Trương Sinh cầm một tờ ngọc trắng, đầu ngón tay bắn ra luồng kiếm khí xanh biếc. Trên mặt ngọc lập tức hiện lên một bức đồ quán tưởng.
Ông đưa tờ ngọc cho Vệ Uyên, nói:
- Vi sư đã cân nhắc kỹ càng, quyết định truyền cho con 《Ngọc Thiềm Vọng Nguyệt Đồ》 làm nền móng đúc thể. Trước hết, con hãy xem cho thật kỹ bức đồ này. Khi tu luyện, phải lấy nó làm cầu nối với trời đất, hấp thu linh khí đất trời để rèn luyện thân mình. Đúc thể mà đã có thể giao cảm với trời đất, mượn sức vận số, quả là công pháp bậc nhất. Nhưng phúc họa thường nương tựa vào nhau, khi tu luyện, hung hiểm cũng cao hơn các công pháp khác rất nhiều. Dù nhìn thấy hay cảm nhận được điều gì, con cũng phải luôn giữ vững tâm thần, chớ kinh hoảng sợ hãi.
Dặn dò cặn kẽ xong, Trương Sinh lại lấy ra ba viên đan dược.
- Ba viên Tẩy Tâm Đan này là vi sư đặc biệt cầu xin cho con, có thể giúp căn cốt khá hơn đôi chút. Còn ba ngày nữa mới đến lễ bái tổ sư, vừa hay mỗi ngày uống một viên, sẽ có ích cho con khi lễ bái tượng tổ sư.
Vệ Uyên ghi nhớ bức đồ quán tưởng rồi bắt đầu tu luyện theo công pháp.
Theo lời 《Ngọc Thiềm Vọng Nguyệt Đồ》, thân thể là nền móng của mọi thứ. Bước đầu tiên khi tu luyện là hiện ra bức đồ quán tưởng trong thức hải. Bức đồ lớn nhỏ ra sao sẽ quyết định căn cơ tốt xấu thế nào. Tiếp đó, người tu lấy bức đồ làm chỗ dựa, hấp thu linh khí đất trời cùng vận số của bản thân để rèn đúc thân thể. Đợi thân thể và nguyên thần đều được rèn luyện hoàn tất, hóa thành tiên phôi, bức đồ quán tưởng sẽ nhen lên sức sống, chẳng khác nào một thế giới chân thật. Đến bước ấy, coi như đúc thể đã thành, có thể bắt đầu ngưng tụ đạo cơ.
Vệ Uyên có tâm tính hơn người. Chỉ một lát sau, hắn đã quên cả thân mình lẫn ngoại vật.
Trương Sinh lấy một viên Tẩy Tâm Đan, rồi đặt lư hương trước mặt Vệ Uyên, bỏ viên đan vào trong lò. Bên dưới lư hương đã lót than. Hơi nóng hun lên, một làn hương đan thoảng ra từ lỗ lư, cuộn thành sợi, như có linh tính, bay vào mũi Vệ Uyên.
Trước mắt Vệ Uyên vốn tối đen. Ngửi thấy làn hương đan ấy, hắn liền cảm nhận luồng hơi ấm li ti thấm vào cơ thể, chầm chậm lan khắp chân tay, dễ chịu không sao tả xiết. Được hương đan nâng đỡ, trong thức hải hắn bắt đầu le lói một đốm sáng, soi ra một khoảng trời đất nhỏ. Giữa khoảng ấy thấp thoáng một tảng đá lớn, trên đá có con cóc ngọc cuộn mình. Phía trên nó không xa là vầng trăng tròn.
Bức đồ quán tưởng hiện ra suôn sẻ. Từng làn hương đan lập tức tìm được lối đi, lần lượt bay vào trong đồ. Mỗi làn hương đều khiến hình ảnh thêm rõ nét, vững vàng hơn.
Vệ Uyên không ngừng vận chuyển pháp quyết. Chẳng rõ đã qua bao lâu, trước mắt hắn bỗng hoa lên, cảnh vật hoàn toàn đổi khác.
Lúc này, Vệ Uyên chỉ cảm thấy mình đã hóa thành con cóc ngọc. Trong mắt hắn chỉ còn vầng trăng tròn giữa không trung, hắn liên tục hướng về phía trăng mà nuốt nhả khí tức. Cảm giác chân thật đến nỗi ngay cả Vệ Uyên cũng thoáng không phân rõ mình là người hay cóc ngọc.
