Đứng trước chiếc giường vàng của Trần Hữu Lượng, lão Chu cũng ngẩn người. Nằm trên thứ này có thoải mái nổi không? Giường dài rộng hơn một trượng, bốn góc là những cột vàng chạm rồng cuộn. Trên thân rồng còn khảm đầy châu báu, nào ngọc trai, nào dạ minh châu… Đây là giường ngủ thật ư? Nằm lên đó chẳng sợ gặp ác mộng sao?
Lão Chu khẽ thở dài:
- Xa hoa đến mức này, sao nước nhà chẳng mất?
Nói rồi, hắn ngẩng lên hỏi:
- Những triều đại trước có vị vua nào cũng như thế không?
Hắn vừa dứt lời, La Phục Nhân vội cúi mình thưa:
- Bẩm bệ hạ, Mạnh Sưởng, hoàng đế Hậu Thục, từng dùng chiếc bô đêm làm bằng thất bảo.
- Thất bảo?
Lão Chu cau mày.
La Phục Nhân đáp:
- Quả thật như vậy. Chiếc bô ấy được làm từ mã não, phỉ thúy, châu báu, vàng, dạ minh châu, bạc, lưu ly và nhiều thứ quý giá khác. Ban ngày nó ánh lên rực rỡ, ban đêm lại phát sáng, quả là của hiếm. Sau khi Hậu Thục mất, có người dâng chiếc bô ấy cho Triệu Khuông Dận.
- Triệu Khuông Dận xử trí ra sao?
- Ông ta đập nát món đồ của kẻ mất nước ấy.
Lão Chu thở dài mấy tiếng, gật gù khen:
- Nói vậy thì Triệu Khuông Dận cũng chưa đến nỗi hồ đồ. Vàng ngọc tuy quý, nhưng đâu xứng để tô điểm cho bậc đế vương. La học sĩ, theo khanh, thứ gì mới xứng với thân phận thiên tử của trẫm?
La Phục Nhân trầm ngâm một lát, đưa mắt nhìn sang hai bên. Bỗng nhiên hắn nảy ra ý, liền thưa:
- Bẩm bệ hạ, dưới trướng thiên tử Đại Minh, hiền tài tụ hội, văn thần võ tướng đông đủ. Từ Trương tướng, Chu tham chính, đến Tín Quốc công Từ Đạt, Đại đô đốc Thường Ngộ Xuân, đều là những bậc văn võ hiền thần. Chỉ có họ mới xứng với uy nghi thiên tử!
Lão Chu thoáng sững người, rồi ngửa mặt cười vang, tiếng cười sảng khoái. Hắn vỗ tay, nói:
- Hay lắm! Làm đế vương, vàng ngọc chẳng qua cũng chỉ là thứ tầm thường, muốn có lúc nào chẳng được. Chỉ có hiền thần, dũng tướng mới là cánh tay, là tâm phúc của đế vương, là báu vật của một nước. La học sĩ có kiến giải như vậy, xem ra cũng là hiền thần danh sĩ, là báu vật của nước nhà!
La Phục Nhân run lên bần bật. Hắn có tài đức gì, vừa quy thuận mà đã được trọng đãi đến thế? Trong lúc xúc động, hắn quỳ sụp xuống đất, dập đầu lia lịa.
- Bệ hạ tại thượng, thần cả gan xin bệ hạ đưa dân Giang Tây sang bổ sung cho vùng Hồ Quảng. Như vậy, dân Giang Tây có ruộng để cày, Hồ Quảng có thêm dân cư. Hai nơi trao đổi những thứ mình có, bù đắp chỗ thiếu cho nhau. Chẳng cần mấy năm, vùng đất ấy sẽ hồi phục, lại trở nên trù phú. Có hai tỉnh làm gốc, Đại Minh ta đánh đuổi giặc Nguyên ở phương Bắc, thống nhất thiên hạ, chỉ còn là chuyện sớm muộn!
La Phục Nhân nói tiếp:
- Thần đã soạn một kế hoạch dời dân. Theo thần, trước hết nên chuyển các nhà giàu đi nơi khác. Phú thương, hào hộ trong làng, nếu cả thôn chỉ có một họ thì phải dời đi một nửa. Những người có học ở các nơi cũng cần chuyển đi theo. Cứ dời mười hộ dân thường thì phải đưa theo một người có học. Thợ thủ công, thầy thuốc cũng phải chuyển đi, không thể chỉ dời nông dân.
