Hắn thầm nghĩ bản thân lúc trước quả thực gặp may, vừa vặt được một đứa con ngoan, lại vừa vặt được một đại tài phụ tá quốc gia.
- Tiên sinh, muốn vây đánh con mãnh thú Trương Định Biên kia, một mình ta sợ là không ép nổi Từ Đạt. Hay là ngươi đi cùng ta một chuyến? Tiện thể thăm hỏi tiểu tử kia luôn, không biết nó giữ thành mấy ngày nay có bị dọa cho tè ra quần không đây?
Trong lòng Trương Hy Mạnh khẽ động, đi gặp Chu Vân Anh ư?
Không được, tuyệt đối không được!
Hắn mà đến, tiểu tử kia chẳng phải sẽ leo lên đầu lên cổ người ta hay sao?
Tên nhóc đó đã biển thủ bổng lộc của hắn bao nhiêu năm nay, khiến hắn tức đến đau cả gan. Đợi đến lúc hắn sang Vân Nam, cứ bắt nó gấp bội trả lại. Vân Nam là một nơi tốt, không chỉ có nấm ngon ăn hoài không hết mà còn có mỏ đồng, nhất định phải bắt tiểu tử đó hiếu kính cho đàng hoàng, mỗi năm cống nến mấy trăm vạn lượng.
Dám ăn chặn tiền của ta, ta muốn ngươi phải trả lại gấp vạn lần!
Trương Hy Mạnh nghiến răng nghiến lợi hệt như một gã gian thương.
- Chủ công, đối phó với Trương Định Biên thì thần xin cáo từ không tham gia. Thật ra thần vẫn còn một nơi quan trọng hơn phải đi.
Chu Nguyên Chương ngẩn ra: - Tiên sinh định đi đâu?
- Đi chiến trường của thần! - Trương Hy Mạnh nói với vẻ đầy ẩn ý.
Trương Hy Mạnh cưỡi một con lừa nhỏ, dưới sự hộ tống của một đội vệ binh, từ Giang Châu xuôi nam thẳng tiến đến sườn nam Ngũ Lão Phong. Nơi đó có một thư viện được mệnh danh là thiên hạ đệ nhất, mang tên Bạch Lộc Động Thư Viện.
Bậc đại nho phái Lý học là Chu Hỷ từng giảng học ở chốn này.
Người đặt nền móng cho Tâm học là Lục Cửu Uyên cũng từng truyền đạo nơi đây.
Một tòa thư viện, hội tụ cả Lý học lẫn Tâm học, chi phối mạch văn Hoa Hạ suốt mấy trăm năm, đó là một thành tựu vĩ đại nhường nào!
Mà Trương Hy Mạnh, vị Trương phu tử mới nổi gần đây, nếu muốn thay thế Lý học và tự lập một nhánh riêng, thì mục tiêu đầu tiên cần phải chinh phục chính là Bạch Lộc Động Thư Viện!
Chu Nguyên Chương là bậc quân vương, phóng mắt nhìn non sông vạn dặm, luôn ôm mộng nuốt chửng bốn biển, thu thâu tám hoang, chỉ hận không thể khắc lên từng tấc đất thiên hạ một chữ Chu to tướng.
Thế nhưng, khác với Chu Nguyên Chương, con đường của Trương Hy Mạnh là một lối đi hoàn toàn khác. Những điều hắn đang xoay sở thực chất nhắm đến việc thay thế Lý học, dẫn dắt đại thế ngàn năm, chi phối sự hưng thịnh trở lại của Trung Hoa.
Tầm vóc của hắn lớn lao nhường nào!
Cho nên kẻ khác đánh bại Trần Hữu Lượng thì tơ tưởng đến địa bàn, nhân khẩu, binh mã tiền tài... Duy chỉ có ánh mắt của hắn lại đặt vào tòa thư viện mà tất cả mọi người đều bỏ quên.
Chu Hỷ ơi Chu Hỷ, đừng trách ta đến đào mộ tổ, cướp lấy cơ nghiệp và cắt đứt mạch văn của ngươi nhé.
Đi theo Trương Hy Mạnh ngoài lực lượng hộ vệ ra, còn có Tôn Viêm, Diệp Sâm, bên cạnh đó Cao Khải, Từ Bôn cùng mấy người trẻ tuổi khác cũng có mặt trong đoàn.
Bọn họ nào hay biết dự tính trong lòng Trương Hy Mạnh, chỉ cảm thấy Trương tướng quả nhiên đúng chất văn nhân. Tòa thiên hạ đệ nhất thư viện này danh tiếng lẫy lừng, phàm là kẻ đọc sách nào lại không ngước nhìn những bậc tiền hiền, có thể cọ xát chút văn khí nơi đây cũng là chuyện tốt.