May mà hắn vẫn nhớ lời Trương Sinh dặn. Dù gặp dị tượng gì, cứ thuận theo tự nhiên, chớ để lòng mình nổi sóng.
Trong mắt Vệ Uyên đang hóa thành cóc ngọc, vầng trăng trên cao không còn là mặt trăng phẳng lì giả tạo nữa, mà đã thành một khối cầu khổng lồ, tưởng chừng với tay là chạm tới. Từng sợi ánh trăng không ngừng tuôn ra từ đó, rồi bị Vệ Uyên từng ngụm nuốt vào, hóa thành một phần thân thể.
Lại chẳng biết qua bao lâu, Vệ Uyên đang nuốt nhả ánh trăng bỗng cảm thấy thân thể mình lớn thêm một vòng. Khoảng trời đất nhỏ bé này lập tức trở nên chật chội, đến xoay người cũng khó.
Đúng lúc ấy, Vệ Uyên nghe một tiếng khánh ngân. Thần thức hắn thoát khỏi thân cóc ngọc, trở về bản thể. Bên tai vang lên giọng Trương Sinh:
- Được rồi.
Vệ Uyên thu công đứng dậy. Lúc này hắn mới nhận ra ngoài cửa sổ trời đã hửng sáng. Chẳng hay từ khi nào, một đêm đã trôi qua.
Trương Sinh hỏi han tình hình vận công của hắn, chỉ điểm thêm vài chỗ then chốt rồi bảo hắn đi nghỉ. Vệ Uyên chưa đến mức có thể dùng tu luyện thay cho giấc ngủ, bèn về phòng nằm xuống. Một canh giờ sau, hắn tự nhiên tỉnh lại.
Ban ngày, Trương Sinh truyền cho Vệ Uyên những điều căn bản trong tu luyện. Ban đêm, Vệ Uyên tự mình tu luyện.
Đến lần tu luyện thứ hai, Vệ Uyên đã thuần thục hơn nhiều. Hắn nhanh chóng quên mình quên vật, lại hóa thành cóc ngọc.
Hắn lại cảm thấy khoảng không quanh mình quá chật, chẳng khác nào bị nhốt trong lồng, xoay người cũng khó khăn. Vệ Uyên không thể nhúc nhích, chỉ đành ra sức nuốt nhả ánh trăng. Mỗi ngụm ánh trăng vào bụng, hắn lại cảm thấy thân thể mình thêm rắn chắc.
Đang nuốt trăng, Vệ Uyên bỗng thấy trong vầng trăng thấp thoáng hiện ra một bóng đen khổng lồ. Sau đó, giữa những luồng ánh trăng xuất hiện một làn khí đen quen thuộc. Vệ Uyên há miệng nuốt cả nó vào bụng.
Khí đen vừa vào người, cảm giác của Vệ Uyên lập tức mở rộng thêm một chút, vượt qua giới hạn vô hình kia và vươn ra hư không. Trong hư không lơ lửng rất nhiều hạt vô hình. Ý thức có thể dẫn chúng nhập vào vùng đất bên dưới. Hạt được dẫn tới ngày một nhiều, mặt đất dưới thân Vệ Uyên cuối cùng cũng nới rộng thêm một chút, gông cùm quanh người hắn theo đó nhẹ đi.
Lúc này, trong thức hải Vệ Uyên là một khoảnh đất rộng chừng một trượng. Trên đất có tảng đá lớn, một con cóc ngọc trắng như tuyết phục trên đá, ngửa đầu nuốt nhả ánh trăng. Dưới chân tảng đá, mép đất mọc thêm một mảnh nhỏ bằng lòng bàn tay, từ hư ảo dần hóa thành thật.
Mảnh đất mới vừa đông cứng lại, Vệ Uyên đã bị Trương Sinh gọi tỉnh. Như thường lệ, Trương Sinh hỏi về quá trình tu luyện rồi phán đoán rằng cái bóng trong vầng trăng chính là hình chiếu vận số của Vệ Uyên. Làn khí đen lẫn trong ánh trăng là thứ được rút ra từ vận số của chính hắn.
