Trương Hy Mạnh đặt tay lên sử sách, chậm rãi giảng giải. Từng câu từng chữ đều đánh thẳng vào lòng người. Thang Hòa vốn là kẻ thô lỗ, chẳng đọc được bao nhiêu sách, vậy mà lúc này cả người cũng run lên, máu nóng dồn lên đầu, khó lòng nén nổi xúc động.
Người đời trước có thể để lại gì cho con cháu?
Câu hỏi ấy thật quá lớn. Là vàng bạc châu báu, ruộng vườn đất đai, hay tước vị cha truyền con nối?
Có lẽ thứ nào cũng quý, nhưng rốt cuộc chẳng thứ gì trường tồn được.
Ba năm trăm năm sau, dù có cùng huyết thống, còn thân thiết được bao nhiêu?
Lưu Bang nhìn Lưu Bị, liệu có thể xem hắn như cốt nhục ruột rà không?
Nói ngược lại, Lưu Bang đã để lại cho Lưu Bị thứ gì?
Có lẽ chỉ là ánh hào quang thuở trước, cùng một tấm lòng sắt son muốn khôi phục nhà Hán, tìm lại vinh quang. Bôn ba đông tây, chí hướng chẳng đổi dời; người tráng sĩ dù tuổi xế chiều, lòng vẫn đầy hào khí.
Còn hậu thế nhìn Lưu Bị, lại học được điều gì?
Dẫu gặp trăm lần thất bại vẫn chẳng nản, không bao giờ chịu buông xuôi; đối với anh em thì trọng nghĩa, với dân chúng thì nhân hậu, với bề tôi thì giữ chữ tín… Từng dệt chiếu, bán dép mà vẫn có thể chiếm cứ một phương. Hắn để lại cho hậu thế bóng dáng một bậc hào kiệt, đến chết vẫn giữ lòng trai trẻ, chờ người đời sau bước theo.
Sử sách năm nghìn năm của chúng ta, không trang nào là thừa.
Nếu trong sử sách của ngươi không ghi lại dòng chảy bất tận suốt năm nghìn năm, không ghi vô số anh hùng dũng cảm tiến lên, vượt mọi chông gai, lớp trước ngã xuống lớp sau nối bước… mà thay vào đó là cảnh Trung Nguyên vừa xuất hiện triều đại mới, đã vội nhận giặc làm cha, mang ít thổ sản đi đổi ân thưởng, rồi hớn hở tranh nhau suất sang năm, tìm cách vòi vĩnh cha thêm chút của cải.
Hoặc giả sử sách của ngươi ghi rằng, thế lực nào đó đánh vào, tổ tiên ngươi liền quỳ xuống. Quỳ hết lần này đến lần khác, suốt mấy nghìn năm vẫn cúi đầu.
Vậy con cháu của một dòng họ chỉ biết quỳ gối, khi đối mặt với tai họa, sẽ làm gì?
Nếu ngươi cho rằng như thế đã đủ thảm, còn có chuyện thảm hơn. Đó là ngay cả sử sách cũng chẳng còn, chẳng biết tổ tiên từng làm gì, người xưa đã trải qua những chuyện nào… Một khi thất bại, họ liền bị nhấn chìm giữa dòng lịch sử, chỉ còn vài dòng rời rạc trong sách người khác, ghép thành một câu chuyện đứt đoạn…
- Tướng quân Thang, chúng ta đang viết nên sử sách!
Một câu của Trương Hy Mạnh đã khép lại mọi điều.
Thang Hòa bật đứng dậy, xúc động siết chặt nắm tay.
- Tướng quốc Trương, ta hiểu rồi. Dù là đánh ra Bắc, hay lo liệu Tây Nam, đổi các tù trưởng cai quản đất đai thành quan lại triều đình, những việc ấy đều sẽ được ghi vào sử sách. Không có việc nào cao quý hơn việc nào, chỉ có làm tốt hay làm không tốt. Thang Hòa ta tuy đọc ít sách, hiểu đạo lý cũng chẳng nhiều. Nhưng ta biết một điều, không làm thì chẳng còn chút hy vọng nào. Trời đã giao trọng trách, ta quyết không thoái thác!
