Chương 359: Chu Xí Thuyết Đắc Đối A - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 359

Chương 359 - Chu Xí Thuyết Đắc Đối A

☰ DS Chương 📖 3,011 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Trương Hy Mạnh dẫn theo một đoàn người, nối bước qua những lầu các đình đài để tiến vào thư viện.

Bạch Lộc Động thư viện có cội nguồn từ Lý Bột thời Nam Đường.

Tương truyền rằng Lý Bột nuôi một con hươu trắng, ngày ngày quấn quýt không rời nên người đời gọi ông là Bạch Lộc tiên sinh. Mãi sau này, khi Lý Bột nhậm chức Giang Châu thứ sử, có dịp quay lại chốn cũ bèn cho xây dựng đình đài lầu các, khơi dòng suối núi, vun trồng hoa cỏ, biến nơi đây thành một thắng cảnh nổi tiếng gần xa.

Nhà cửa được bao bọc bởi những ngọn núi chầu về một hướng, hình dáng tựa như cái hang lớn, thế nên nơi này mới có tên là Bạch Lộc Động.

Cảnh sắc thanh tân, phong quang tú lệ, tự nhiên thu hút đông đảo tao nhân mặc khách tụ về đây ngâm vịnh thơ ca, đàm đạo kinh điển, lâu dần thành một chốn tụ hội của tầng lớp tinh hoa.

Đến khi nhà Tông dựng nước, phong trào giảng học thịnh hành khắp nơi, các thư viện mọc lên như nấm sau mưa. Với nền tảng thâm sâu sẵn có, Bạch Lộc Động thư viện nhanh chóng vươn lên thành tấm gương sáng cho mọi thư viện trong thiên hạ, đào tạo ra biết bao danh sĩ tài ba.

Thế nhưng, người đẩy danh tiếng của Bạch Lộc Động thư viện lên đến đỉnh cao chói lọi lại chính là Đại nho Chu Hỷ.

Từ sau khi tu luyện lý học đạt đến cảnh giới chín tầng trời, ông liền chọn nơi đây để truyền bá học vấn, thu nạp hàng vạn môn đồ. Ít lâu sau, Lục Cửu Uyên với công lực tâm học tám trọng thiên cũng lặn lội tìm đến để cùng đàm đạo, luận bàn.

Được hai bậc đại nho gia ơn bồi đắp, Bạch Lộc Động thư viện nghiễm nhiên trở thành cội nguồn của phái lý học trong thiên hạ.

Gu thẩm mỹ của Chu Hỷ quả thật đạt đến trình độ siêu quần. Thư viện do ông để lại mang kiến trúc tứ hợp viện lớn, vừa khoáng đạt lại vừa thanh nhã... mang lại một thứ cảm giác rất khó tả thành lời.

Những gian tứ hợp viện bình thường vốn chỉ quy củ, ngay ngắn; khá hơn chút nữa thì lộng lẫy, nguy nga, ra điều uy nghiêm tráng lệ.

Thế nhưng viện lạc trước mắt lại khác hẳn. Nằm giữa sự khoáng đạt ấy là một nét độc lập riêng biệt, giữa chốn tao nhã lại phảng phất vẻ thanh đạm đơn sơ, bên trong vẻ mộc mạc cổ xưa ẩn chứa một bàn tay nhào nặn vô cùng tinh tế.

Trương Hy Mạnh từng ngắm qua những dinh thự thượng hạng ven Tây Hồ. Đó là cơ ngơi do họ Vương dốc cạn vốn liếng tạo dựng, kết tinh từ những tinh hoa tinh tế nhất của chốn viên lâm Giang Nam.

Vào khoảnh khắc đó, Trương Hy Mạnh từng đinh ninh rằng nơi ấy chính là chỗ ở tuyệt mỹ trên đời.

Thế nhưng khi đặt chân đến thư viện này, hắn mới vỡ lẽ ra rằng: dinh thự kia vẫn nặng nề hơi hướng thợ thuyền, phảng phất chút ý đồ phô trương kỹ nghệ.