Chu Nguyên Chương thoáng ngạc nhiên, khẽ hỏi:
- Vì sao?
- Bẩm bệ hạ, làng quê muốn trăm nghề đều thịnh vượng, ắt phải dựa vào những tập quán, phép tắc đã truyền từ đời này sang đời khác. Nếu chỉ dời những người dân thường, họ biết mỗi việc làm ruộng, sẽ gặp nhiều điều bất tiện. Thiếu người có học, việc dạy dỗ dân chúng cũng khó tiến hành. Chỉ khi chuyển cả làng cùng đi, mọi người mới nhanh chóng thích nghi, ai nấy đều có chỗ dùng, trăm nghề cùng phát triển.
Những điều ấy, La Phục Nhân còn chưa nói hết với cả Trương Hi Mạnh. Đạo lý chẳng khó hiểu, nhưng làm theo sẽ đắc tội với quá nhiều người.
Không chỉ phải dời các nhà giàu, mà còn chuyển cả người có học, thợ thuyền và đủ hạng người trong trăm nghề. Đặc biệt, đám thư sinh nắm bút trong tay kia, chỉ riêng việc phải rời quê cũng đủ khiến La Phục Nhân mang tiếng xấu muôn đời, không ngóc đầu lên nổi.
Nhưng lời Chu Nguyên Chương vừa nói khiến hắn xúc động. Thiên tử đã đối đãi với ta như bậc quốc sĩ, lẽ nào ta lại phụ lòng ơn ấy!
Lão Chu tươi cười, lòng vui khôn xiết. Hắn quay sang hỏi:
- Tiên sinh, thiên tử xứng với hiền thần. Vậy theo tiên sinh, điều gì mới xứng với hiền thần?
Trương Hi Mạnh cười đáp:
- Văn thần lấy đức làm trọng, võ tướng lấy công lao mà lập thân. Bậc thiên tử sáng suốt thì đức sáng tựa nhật nguyệt, ngồi giữ bốn biển, thống nhất chín châu. Mấy món tiền bạc tầm thường kia thì đáng kể gì!
Lão Chu ngẫm nghĩ rồi cười:
- Tiên sinh quả nhiên kiến giải cao minh. Đã vậy, còn không mau đem món đồ tầm thường này đi nung chảy, để ở đây chướng mắt trẫm làm gì?
Các đại thần văn võ nghe những lời trước đó, lòng đã sôi lên, phục sát đất. Nay thấy lão Chu nói vậy, ai nấy càng nóng lòng muốn ra tay ngay.
Đúng lúc ấy, Trương Hi Mạnh bỗng lên tiếng:
- Chúa công, La học sĩ đã nhắc đến việc dời dân, thần xin mạo muội tâu thêm. Dời dân không thể thiếu tiền. Trần Hữu Lượng cướp bóc toàn là mồ hôi nước mắt của dân. Chi bằng chúng ta lập một phân cục in bảo sao ngay tại đây, dùng vàng bạc thu được làm vật bảo chứng rồi phát hành bảo sao. Như vậy cũng là lấy của dân, dùng cho dân, trả lại cho trăm họ những gì Trần Hữu Lượng đã cướp đoạt.
Lão Chu nghĩ ngợi một chút, rồi bật cười:
- Tiên sinh nghĩ kế thật khéo, khiến trẫm sáng mắt ra. Cứ làm như vậy!
Chiếu lệnh của Chu Nguyên Chương vừa ban xuống, bước đầu tiên trong công cuộc khôi phục dân sinh Hồ Quảng cuối cùng cũng được tiến hành.
Dân từ Giang Tây sẽ được đưa đến đó, lại có tiền bạc làm chỗ dựa.
Trên mặt La Phục Nhân ánh lên nụ cười tự tin. Dù người quê nhà có mắng hắn, dù đám văn nhân có nguyền rủa hắn, hắn cũng chẳng còn sợ hãi.
Thiên tử muốn thống nhất chín châu, lập nên công nghiệp lớn lao, ghi tên mình vào sử sách, khắc sâu trong lòng người. Văn thần võ tướng chẳng phải cũng mong được như thế hay sao?