Trương Hy Mạnh gật đầu thật mạnh, vẻ mặt đầy cảm kích. Hắn chỉ là người suy nghĩ, bàn tính mọi chuyện. Còn Chu Nguyên Chương, Phùng Quốc Dụng hay Thang Hòa mới là những người đứng ra làm.
Gặp được những người sẵn lòng nhọc lòng bỏ sức như họ, quả là vận may của Trương Hy Mạnh.
- Đối với các tù trưởng miền Tây Nam, phải biết tùy cơ ứng biến, nhưng cũng cần giữ vững nguyên tắc. Còn một việc hết sức quan trọng, ấy là mở trường dạy học. Tướng quân Thang, ngươi nhất định phải nhớ, chớ vì muốn đông học trò, muốn trông cho đẹp mắt mà tùy tiện nhận người. Làm thế chỉ tổ qua loa cho xong chuyện, chẳng thể thành công. Chúng ta có thể cử thầy giỏi nhất, tăng thêm tiền bạc, duy chỉ không được hạ thấp tiêu chuẩn học trò. Phải trọng người vừa có đức vừa có tài. Nếu trình độ kém hơn đôi chút thì còn chấp nhận được, nhưng thái độ phải nghiêm túc, con người phải đáng tin. Ta mong ngươi đích thân xét chọn người phù hợp, đưa vào trường Tế Dân cùng các trường khác. Ta sẽ tự mình dạy dỗ. Một người tài còn hơn trăm kẻ tầm thường!
Thang Hòa nghiêm trang ghi nhớ từng lời Trương Hy Mạnh.
Việc này liên quan đến một vấn đề rất hệ trọng. Khi triều đình đổi các tù trưởng miền Tây Nam thành quan lại, những ai chịu hợp tác đương nhiên phải được mở cho một con đường tiến thân. Được đi học, dự khoa cử, ra làm quan cũng là lẽ phải.
Nhưng một tù trưởng có cả đống con cái, chẳng lẽ đứa nào cũng được vào học? Chỉ cần là con trưởng, hoặc đứa được cha mẹ cưng chiều, thì có thể làm quan, tiêu chuẩn cũng được nới lỏng hay sao?
Trương Hy Mạnh kiên quyết phản đối chuyện ấy.
Cửa vào trường phải được giữ nghiêm. Người thông minh, chăm chỉ, hắn nhận. Người thật thà, trung thành, hắn nhận. Người đôn hậu, đáng tin, hắn cũng nhận. Còn kẻ ham hưởng thụ, chẳng có chí tiến thủ, cậy quyền cậy thế, tự cao tự đại… Xin lỗi, dù có được đưa đến, hắn cũng chẳng nể nang.
Hơn nữa, con cái các tù trưởng được vào học thì con nhà dân thường cũng nhất định phải được học, lại còn phải có đủ cơ hội.
Đạo lý Trương Hy Mạnh vừa nói cũng áp dụng với học trò của các phiên bang.
Sau này, nếu có người muốn đến Đại Minh cầu học thì cũng vậy, trước hết phải xét phẩm hạnh, rồi mới xét tài năng. Họ sẽ học cùng học trò Đại Minh, cùng đứng trên một sân mà tranh tài, cạnh tranh công bằng.
Thang Hòa nói:
- Lời tướng quốc Trương dạy, Thang Hòa đều ghi nhớ. Chỉ là sắp tới còn gặp một việc khó, mong tướng quốc Trương đừng tiếc lời chỉ bảo.
Trương Hy Mạnh cười đáp:
- Ta sẵn lòng giúp sức!
Trò chuyện với Thang Hòa xong, Trương Hy Mạnh chẳng bận tâm đến tước vị, lập tức từ biệt lão Chu, lên đường đến Tĩnh Châu, chủ trì việc đổi tù trưởng thành quan lại triều đình.