Ngược lại, Bạch Lộc Động thư viện hoàn toàn không mang lại cảm giác gượng gạo ấy. Từ những lầu đài đình các cho đến các lớp học giảng bài, tất cả đều tự nhiên như vốn dĩ phải thế, bớt đi một phân cũng không xong, mọi thứ đều vừa vặn đến mức hoàn mỹ.

Thành thật mà nói, chỉ nhìn qua bố cục kiến trúc này thôi cũng đủ thấy tu dưỡng của Chu Hỷ đã vượt trần thoát tục. Nếu ông không làm đại nho mà đổi nghề đi làm kiến trúc sư, chắc chắn cũng sẽ xuất sắc vô cùng.

Chỉ tiếc là dẫu nhìn từ bên ngoài, một số công trình đã bắt đầu xuống cấp hư hại, bên trong e rằng còn thê thảm hơn nhiều.

Nói thật nhé, trước khi đặt chân đến thư viện, Trương Hy Mạnh từng ấp ủ đủ mọi ý định, thậm chí tính chuyện mở một trận "quật mộ chửi thây" thật triệt để, đánh cho một trận tơi bời hoa lá.

Hắn muốn quét sạch lão tặc Chu Hỷ vào sọt rác lịch sử, tiện thể chôn vùi luôn cả lý học một đi không trở lại!

Thế nhưng, khi bước đi giữa chốn thư viện này, Trương Hy Mạnh lại bất chợt cảm nhận được một luồng khí tức thân thiết lạ lùng, tựa như người tri kỷ cũ đang thì thầm gọi mời. Kìa tiếng suối reo róc rách, tiếng chim râm ran, gió chở hương hoa thoang thoảng, sắc núi mờ ảo nên thơ.

- Nơi này e là thần tiên cũng ở nổi, quả không hổ danh là thư viện đệ nhất thiên hạ!

Cao Khải cùng đám người thấy Trương Hy Mạnh cứ gật đầu liên hồi mà không ngớt lời khen ngợi chân thành thì không khỏi trợn tròn mắt. Có gì đó sai sai rồi đây!

- Trương tướng, ngài thấy nơi này rất tuyệt sao?

Trương Hy Mạnh cười lớn:

- Há lại không tuyệt hay sao? Giá mà không phải bận rộn chính sự, không phải lo toan bao chuyện trần ai tục thế này, ta thật chỉ muốn ở ẩn chốn non xanh nước biếc để đọc sách uống trà, ung dung tự tại thoát tục biết bao! Ta bảo này, không khí chốn sơn cừu này trong lành xiết kể, sống ở đây chắc chắn sẽ trường thọ, dư sức ăn đứt cái chốn người ngựa ồn ào ở Kim Lăng... À đúng rồi, Chu Hỷ thọ bao nhiêu tuổi?

- Bảy mươi mốt tuổi. - Cao Khải ngoan ngoãn đáp.

Trương Hy Mạnh nghe thế thì vô cùng kinh ngạc:

- Không nên như vậy chứ! Sống ở chốn này sao ít ra cũng phải sống qua mặt Khổng Mạnh chứ!

Khổng Tử thọ bảy mươi ba, Mạnh Tử thọ tám mươi tư, đó là thọ nguyên vốn chỉ dành cho các bậc thánh hiền, đặt vào thời xưa thì chính là đại thọ hiếm có, xứng danh nhân thụy. Thế nên mới có câu lưu truyền: bảy mươi ba, tám mươi tư, Diêm Vương không gọi tự khắc phải đi.

Chu Hỷ chỉ thọ bảy mươi mốt tuổi, tính ra quả thực hơi yểu mệnh.