Có cơ hội ra tay làm việc, lại có thể làm nên việc lớn, đâu phải lúc nào cũng gặp được.
La Phục Nhân chỉ hận không thể lập tức đem mạng mình dâng cho lão Chu. Từ nay, hắn chẳng còn phải canh cánh nỗi lòng phản chủ nữa. Bởi hắn chỉ rời bỏ chủ cũ, còn Trần Hữu Lượng thì đúng là kẻ nuốt chủ.
La Phục Nhân đang cảm khái, chợt có người chạy tới, áp giải theo mấy tù binh, trong đó có cả người lớn lẫn trẻ con.
- Thượng vị, đây là hai em trai và hai con trai của Trần Hữu Lượng.
Chu Nguyên Chương nhìn qua một lượt. Hắn cũng chẳng thể xác định họ có thật là người nhà Trần Hữu Lượng hay không, nhưng không sao. Bên này chẳng phải còn cha Trần Hữu Lượng là Trần Phổ Tài đó ư?
Chẳng bao lâu sau, ông lão được mời tới. Vừa nhìn thấy mấy người kia, ông lập tức nước mắt ròng ròng. Trần Hữu Trực và Trần Hữu Đương cũng run bắn lên, kinh ngạc đến ngây người.
- Cha!
Ông lão bỗng cười lạnh, nghiến răng rồi xông tới, vung tay tát mạnh hai đứa con bất hiếu.
- Lũ súc sinh! Ta đã bảo các ngươi đừng làm chuyện thất đức, các ngươi không nghe! Cứ khăng khăng theo tên khốn ấy, để đến nông nỗi nhà tan cửa nát, tuyệt đường con cháu!
Trần Phổ Tài đau đớn khôn nguôi, vừa chửi mắng vừa đấm đá hai đứa con. Cả hai không dám tránh, chỉ biết cắn răng chịu đòn.
Trần Thiện và Trần Lý lúc này cũng sợ hãi rụng rời. Hai đứa trẻ ôm chặt lấy nhau, gào khóc nức nở.
Nhìn cảnh ấy, Trần Phổ Tài cũng quỵ xuống đất. Ông cháu năm người ôm lấy nhau, khóc òa lên, ruột gan đau đớn, khiến người ta xót xa.
Chu Nguyên Chương nhìn cảnh đó, chợt khẽ thở dài:
- Thái tử cũng trạc tuổi chúng.
Trương Hi Mạnh nghe vậy liền hiểu ý lão Chu, cười nói:
- Chúa công, Trương Định Biên ở Cao Ly đánh rất khá. Chi bằng đưa hai đứa trẻ cùng cả nhà chúng đến Cao Ly, giao cho Trương Định Biên chăm nom.
Chu Nguyên Chương khẽ gật đầu, xem như chấp thuận.
Trần Phổ Tài lập tức nắm tay hai đứa cháu, quỳ sụp trước mặt Chu Nguyên Chương, dập đầu lia lịa:
- Đa tạ bệ hạ nhân từ! Thảo dân nguyện đến Cao Ly, nhất định sẽ dạy bảo con cháu hết lòng trung thành với Đại Minh, đời đời làm con dân Hoa Hạ.
Chu Nguyên Chương mỉm cười, chẳng để tâm mấy chuyện ấy.
Ngay cả Trần Hữu Lượng còn chẳng phải đối thủ của hắn, huống chi mấy người già yếu, trẻ thơ này. Thả họ đi, phần nhiều cũng là để thiên hạ thấy thái độ của lão Chu. Đến cả nhà họ Trần còn được tha, huống hồ những người khác.
Tốt hơn hết là đừng ngoan cố chống cự, hãy sớm đầu hàng để thiên hạ được yên.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng được tha. Chẳng hạn như Trịnh Sĩ Lợi.
Anh trai hắn là Trịnh Sĩ Nguyên, vì vụ án ấn không mà đã bị lão Chu chém đầu. Hai đứa cháu trai trưởng thành của hắn cũng không thoát. Sau đó, Trịnh Sĩ Lợi trốn sang chỗ Trần Hữu Lượng, nào ngờ thế lực của Trần Hữu Lượng sụp đổ nhanh đến vậy, tan thành mây khói chỉ trong chớp mắt.