Cùng Thang Hòa lên đường còn có hàng nghìn hàng vạn quân người Miêu. Họ đã chấm dứt triều Trần, đón Đại Minh đến. Trên đất nước mới này, họ có ruộng đất, có phẩm giá, có hy vọng vươn lên.
Giờ đây, họ muốn chia sẻ những điều ấy với người thân.
Nếu Đại Minh cần đến họ, những binh sĩ này sẽ chẳng chút do dự, lại cầm vũ khí lên đường. Từ nay về sau, họ đều là người Đại Minh!
Tiễn Thang Hòa đi rồi, bàn cờ lớn đã bày ra một góc, đủ để nhìn thấy đại lược sau khi Đại Minh lập quốc.
Một nước mới, dù có yếu kém như Tây Tấn, cũng biết thống nhất Giang Nam.
Còn Đại Minh thì khỏi phải nói. Các tướng lĩnh đứng đầu là Phùng Quốc Dụng đã xác định rõ mục tiêu, tiến thẳng về Quan Trung và Tây Vực.
Chu Văn Chính đóng giữ Hồ Quảng, dòm ngó Ba Thục.
Thang Hòa lo liệu miền Tây Nam, cộng thêm Chu Anh đã đến Lĩnh Nam từ trước. Một chiến tuyến dài vạn dặm, kéo từ Bắc xuống Nam, đã dần hiện ra hình thế.
Dĩ nhiên, những nước cờ ấy mới chỉ được đặt xuống tạm thời, chưa thực sự triển khai toàn diện.
Hơn nữa, kẻ thù thật sự của Đại Minh vẫn là hoàng đế nhà Nguyên ở Đại Đô.
Vì vậy, những danh tướng thiện chiến nhất như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Hồ Đại Hải, Hoa Vân… vẫn chưa ra quân. Họ đang chờ thời cơ.
Thực ra, lão Chu đã trao cho Từ Đạt một tấm kim bài mang mệnh lệnh của vua, kích cỡ và kiểu dáng giống hệt tấm của Phùng Quốc Dụng, để hắn đến Dương Châu, bắt đầu chuẩn bị đánh ra Bắc.
Gần như cùng lúc ấy, Chu Nguyên Chương cũng định lên đường trở về Ứng Thiên để điều hành đại cục.
Thiên tử rời kinh thành quá lâu, hiển nhiên không ổn.
Trương Hy Mạnh hẳn cũng sẽ theo về kinh.
Cùng lúc sắp lên đường còn có Cục Tài chính của Giang Nam.
Sau những ngày đêm làm việc không nghỉ, họ cuối cùng đã thu thập được những số liệu đại khái của Giang Tây và Hồ Quảng. Những con số chi tiết hơn phải chờ quan phủ địa phương trình lên, rồi Cục Tài chính tính toán, đối chiếu lại xem có đáng tin hay không.
Trước khi lên đường, Trương Hy Mạnh cũng ghé qua xem tình hình thuộc hạ, coi có ai lười biếng không.
Quả nhiên, hắn bắt quả tang Giang Nam đang lười việc.
Nàng cầm mấy chiếc kim tre, ngồi đan áo len… Không sai, chính là thứ đó!
Trương Hy Mạnh không nhịn được, ho khẽ một tiếng:
- Giang đề cử, cô đang làm gì vậy?
Giang Nam chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ thản nhiên đáp:
- Đây là lệnh của hoàng hậu. Tướng công Trương không vừa ý thì cứ đi tìm hoàng hậu mà nói!
Nói rồi, Giang Nam ngẩng lên, cười tươi:
- Tướng quốc Trương, chẳng phải ngài bảo muốn làm len dạ sao? Xin lỗi nhé, len dạ thì chưa có, nhưng áo len thì ngài có cần không?
Trương Hy Mạnh cau mày, rõ ràng chẳng hiểu đầu đuôi.
Giang Nam liền cười, kể cho hắn nghe tình hình.
