:

- Mã Tắc lập được chiến công, đó là chuyện đáng mừng. Vì sao thừa tướng chẳng những không vui mà còn rơi lệ?

Gia Cát Lượng thu lại cảm xúc gần như mất kiểm soát, lạnh mặt nhìn Dương Nghi một cái rồi thầm thở dài.

Tên này quả thật chẳng biết nhìn sắc mặt người khác. Chẳng trách thường xuyên bị Ngụy Diên cầm đao đuổi đánh đến khóc nức nở.

Ta đang buồn sao?

Đây là nước mắt vui mừng!

Thôi vậy. Hôm nay là ngày đại hỷ.

Gia Cát Lượng không buồn giải thích với Dương Nghi xem mình đang buồn hay đang vui, chỉ đẩy tờ tin chiến trận sang trước mặt hắn.

Dương Nghi cầm lên, đọc kỹ từ đầu đến cuối. Đọc xong, hắn đứng sững, mắt trợn tròn.

Trước đó, hắn chỉ biết Mã Tắc đại thắng ở Nhai Đình, nào hay bên trong còn có những chuyện này.

Bây giờ thì hắn đã hiểu.

Quả thật là đại thắng. Một trận đại thắng không mất lấy một người lính!

Mã Tắc lại có tài cầm quân đến vậy sao?

Chẳng khác nào Tôn Tẫn sống lại, Ngô Khởi tái thế.

Tại sao trước nay chẳng ai nhận ra hắn giỏi đánh trận đến thế?

Theo nội dung trong tờ tin, trước hết Mã Tắc chia quân làm hai cánh. Một cánh đóng trên núi, một cánh giữ con đường trọng yếu. Quân trên núi do Mã Tắc chỉ huy ở phía trước, quân giữ đường do Vương Bình trấn thủ ở phía sau. Hai cánh dựa vào nhau mà giữ thế.

Bố trí như vậy khiến quân Ngụy không thể vòng qua Nhai Đình để đánh vào đạo quân của Vương Bình.

Tiếp đó, Mã Tắc sai binh sĩ đào một hồ chứa nước trên đỉnh núi, lại cho đốn sạch cây cối ở sườn phía nam.

Đào hồ là để đề phòng quân Ngụy chặn mất đường lấy nước. Đốn cây là để ngăn chúng phóng lửa đốt núi.

Ba bước sắp đặt ấy giúp Mã Tắc đứng vững ở thế không thể bại.

Nhưng chuyện đáng nói nhất còn ở phía sau.

Sau khi dựng trại trên núi, ngày nào Mã Tắc cũng sai quân sĩ xuống chân núi chửi mắng quân Ngụy, cố ý chọc giận chúng, dụ chúng kéo lên công núi.

Để làm quân Ngụy nổi giận, đám binh sĩ đã dùng những lời lẽ khó nghe đến mức không thể khó nghe hơn.

Quả nhiên, chẳng bao lâu quân Ngụy bị chọc tức. Chúng tự ý phát động trận đánh lên núi.

Kết quả, bốn năm nghìn quân bỏ mạng giữa lưng chừng núi, số còn lại hốt hoảng tháo lui.

Chính những xác chết không ai chôn cất cùng mùi máu tanh nồng nặc ở sườn núi đã gọi bầy sói kéo đến.

Thấy vậy, Mã Tắc lập tức nảy ra một kế. Hắn sai Trương Hưu, người giỏi điều khiển thú dữ trong quân, thổi còi gọi thêm dã thú phát cuồng, kéo về vây kín Nhai Đình.

Quân Ngụy giao chiến với bầy thú suốt một đêm. Hơn một vạn năm nghìn người bỏ mạng.

Nếu Trương Cáp không sai người đốt lửa trên khắp các đỉnh núi xung quanh, khiến phần lớn thú dữ hoảng sợ tháo chạy, e rằng toàn quân Ngụy đã bị diệt sạch.

Xét cả trận này, Mã Tắc tính toán sâu xa, kế trước nối liền kế sau. Hắn không chỉ khiến danh tướng trăm trận Trương Cáp phải bó tay, mà khi gặp biến cố bất ngờ còn biết tùy cơ ứng biến, thuận theo tình thế, biến điều bất lợi thành lợi thế cho mình.

Một viên tướng như vậy chẳng phải đã lĩnh hội trọn vẹn lời Gia Cát Lượng từng nói hay sao?

“Phàm là người cầm quân, trời đất vạn vật đều có thể trở thành thứ giúp ta dùng được.”

Dẫu vậy, trận này vẫn còn một chỗ chưa thật trọn vẹn.

Mã Tắc đã không nhân cơ hội giáng cho quân Ngụy một đòn chí mạng.

Quân Ngụy giao chiến với bầy thú suốt một đêm, thương vong nặng nề, ai nấy đều kiệt sức. Nếu khi ấy Mã Tắc thống lĩnh đại quân từ trên núi tràn xuống…

Quân Ngụy ắt bị diệt sạch!

Dương Nghi ấp úng hồi lâu, chẳng biết phải nói sao:

- Thừa tướng, Mã Tắc này…

Nói Mã Tắc kém cỏi ư? Người ta lấy ít thắng nhiều, chẳng tốn chút sức nào đã đánh bại Trương Cáp.

Nói Mã Tắc giỏi giang ư? Cơ hội đánh kẻ địch đang thất thế đã bày ngay trước mắt, vậy mà hắn lại chẳng buồn ra tay.

Thật là… thật là…

Gia Cát Lượng nhìn Dương Nghi, dường như đã đọc thấu suy nghĩ trong đầu hắn. Hắn phe phẩy quạt, mỉm cười lắc đầu:

- Mã Tắc không phải không biết chớp thời cơ. Chẳng qua hắn không chịu mạo hiểm mà thôi.

- Hắn quá vững vàng.