Đúng lúc đó, Diệp Sâm ho nhẹ một tiếng rồi lên tiếng:

- Trương tướng, những năm cuối đời Chu Hỷ bị cuốn vào vòng xoáy đảng tranh. Hàn Thả Trụ đàn áp đạo học, trục xuất Triệu Nhữ Ngu, đồng thời bãi chức Chu Hỷ. Giám sát ngự sử Thẩm Kế Tổ chớp thời cơ dâng sớ vu cáo, liệt kê ra sáu tội danh tày trời của Chu Hỷ gồm bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, bất cung, bất khiêm. Y còn bịa đặt cả chuyện Chu Hỷ dụ dỗ ni cô làm sủng thiếp, dâng sớ thỉnh cầu Tông hoàng đế học theo Khổng Tử chém đầu Thiếu Chính Mão... Những năm cuối đời của Chu Hỷ vô cùng chật vật, bệnh phù chân tái phát, mắt trái mù lòa, mắt phải gần như chẳng thấy gì nữa. Dù vậy, ông vẫn cố gắng dốc sức viết sách, chỉ mong truyền lại đạo thống cho đời sau có người nối dõi.

Trương Hy Mạnh ngẩn người ra một chút, rồi cũng nhanh chóng nhớ lại những bi kịch trong quãng đời xế chiều của Chu Hỷ... Thật ra chỉ riêng đoạn này thôi cũng đủ khiến người ta thổn thức khôn nguôi.

Ai cũng biết triều đại nhà Tống vốn nổi tiếng với những cuộc đảng tranh kịch liệt, Bắc Tống như vậy, Nam Tống cũng chẳng khá hơn là bao... Khổ nỗi văn nhân triều Tống lại rất thích chuyện giảng học, kết quả là việc giảng học cứ thế bị quăng vào vũng bùn triều chính, hòa quyện với nhau thành một vò cháo heo.

Sau khi đỗ tiến sĩ, đường quan lộ của Chu Hỷ vốn dĩ chẳng cao ngất ngưởng, chỉ quanh quẩn ở các địa phương để giảng học, viết sách, dạy dỗ môn đồ... Khoảng thời gian ấy có lẽ là quãng đời ung dung tự tại nhất của ông.

Nào ngờ đến khi tuổi đã xế chiều, ngấp nghé lục tuần, được Triệu Nhữ Ngu tiến cử vào kinh giảng học cho hoàng đế, thì ông lại một cước bước thẳng vào vũng lầy thị phi. Không những bị biếm chức, ngay cả bộ lý học mà ông dốc bao tâm huyết gầy dựng cũng bị liệt vào hàng ngụy học rồi đem ra cấm tiệt.

Chu Hỷ cứ thế ôm nỗi uất hận trong bệnh tật giày vò rồi qua đời.

Điều trớ trêu là do hậu thế mang lòng chê bai khinh miệt lý học nên mới vạ lây sang cả Chu Hỷ, rồi tiện tay vác luôn những lời vu cáo ngày trước tròng thẳng lên đầu ông.

Hỏi rằng Chu phu tử rốt cuộc là oan hay không oan, nhất thời cũng chẳng biết phải phân bua thế nào... Những tội danh kia quả thực ông chưa từng làm, nhưng ngặt một nỗi lý học lại chính do một tay ông phát dương quang đại.

Tính đi tính ra, hóa ra lý học thuở ban đầu đâu phải một bước đã thành hiển học, thậm chí từng có lúc bị xem là ngụy học cấm cửa, còn Chu Hỷ phu tử thì kết cục tuổi già thê lương quạnh quẽ.

Trương Hy Mạnh cảm thán một hồi lâu, lúc này bọn họ vừa hay đi đến một khoảnh sân nhỏ. Nơi đây có một giếng nước cổ, một chiếc bàn đá và vài viên đôn đá nằm rải rác.

Trương Hy Mạnh tùy tiện ngồi xuống, đoạn cất lời hỏi mấy kẻ đi cùng:

- Các ngươi nói xem, thuở trước Chu Hỷ và Lục Cửu Uyên, có khi nào đã từng tranh luận ngay tại nơi này không?

Hắn nói tiếp với giọng đầy tiếc nuối:

- Chỉ tiếc là lớp học ngày nay đã trở nên tiêu sơ lạnh lẽo, chẳng còn bóng dáng bậc danh gia đại nho nào nữa. Bằng không, được ngồi tại đây cùng nhau luận bàn học vấn thì quả là một chuyện thú vị biết bao.