Dệt len vốn là một kỹ thuật mà những người xuyên đến từ đời sau thường nghĩ tới. Dùng tốt thì có thể làm nước giàu dân mạnh, khiến kỵ binh du mục suy yếu, mở đường cho công nghiệp hóa, quả là một phép màu ghê gớm!
Tiếc rằng Trương Hy Mạnh còn chưa kịp bắt tay làm, mới chỉ bảo người dưới tìm hiểu cách sản xuất vải dạ…
Khổ nỗi, kế hoạch vừa đề ra đã đổ bể.
Người miền Nam vốn chẳng thích mặc thứ ấy. Vải dạ lại cần một lượng lớn len cừu chất lượng tốt, điều mà miền Nam không thể có được.
Không phải Trương Hy Mạnh chọn nhầm nhánh công nghệ, mà là hắn còn chưa khởi động nổi nó.
Chẳng ai ngờ sự việc lại xoay chuyển.
Để tiếp sức cho đạo quân chủ lực đánh ra Bắc ở mặt trận trung quân, Đại Minh cần cung cấp áo rét, mà phải là loại thật dày.
Trong nước Đại Minh vốn chẳng trồng được bao nhiêu bông. Áo bông mỏng ở miền Nam và loại áo nhồi bông dày cộm người miền Bắc mặc vốn là hai thứ khác hẳn nhau.
Chẳng còn cách nào, Đại Minh đành lùng sục khắp nơi tìm chó. Chó quả thật đáng yêu, nhưng sự an nguy của quân sĩ đánh Bắc vẫn quan trọng hơn.
Bởi vậy, triều đình vội may một mẻ áo khoác da chó rồi đưa ra tiền tuyến.
Nhưng giết chó mãi cũng chẳng phải kế lâu dài. Đúng lúc ấy, có người chợt nghĩ đến lông cừu. Sau khi chia ruộng, đàn cừu các nơi tăng lên nhanh chóng.
Áo da cừu quả thật ấm, nhưng giá thành quá cao. Vì thế, người ta cạo lông cừu xuống, giặt sạch, chải tơi rồi kéo thành sợi len.
Sau đó đem đan thành áo.
Đan lát chẳng phải kỹ thuật hiếm lạ. Đời sau thậm chí còn đào được đồ đan từ thời Chiến Quốc. Nếu hỏi kỹ thuật đan xuất hiện từ bao giờ, có lẽ phải lần về tận thời đồ đá.
Chỉ là khi nghề dệt phát triển, vải bông, vải gai và tơ lụa thoải mái hơn nên được ưa chuộng, còn đồ đan dần bị gạt ra ngoài.
Dẫu vậy, vẫn có nhiều người thành thạo nghề đan. Huống hồ chỉ là học đan áo len, cũng chẳng khó.
Giang Nam mới học gần đây. Nàng vui vẻ nói:
- Tướng quốc Trương, ngày nào nhìn sổ sách, đầu óc ta cũng căng như dây đàn. Ngày nào cũng hoa mắt chóng mặt, tâm trạng chẳng vui vẻ gì. Nhưng từ khi cầm kim đan lên, ta đã bình tâm lại. Mỗi ngày xem sổ sách xong, ta nhanh tay đan thêm một lúc. Vừa giúp được quân sĩ đánh Bắc, vừa thư giãn đầu óc, quả là tiện cả đôi đường!
Trương Hy Mạnh tròn mắt. Còn có công dụng ấy nữa sao?
- Các cô đan được bao nhiêu rồi?
Giang Nam đáp:
- Hoàng hậu đã ra lệnh, ai dám lơ là? Chắc cũng được hơn vạn chiếc rồi!
Trương Hy Mạnh sững người, rồi lắc đầu:
- Chưa đủ đâu! Đợt đánh Bắc tới đây e phải cần đến mấy chục vạn chiếc. Món này học có dễ không?
Giang Nam cười:
- Dễ thôi, ta dạy ngài.
Thế là trong tay tướng công Trương có thêm mấy chiếc kim đan bằng tre…