Đám người vừa đi vừa cười nói vui vẻ. Trương Hy Mạnh cưỡi trên lưng lừa, bỗng cất tiếng hỏi: - Ai trong các ngươi có thể nói xem, mạch văn Giang Tây sâu dày, Bạch Lộc Động Thư Viện nổi danh thiên hạ, rốt cuộc là vì nguyên nhân gì?
Mọi người chần chừ. Vấn đề này chẳng lẽ không phải là chuyện hiển nhiên hay sao?
Hơi lâu sau, Cao Khải mới ngập ngừng lên tiếng: - Trương tướng, Bạch Lộc Động Thư Viện hướng mặt ra hồ Bà Dương, lưng tựa vào Ngũ Lão Phong, hội tụ văn mạch thiên hạ. Giang Tây từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là đất linh sinh người kiệt, anh tài xuất chúng, đây là chuyện ai ai cũng rõ.
Trương Hy Mạnh cười hì hì: - Nghe quân nói một lời, hệt như nghe một lời!
Cao Khải còn định nói tiếp nhưng chợt khựng lại. Hắn ý thức được có điều gì đó không đúng, gương mặt tuấn tú trắng trẻo bỗng chốc đỏ lựng lên. Mấy người bên cạnh thấy vậy cũng không nhịn được phì cười, phen này bẽ mặt chưa kìa!
Cao Khải nín nhịn một hồi lâu, đành vâng tay hành lễ: - Xin Trương tướng chỉ giáo.
Trương Hy Mạnh mỉm cười: - Thật ra hỏi câu này cũng là muốn bàn với các ngươi một chút về những cảm ngộ gần đây của ta. Dẫu sao đã đến nơi Chu Tử từng giảng đạo, nếu không có lấy chút điểm gì khác biệt, thì quả thực ta không dám đối mặt với các bậc tiền bối, chỉ sợ bị người đời cười chê mất.
Giữa đôi mày Trương Hy Mạnh phảng phất nét kiêu ngạo. Mọi người thoáng bừng tỉnh, hèn chi Trương Hy Mạnh lại cất công chạy tới đây, hóa ra hắn đến để phá quán.
Theo lý mà nói, chuyện Trương Hy Mạnh chỉ trích các nhà Nho đời Tống, phê phán Lý học, lật đổ cương thường đã làm không ít lần. Thế nhưng những tư tưởng mà hắn truyền tải vẫn còn thiếu một hệ thống hoàn chỉnh, thiếu đi một nền tảng lập luận vững chắc.
Điểm này cũng không thể trách Trương Hy Mạnh. Nho giáo từ nền tảng nhân nghĩa vương đạo mà ra, trải qua hai ngàn năm bồi đắp phong phú, đã sớm hình thành một bộ hệ thống chặt chẽ với nội dung vô cùng phong phú và hoàn thiện.
Trái lại, Trương Hy Mạnh đem thiên lý giải thích một cách thô bạo thành việc chia đều ruộng đất, phân chia thành ba ngàn năm, lại ép Triệu Khấu phải quỳ lạy, đảo lộn cương thường vua tôi... Những điều này dẫu có sức nặng vô cùng nhưng cũng chỉ mang tính chất đập phá hệ thống Nho giáo, làm lung lay nền móng của Lý học.
Vấn đề ở chỗ, phá hoại thì đã đủ rồi, vậy lấy cái gì để thay thế?
Nên thiết lập một hệ thống mới như thế nào đây?
Xem ra vẫn chưa có manh mối rõ ràng, mọi người cũng không kỳ vọng quá cao. Dẫu sao những việc làm phía trên của hắn đã đủ khiến người ta kinh ngạc rồi, Trương Hy Mạnh lại chẳng phải dạng tay viết sung sức như ai kia, làm sao có thể liên tục cho ra sản phẩm ổn định được cơ chứ?
Nhưng xem chừng tình hình có vẻ khác lạ, Trương Hy Mạnh thật sự định bày biện ra mấy thứ mới mẻ!
- Trương tướng, bọn ta xin vểnh tai lắng nghe đây!
Trương Hy Mạnh cười bảo: - Học vấn đâu phải chỉ nghe là đủ, bắt buộc phải có thảo luận mới được. Những điều ta nói với các ngươi, nhất định phải ngược dòng lịch sử, phải dùng sự thật để kiểm chứng, phải chịu được sự thử thách thì mới có thể thuyết phục được đa số. Nếu chỉ là ta tự luyên thuyên một mình, vậy chẳng hóa ra tự lừa mình dối người hay sao?
Dặn dò dăm câu, câu chuyện lập tức xoay chiều. Trương Hy Mạnh bỗng nói: - Ta nhớ Mạnh Hạo Nhiên có một bài thơ gửi tặng Trương thừa tướng. Nay ta cũng mang họ Trương, giữ chức Hữu tướng, nếu có ai cũng làm tặng ta một bài thơ như thế, các ngươi bảo ta sẽ đối xử thế nào đây?