Phải, từ lúc Trương Hy Mạnh bước vào thư viện cùng mọi người đến giờ, dọc đường chẳng hề thấy bóng dáng một ai.

Rõ ràng là vì tránh họa binh đao nên ai nấy đã bỏ trốn cả rồi, thư viện cũng chẳng có lấy một người quản lý quét dọn. Nếu để thêm mấy năm nữa, nhà cửa đổ nát, gạch vụn hoang tàn khắp nơi, e rằng người đời sau chẳng còn cơ hội mà lĩnh hội phong thái của chốn giảng học thuở xưa của Chu Hỷ.

Trương Hy Mạnh thậm chí còn nảy sinh xúc động muốn xây dựng lại thư viện này.

Cao Khải và đám người thấy Trương Hy Mạnh tựa như biến thành một con người khác thì không khỏi thất vọng. Họ đành không cam lòng cất lời:

- Trương tướng, thật không ngờ Bạch Lộc Động thư viện nay đã người đi nhà trống, chẳng còn ai để luận kinh bàn điển nữa. Đã vậy, chi bằng chính ngài hãy đứng lớp giảng học tại đây đi!

Từ Bân cũng phụ họa:

- Phải đấy! Đem những điều dọc đường chưa kịp nói hết ra để giảng giải đi thôi. Sự suy vi của Bạch Lộc Động thư viện chính là thời khắc lý học lụi tàn, tân học trỗi dậy, Trương tướng gánh vác trọng trách này là đương nhiên rồi!

Tôn Viêm cũng vội vàng khom người tiếp lời:

- Bọn họ nói chí phải đấy!

- Phải cái đầu ngươi ấy! - Trương Hy Mạnh không khách khí quạt lại, Bất cứ môn học nào cũng phải có nền tảng lập luận và tự thành một hệ thống. Ta dẫu không ưa lý học, nhưng nếu bảo ta cứ thế đùng đùng lên mà vuốt mặt bắt hình dong chửi đổng vô cớ, thế chẳng hóa ra ta thành mụ đàn bà đanh đá chửi đổng giữa chợ hay sao? Suy cho cùng thì vẫn phải thấu hiểu con người, thấu hiểu sự việc trước đã... Các ngươi nếu rảnh rỗi thì đi quanh xem thử có vớt vát được bản thảo sách vở nào không.

Đang từ một cuộc tranh luận học thuật hào hứng, chớp mắt đã biến thành công tác cứu vác di tích văn hóa lịch sử.

Mấy kẻ chia nhau hành động, lượn một vòng rồi quay lại báo cáo rằng thư viện quả thực đã bỏ trống mấy năm nay. Gạch xanh ngói xám vẫn còn đó, nhưng khung cửa đã bị mối mọt ăn ruỗng, ngói lợp cũng dột nát cả, thoạt nhìn bên ngoài có vẻ tươm tất nhưng bên trong thực ra chẳng còn dùng được nữa.

Họ tìm đến phòng chứa sách, chỉ thấy thư tịch sớm đã bị chuyển đi sạch sẽ, sót lại vài chiếc giá gỗ rỗng tuếch tiêu điều.

Chẳng biết là do người của thư viện tự chuyển đi hay bị dân chúng làng bên thẫm tay khuân sạch, tóm lại là chẳng còn lại gì.

Cả đám tìm kiếm một hồi, rốt cuộc chỉ bê được mấy tấm ván gỗ quay lại đặt trước mặt Trương Hy Mạnh.

- Trương tướng, giấy thì tuyệt chủng rồi, chỉ có mấy tấm ván này là còn chữ, hình như là học quy thuở trước.

Vừa nghe thế, Trương Hy Mạnh lập tức đứng vùng dậy, bước đến đặt tấm ván lên bàn đá rồi nheo mắt cẩn thận nhận diện những nét chữ trên đó.

- Học giả học điều này là đủ. Mà thứ tự để học, cũng có năm điều, phân loại như sau: Học rộng hỏi sâu. Suy nghĩ cẩn trọng. Phân biện rạch ròi. Thực hành đến nơi đến chốn. Trên đây là thứ tự học tập. Học, hỏi, suy, biện, bốn điều ấy chính là phương pháp cùng tận lý lẽ vạn vật.