Mấy binh lính quân Minh áp giải Trịnh Sĩ Lợi, nửa bên mặt tím bầm, đến trước mặt lão Chu.
Chu Nguyên Chương chẳng buồn nhìn hắn thêm lấy một lần.
- Lôi xuống, chém!
Trịnh Sĩ Lợi bị kéo đi. Chỉ trong chốc lát, một cái đầu đẫm máu đã bị treo trên cán cờ.
Tin chiến thắng liên tiếp truyền về. Trong hơn mười vạn quân của Trần Hữu Lượng ở trong thành, phần lớn đã đầu hàng. Số cố thủ chống cự chưa đến một vạn, về cơ bản cũng đã bị tiêu diệt.
Hai con trai Trần Hữu Lượng đã bị bắt, những nhân vật trọng yếu khác cũng lần lượt sa lưới. Chỉ riêng Trần Hữu Lượng là bặt vô âm tín.
Thường Ngộ Xuân sốt ruột phát điên. Hắn một lòng muốn bắt sống Trần Hữu Lượng để lập công lớn. Ai ngờ đánh vào hoàng cung, thứ duy nhất tìm được lại là chiếc giường vàng.
Quân lính lùng bắt khắp nơi, có bắt được một kẻ mặc long bào, nhưng vừa bắt lại đã nhận ra tuổi tác và diện mạo chẳng khớp.
Thật bực mình! Trần Hữu Lượng chạy mất rồi ư?
Chẳng phải chính ngươi khuyên người khác hy sinh vì nghĩa đó sao?
Đến lượt mình thì lại không chịu chết?
Đê tiện! Vô sỉ!
Cực kỳ vô sỉ!
Thường Ngộ Xuân chửi ầm lên, nhưng chẳng ích gì, đành hạ lệnh cho quân lính lục soát khắp nơi.
Vũ Xương rộng lớn như thế, muốn tìm một người quả thật chẳng dễ.
Binh lính lục lọi khắp nơi, cuối cùng tìm đến ngõ Yên Chi. Phải biết rằng dưới quyền cai trị của Đại Minh, Dương Châu, Kim Lăng, Hàng Châu, những chốn phồn hoa bậc nhất thuở trước, nay không còn lầu xanh công khai nữa.
Trong mắt Chu Nguyên Chương và Trương Hi Mạnh, có lẽ họ chưa thể quản lý mọi chuyện đến tận cùng. Nhưng ít nhất, chừng nào còn quản được, thì phải giữ cho thiên hạ trong sạch.
Thật ra việc ấy cũng chẳng khó đến thế. Khi ruộng đất được chia đều, nhà nhà đều có đất đai, ai cũng có thể làm ruộng mà sống, cuộc sống đã qua được, thì đâu cần tự hạ thấp mình.
Bởi vậy, không ít binh lính quân Minh chưa từng thấy nơi như thế này.
Các cô nương sợ hãi vô cùng, lo đám binh lính này làm càn, khiến họ gặp nạn. Binh lính quân Minh cũng sợ phạm quân luật, vội vàng lui ra.
Phen này đúng là cả hai bên đều sợ nhau.
Tin ấy truyền đến tai Thường Ngộ Xuân. Sợ xảy ra chuyện, hắn đặc biệt sai người tới bảo vệ cả khu vực, thậm chí còn cho mang đến ít gạo, rau củ.
Hai canh giờ nữa trôi qua. Thường Ngộ Xuân vẫn đang lùng bắt Trần Hữu Lượng thì bất ngờ nhận được tin hắn đã sa lưới!
Thường Ngộ Xuân mừng rỡ khôn xiết, vội chạy đi xem. Một cỗ xe ngựa của lầu xanh chạy tới, có mấy gã sai vặt phụ xe, theo sau là hơn mười cô nương. Ai nấy đều cuống quýt, hốt hoảng.
Trong xe ngựa trói một người đàn ông mặc đồ nữ từ đầu đến chân. Chính là Trần Hữu Lượng!
- Ha ha ha! Trần Hữu Lượng, ngươi cứ khuyên người ta hy sinh vì nghĩa, sao đến lượt mình lại hóa thành đàn bà thế này?