Ngày tu luyện thứ ba vẫn diễn ra như trước. Ngay từ đầu, Vệ Uyên đã trông thấy bóng đen trong vầng trăng. Trong lúc nuốt nhả ánh trăng, hắn không ngừng hút khí đen, mảnh đất dưới chân cũng nhờ đó mọc thêm một vòng.
Ba ngày tu luyện thoáng chốc đã qua, tất cả Tẩy Tâm Đan đều dùng hết. Tiếp đó là đại lễ tế tổ.
Sáng hôm ấy, Vệ Uyên dậy sớm sửa soạn. Theo lời chỉ dẫn của Trương Sinh, hắn tĩnh tâm tu luyện nửa canh giờ, giữ lòng ngay thẳng thành kính, rồi mới lên đường đến điện tổ sư.
Điện tổ sư dựng trên đỉnh một ngọn núi cao. Núi đá hiểm trở kỳ dị, một ngọn thác từ chín tầng mây đổ xuống, cuối cùng tụ lại thành hồ nước trong như gương dưới chân núi. Khắp núi hoa cây đủ sắc, hương thơm ngào ngạt. Người phàm chỉ cần ở đây một lát, ngửi hương hoa tiên thụ, cũng có thể sống thêm mười năm. Giữa núi có con đường lát ngọc xanh quanh co dẫn thẳng lên đỉnh.
Trương Sinh dùng đạo thuật đưa Vệ Uyên đi. Cứ mỗi lần hít thở, tầm mắt Vệ Uyên lại nhòe đi một thoáng; khi nhìn rõ trở lại, hắn đã ở cách chỗ cũ hơn trăm trượng. Vệ Uyên cố nhìn cho kỹ, cuối cùng mới nhận ra lúc tầm mắt nhòe đi, cảnh vật xung quanh thực ra đang lùi nhanh vun vút. Chỉ vì tốc độ quá nhanh nên hắn không kịp nhìn rõ.
Ngay cả Trương Sinh, với tốc độ ấy, cũng phải đi một lúc mới tới trước điện tổ sư. Trên quảng trường trước điện lúc này đã tụ tập mấy trăm người.
Điện tổ sư cao trăm trượng. Hai cánh cửa bằng đồng đỏ cao đến ba mươi trượng, chẳng biết vị tiên nhân nào cần một cánh cửa lớn đến vậy.
Cửa điện đang mở. Tượng tổ sư bên trong cao ba mươi trượng, trông như một tu sĩ trẻ tuổi, thậm chí còn phảng phất vẻ non nớt. Tương truyền khi tu thành đạo cơ, tổ sư vẫn chưa đến tuổi hai mươi, dung mạo vì thế đóng lại ở tuổi ấy, mãi đến ngày mất cũng không đổi. Tượng một tay chắp sau lưng, một tay cầm quyển sách. Quanh người lơ lửng bốn thanh tiên kiếm.
Pho tượng sống động như thật, vạt áo tựa hồ đang phấp phới trong gió. Mà kỳ lạ hơn cả là bốn thanh tiên kiếm kia chẳng có chỗ nào nâng đỡ, cứ thế lơ lửng giữa không trung.
Một đạo nhân chủ lễ đưa Vệ Uyên đến trước điện. Hắn cùng tất cả đệ tử mới đứng chờ xướng tên.
Đạo nhân chủ lễ lần lượt gọi từng người. Đệ tử mới chia thành từng nhóm, theo vùng miền mà vào bái tế, có nhóm năm người, cũng có nhóm bảy tám người.
Trong những điều cần biết khi nhập môn phát cho đệ tử mới đã ghi rõ các bước bái tổ sư. Mỗi người phải lạy bảy lạy, rồi thầm đọc bài tế văn trong lòng. Bài tế văn chừng hơn nghìn chữ, chủ yếu kể lại sự tích tổ sư, nói về tình hình nhân gian hiện nay và tấm lòng của người vào núi tu hành. Toàn bài không có câu khẩu quyết nào, nhưng nếu đệ tử mới giữ lòng ngay thẳng thành kính, căn cơ và vận số đều tốt, có thể được tổ sư ưu ái, ban cho ân điển.
Năm xưa, Trương Sinh từng được ban hai đạo kiếm khí từ bốn thanh tiên kiếm. Dựa vào chúng, ông tu thành tiên cơ, một thời gây chấn động.