Có công mười năm dưới đài, mới đổi được ba phút đứng trên đài.
Quân Minh cũng phải bỏ ra gần mười năm gây dựng, mới có ngày hôm nay, dồn sức làm nên nghiệp lớn chỉ trong một trận.
Từ thuở Bành Tổ Sư truyền đạo, dòng quân Khăn Đỏ Thiên Hoàn, Trần Hán đến nay đã lụi tàn thảm hại. Tuy Minh Ngọc Trân ở Ba Thục vẫn còn, nhưng hẳn chẳng ai cho rằng hắn có thể uy hiếp lão Chu. Chỉ cần viện cớ tế lễ ở Điếu Ngư Thành, lòng người đất Thục đã quy thuận. Minh Ngọc Trân còn đỡ nổi mấy đòn?
Đại Minh thống nhất miền Nam đã thành thế không gì ngăn nổi. Các thế lực khác chỉ còn biết run rẩy, thoi thóp chờ quân Minh kéo đến.
Thế nhưng trong lòng Chu Nguyên Chương vẫn nặng trĩu.
Minh Ngọc Trân, Trương Sĩ Thành, Trần Hữu Định, ba người ấy hợp lại cũng chẳng đỡ nổi một chưởng Hàng Long của lão Chu.
Điều thật sự khiến Chu Nguyên Chương sứt đầu mẻ trán vẫn là Hồ Quảng, là vùng đất vừa mới chiếm được này.
Dân sinh tiêu điều, dân chúng áo không đủ che thân, cơm chẳng đủ no bụng. Khắp nơi là người đói, nhìn đâu cũng thấy xác chết… Nếu không nhanh chóng khôi phục đời sống ở Hồ Quảng, vùng đất rộng lớn này sẽ thành ung nhọt của Đại Minh, liên tục rỉ máu, bòn rút tiền của và sức lực quý báu.
Bởi vậy, việc đưa dân đến khai khẩn là chuyện không thể chậm trễ.
Dân Giang Tây chuyển vào Hồ Quảng, chẳng ai cản nổi.
Chỉ có điều, nếu dùng người thích đáng, cách làm hợp lý, chuẩn bị chu toàn, thì tổn thất trong quá trình ấy sẽ ít hơn.
Ngoài việc lớn là đưa dân đi khai khẩn, còn phải xử lý đám hào cường ở Hồ Quảng. Phải nhổ hết những cái gai ấy, thực hiện phép chia ruộng công bằng, dựng nên quyền kiểm soát của triều đình tại địa phương.
Đó là hai bước ai cũng nhìn thấy, đồng thời cũng là hai việc quan trọng nhất.
La Phục Nhân và Diêu Quảng Hiếu là những người được Trương Hi Mạnh và Chu Nguyên Chương cùng chọn. Với tài sức của hai người, hoàn toàn có thể trông cậy.
Ngoài ra còn có một số việc thoạt trông chẳng mấy cấp bách, nhưng cũng hệ trọng không kém. Hơn nữa, việc ấy cần Chu Nguyên Chương quyết định, còn Trương Hi Mạnh phải đưa ra kế sách.
- Tiên sinh, Trâu Phổ Thắng và những người kia muốn tha cho đám người thuộc phe Bành, lại xin dựng miếu thờ hòa thượng Bành ở Vũ Xương. Lão Chu trầm ngâm nói: - Bọn họ được voi đòi tiên, còn muốn lấn tới nữa!
Trương Hi Mạnh gật đầu. Nói cho cùng, hắn đánh giá cao những người theo hòa thượng Bành cũng là vì họ chống lại triều Nguyên, đương nhiên trong đó có ý thu phục lòng người.
Nhưng theo thời gian, những người cũ của phe Bành lập được không ít công lao, dần dần tụ thành một thế lực. Bọn họ không ngừng nói đỡ cho phe Bành, tô vẽ Bành Oánh Ngọc thành người hùng chống Nguyên, khiến Chu Nguyên Chương chẳng khác nào môn đồ của hòa thượng Bành.
Rõ ràng như vậy là lấn át chủ khách, làm người ta lẫn lộn trắng đen.
- Chúa công, triều đại nào cũng không dung thứ cho đám người phe Bành. Càng không thể để họ tha hồ tuyên truyền, mở rộng ảnh hưởng. Chỉ là lúc này ra tay đột ngột, e sẽ làm lòng người dao động, ảnh hưởng đại cục. Nếu Trâu Phổ Thắng và những người kia hoảng sợ, không chịu giúp thuyết phục thuộc hạ cũ, mọi việc sẽ khó xử lý. Ý thần là có thể ban một đạo luật áp dụng cho tất cả chùa chiền.
- Chùa chiền?