Trương Hy Mạnh vốn đã quen đọc văn cổ, hơn nữa những câu này cũng chẳng hề tối nghĩa, đại ý là thứ tự học tập gồm có năm bước: rộng học, kỹ hỏi, suy nghĩ cẩn thận, phân biệt rạch ròi, thực hành trung thực. Đó chính là trình tự học tập. Bốn điều học, hỏi, suy, biện chính là phương pháp để đi đến tận cùng lý lẽ của sự vật.

Đọc lướt qua một lượt, Trương Hy Mạnh không nhịn được mà lẩm bẩm:

- Học rộng, đặt câu hỏi, suy ngẫm, phân biệt, rồi quán triệt thực hiện... Chẳng phải đây đúng là những điều ta vẫn hằng chủ trương đó sao? Nào chỉ việc trị học, trị quốc an dân cũng phải nắm bắt rộng rãi tình hình, nêu lên vấn đề, suy ngẫm phân tích, đưa ra phương án rồi mới tiến hành thực hiện... Đây thực sự là do Chu Hỷ chủ trương ư?

Mọi người cùng lúc gật đầu:

- Quả thực là do Chu phu tử chủ trương đấy.

Trương Hy Mạnh không kìm được lại đọc tiếp đoạn dưới:

- Về việc thực hành đến nơi đến chốn, từ việc tu dưỡng bản thân cho đến đối nhân xử thế, tiếp vật, mỗi việc đều có trọng yếu riêng, phân ra như sau: Lời nói trung tín. Hành vi đè nặng sự cung kính. Nén giận dẹp dục. Hướng thiện sửa lỗi. Trên đây là yếu quyết tu dưỡng bản thân.

Mấy câu này nối tiếp ý trên để khai triển sâu hơn, rốt cuộc phải làm sao để thực thi cho trọn vẹn? Chính là phải nắm vững nguyên tắc tu thân, xử thế, tiếp vật, mỗi thứ đều có yếu lĩnh riêng. Lời nói ra phải thành tín, hành vi phải đầm thắm kính cẩn, kìm nén cơn giận, dập tắt tư dục, sửa đổi lỗi lầm để hướng về điều thiện. Đó chính là tôn chỉ tu thân.

Trương Hy Mạnh đọc đi đọc lại, thú thật là hắn chẳng thể tìm ra chỗ để bắt bẻ, tự vấn lòng mình, e rằng bản thân hắn chưa chắc đã đạt tới cảnh giới này.

Đọc tiếp xuống dưới:

- Chính nghĩa của mình chớ mưu cầu lợi ích. Sáng tỏ đạo lý của mình chớ tính toán công danh. Trên đây là yếu quyết xử thế.

Đọc đến câu này, Trương Hy Mạnh suýt nữa vỗ tay khen ngợi. Chu Hỷ chủ trương làm bất cứ việc gì cũng là để phò tá chính nghĩa chứ không phải vì lợi ích cá nhân, làm để minh bạch chân lý chứ không vì một góc công danh sự nghiệp của riêng mình. Những lời này gãi đúng chỗ ngứa trong tâm can Trương Hy Mạnh.

- Các ngươi nhìn xem, Chu Hỷ bảo làm việc là vì nghĩa chứ không phải vì lợi... Thử hỏi đám sĩ phu trong thiên hạ sao lại có thể đi thôn tính ruộng đất, nuôi dưỡng gia nhân, trốn tránh tô thuế lao dịch? Sao lại có thể vì chút tư lợi cá nhân mà tham lam vô độ, bỏ mặc dân chúng lầm than, quốc gia khốn đốn?

- Ta thấy Chu Hỷ giảng rất đúng đấy chứ! Người đời sau theo lý học rốt cuộc lại phụ lòng dạy dỗ của Chu tử rồi!

Đám đông cùng lúc trợn tròn mắt. Này Trương tướng, ngài có biết thế nào là nói một đằng làm một nẻo không vậy hả?