- Phải. Tịch thu hết ruộng đất và tài sản của chùa, không cho tăng nhân cày ruộng hay thu tô. Sau đó, phải sát hạch những tăng nhân hiện có. Chỉ ai thi đỗ mới được làm lễ trong chùa. Những người khác đều là tăng nhân giả, nhất loạt giải tán. Lại phải nói rõ với các nha môn và trường học khắp nơi: chúng ta chủ trương đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa. Kẻ nào rêu rao Phật Di Lặc giáng thế, Minh Vương tái sinh thì nghiêm trị!
Chu Nguyên Chương ngẫm nghĩ một lát rồi lập tức gật đầu.
Nói cho cùng, chính vì từng xuất thân làm tăng nhân nên lão Chu mới căm ghét tăng nhân đến thế. Hắn hiểu quá rõ đám người ấy làm những trò gì! Chu Nguyên Chương thậm chí từng nghĩ đến chuyện đóng cửa tất cả chùa chiền, ép tăng ni về nhà cày ruộng.
Nhưng cân nhắc nhiều lần, rốt cuộc hắn vẫn không xuống chiếu. Tuy vậy, vì tài sản chùa bị tịch thu, cảnh ngộ của tăng nhân ngày càng khó khăn. Nhiều người đã tự bỏ đi, số tăng nhân chỉ còn lại hai, ba phần mười.
Hơn nữa, sau khi chia ruộng, dân chúng tin tưởng triều đình sâu sắc hơn. Gặp chuyện, họ muốn tìm quan lại, người tuyên giảng, thậm chí thầy giáo trong trường, địa vị của tăng nhân vì thế sa sút hẳn.
Đó đều là những chuyện thật sự đã xảy ra ở Ứng Thiên và các nơi khác. Bởi vậy, lão Chu càng muốn thuận theo đà ấy, lặng lẽ hoàn tất mọi việc.
Nhưng Hồ Quảng vừa mới sáp nhập vào lãnh thổ Đại Minh. Chính nơi này cần dùng sức mạnh tuyệt đối để quét sạch rác rưởi, dẹp yên phong ba, trả lại cho dân chúng một trời quang đãng.
Lúc này, điều cần nhất là biện pháp rõ ràng, gọn ghẽ, thẳng thắn và hiệu quả.
- Tiên sinh, vậy kỳ thi ấy định thi thế nào?
Trương Hi Mạnh mỉm cười:
- Chúa công muốn kết quả ra sao, thần sẽ sắp xếp kỳ thi theo ý ấy.
Chu Nguyên Chương nhướng mày, đột nhiên nói:
- Tiên sinh, ta muốn cứ một trăm tăng nhân thì chỉ còn lại một!
Trương Hi Mạnh nhe răng cười khổ. Đúng là ngài ra tay còn độc hơn!
Đúng là đồng nghề thì ghét nhau, chẳng sai chút nào.
- Chúa công, nếu đã vậy, trước hết cần khảo hạch kiến thức căn bản. Kinh học, toán học, thiên văn lịch pháp, kinh sử, sách vở đủ loại, cứ noi theo khoa cử mà thi.
Chu Nguyên Chương không nhịn được cười lớn:
- Tiên sinh, ai thi đỗ được kỳ này thì cho làm quan luôn chẳng phải hơn sao? Cần gì nhất quyết xuất gia?
Trương Hi Mạnh cười đáp:
- Chúa công cũng phải cho phép một số người một lòng hướng Phật. Bổng lộc triều đình tuy dễ nhận, nhưng việc quan chẳng dễ làm. Cũng có người chỉ muốn sống thong dong, làm kẻ nhàn rỗi.
- Vậy cứ mặc kệ họ hay sao?
- Sao có thể dễ dàng như vậy! Tiếp đó phải khảo hạch Phật học, hỏi chủ trương của các tông phái, bắt trình bày những điều đã học và cảm ngộ. Sau đó, buộc họ viết thành văn theo lối bát cổ nghiêm ngặt. Đủ hết những vòng ấy, còn phải phỏng vấn để thử tài ăn nói. Mọi việc xong xuôi rồi mới cấp giấy phép xuất gia.
Nghe Trương Hi Mạnh trình bày, lão Chu thấy cách ấy khá ổn, bèn vui vẻ nói:
- Đúng như vậy, nếu quả thật một lòng hướng Phật, ta cũng chẳng nỡ ngăn cản, nhất định phải giúp họ toại nguyện!
Khi phép ấy được công bố, ai đọc xong cũng phải hộc máu. Nói đến độ tàn nhẫn, hai vua tôi này quả là hết nước chấm.
Muốn xuất gia theo quy định ấy thì phải làm sao?
Trước tiên, phải tinh thông học vấn, có bản lĩnh đáng kể, ít nhất đủ sức thi đỗ khoa cử.
Sau đó, người ấy còn phải gạt bỏ cám dỗ làm quan, dốc sức học Phật pháp, đọc rộng hiểu nhiều, vượt qua các kỳ thi mới lấy được tư cách.
Chỉ riêng hai bước ấy đã chặn đứng chín phần mười số người, đến đó bỏ cuộc cũng được rồi.
Nhưng khoan đã, còn phỏng vấn, còn phải thi tài giảng kinh thuyết pháp. Các vòng thi nối nhau, khó chẳng kém gì sang Tây Thiên thỉnh kinh.
Một năm có thể có mấy người thi đỗ?
Ba người, năm người, hay tám, mười người?
Dù sao triều đình muốn đánh trượt tất cả cũng được. Chẳng còn cách nào khác, tăng nhân dưới triều Nguyên quá lộng hành. Chùa chiền bát nháo thì chớ, nơi nào cũng thành bá chủ địa phương, buộc phải ra tay thật mạnh.
Vả lại, đám người Bạch Liên giáo còn rêu rao khắp nơi rằng Phật Di Lặc giáng thế, Minh Vương tái sinh, theo họ sẽ đến được thế giới đại quang minh. Từ nam chí bắc, đâu đâu cũng có người của chúng.
Nếu còn nâng Bành Oánh Ngọc lên quá mức, rồi xây miếu khắp nơi, thiên hạ e sẽ đại loạn thật.
Hẳn Trâu Phổ Thắng và những người kia cũng biết khó mà lui, ngoan ngoãn yên phận. Bằng không, để họ theo ông cháu nhà họ Trần sang Cao Ly cũng chẳng phải không thể.
Tóm lại, xử lý ổn thỏa việc này xong, kế tiếp là một tin mừng lớn. Thang Hòa dẫn quân người Miêu từ Nhạc Châu đến, hội quân với Chu Nguyên Chương thuận lợi.
Hai người xa cách nhiều năm, rốt cuộc cũng gặp lại nhau.
- Thần Thang Hòa bái kiến bệ hạ!
Thang Hòa bước nhanh đến, quỳ rạp xuống đất, nước mắt tuôn trào.
Chu Nguyên Chương vội đỡ hắn dậy, mắt cũng đỏ hoe. Hắn chăm chú nhìn Thang Hòa. Người kia đen gầy, làn da vì phơi nắng lâu ngày mà đỏ sẫm như màu tương, khó lòng phai đi.
Chu Nguyên Chương nhìn mà xót xa, nắm chặt cánh tay Thang Hòa, lắc mạnh, giọng đầy xúc động:
- Vất vả cho ngươi rồi, vất vả lắm!
Thang Hòa cảm khái:
- Khi thần rời đi, bệ hạ vẫn chỉ là Ngô Quốc Công. Giờ đây người đã là thiên tử Đại Minh. Mới mấy năm mà đổi thay quá nhiều! Đại Minh ta ngày càng hưng thịnh, thật khiến người ta mừng rỡ!
Lão Chu cười nói:
- Có được ngày hôm nay chẳng phải nhờ mọi người liều mạng hay sao? Nhất là các ngươi, có thể gắng gượng đến giờ quả thật chẳng dễ dàng.
Chu Nguyên Chương quay sang Trương Hi Mạnh:
- Trương tiên sinh, tiên sinh cũng xem nên ban thưởng thế nào mới phải?
Trương Hi Mạnh cười bước tới. Vừa trông thấy hắn, Thang Hòa càng thêm xúc động.
- Trương tiên sinh, tiên sinh đã khác xưa nhiều lắm! Nói thật, mấy năm nay, mỗi khi sắp không gượng nổi, ta lại lật xem bài viết của tiên sinh để tìm cách giải quyết khó khăn. Những người như chúng ta, gần như đều là học trò của tiên sinh!
Trương Hi Mạnh cười đáp:
- Tiên sinh quá lời rồi! Một chủ trương muốn thành hiện thực, không thể thiếu công sức của mọi người. Nói thật, không phải ta giúp các vị, mà chính các vị đã giúp ta nên nghiệp! Chúng ta cùng dạy nhau, cùng tiến bộ thôi.
Thang Hòa cười lớn:
- Tiên sinh quả là khéo ăn nói, nghe thật dễ chịu. Nhưng hiện giờ dưới quyền ta có mấy vạn quân, phần nhiều là người Miêu, binh sĩ người Hán rất ít, khác hẳn các cánh quân khác. Rốt cuộc phải sắp xếp thế nào, ta vẫn chưa có cách nào thỏa đáng.
Trương Hi Mạnh nói:
- Chuyện này ta đã bàn với chúa công không chỉ một lần. Đám tướng sĩ dưới quyền tiên sinh có thể nói là được tôi luyện thành thép, chẳng giống quân thường. Ý ta là chọn một nhóm người ưu tú nhất, làm cán bộ huấn luyện trong quân, truyền lại những điều các vị rèn giũa được cho tân binh. Còn chuyện quân Miêu, cứ đối xử bình đẳng. Sau khi sắp xếp lại đội ngũ, phân tán cựu binh đến các nơi, cho họ làm chức việc ở làng, phụ trách tiếp nhận dân di cư. Tiên sinh thấy thế nào?