Lần này Cao Khải không dám hó hé gì nữa, song Từ Bôn lại cất lời: - Mạnh Hạo Nhiên cũng xem như tài thơ tuyệt đỉnh, với lòng yêu tài của Trương tướng, chắc chắn sẽ trọng dụng ông ta.
- Sai bét! - Trương Hy Mạnh dứt khoát đáp: - Ta đời nào thèm dùng loại cuồng sinh như thế!
Từ Bôn ngẩn người, theo phản xạ thốt lên: - Trương tướng, Mạnh Hạo Nhiên đường công danh lận đận, không chịu uốn mình theo thế tục, đâu thể coi là cuồng sinh!
- Không thể coi ư? Không cuồng ngông thì sao viết được câu muốn qua sông mà không có ghe thuyền, ngồi không thẹn với thời thánh minh? Hóa ra để một tài tử lớn như thế phải đường hoàng ngồiể chơi xơi nước, không có việc gì làm lại chính là sự sỉ nhục của đám người nắm quyền chúng ta hay sao? Chúng ta đều là lũ mù lòa, không biết nhận diện nhân tài, không phân biệt được hiền ngu, để cho người hiền rơi rớt ngoài đồng cỏ, ấy là lỗi của tể tướng phải không nào?
Từ Bôn ngơ ngác, hai câu thơ kia có ý nghĩa thế này sao?
Tôn Viêm đứng bên cạnh tiếp lời: - Mặc kệ Mạnh Hạo Nhiên có ý gì, dù sao ta cũng tin tưởng hai vị Trương thừa tướng, tuyệt đối đều suy nghĩ như thế cả!
Câu nói của hắn khiến tất cả mọi người được một trận cười lớn.
Cao Khải tò mò hỏi: - Trương tướng, chẳng lẽ ngài muốn bảo Mạnh Hạo Nhiên là kẻ không biết điều hay sao?
Trương Hy Mạnh mỉm cười: - Ta đi kể cho các ngươi nghe về một tên văn nhân hồ đồ không phân biệt được nặng nhẹ làm gì cho mất công? Thú vị lắm chắc? Điều ta muốn nói đến chính là Trương thừa tướng, vị đồng nghiệp của ta, chính ông ấy là người đã khai mở sự phồn thịnh cho Giang Tây!
Mọi người vô cùng kinh ngạc, đây là lý lẽ gì thế này?
Phải đợi một lúc lâu sau, Diệp Sâm mới chậm rãi lên tiếng: - Trương tướng, ý ngài có phải là việc đục thông núi Mai Lĩnh không?
Trương Hy Mạnh gật đầu: - Ta đang nói đến chuyện này đấy.
Mai Lĩnh còn có tên gọi khác là Đại Dũ Lĩnh, nằm ngay ranh giới giữa Giang Tây và Quảng Đông. Một dải núi non chắn ngang, tách biệt hai vùng đất, chia thành hai vòng tròn kinh tế văn hóa khác nhau.
Trương Cửu Linh từng mấy lần vượt qua Mai Lĩnh, ông thấu hiểu sự gian nan khi đường sá hiểm trở, việc trèo đèo lội suối vô cùng bất tiện. Vì thế Trương Cửu Linh dâng tấu lên Đường Huyền Tông, cuối cùng thúc đẩy việc đục thông núi Mai Lĩnh, xây dựng một con đường quan lộ rộng rãi.
Người đương thời miêu tả con đường ấy là thẳng băng đủ năm xe ngựa song hành, rộn rã bốn phương thông suốt.
Hãy thử nghĩ xem, vào thời nhà Đường mà có được một con đường quan lộ cho phép năm xe ngựa cùng đi một lúc, cảnh tượng ấy hoành tráng nhường nào?
Bốn phương tám hướng, thương nhân ở cả hai miền nam bắc núi Đại Dũ đều đi lại trên con đường này.
Chớp mắt, thương gia phồn thịnh, hàng hóa ngược xuôi không dứt.
Nếu chỉ là một con đường buôn bán thì cũng thôi đi, đến khi mọi người tụ hội về đây, bỗng phát hiện ra ở phía nam Mai Lĩnh chính là tuyến đường thủy Bắc Giang, cứ theo dòng nước xuôi xuống là có thể đến thẳng Quảng Châu.
Mà ở phía bắc Mai Lĩnh lại chính là lưu vực sông Cám.
Xuất phát từ sông Cám, đi qua hồ Bà Dương, tiến vào sông Trường Giang, sau đó đi theo kênh đào là đến thẳng khu vực trọng yếu là kinh thành.
Nói cách khác, con đường buôn bán này xuyên suốt nam bắc, kết nối vận tải biển, vận tải sông, vận tải lúa gạo... Khoảng cách xa xôi, phạm vi tác động lớn đến mức khó mà hình dung nổi.
Hơn nữa lưu vực hồ Bà Dương dân cư đông đúc, sản vật phong phú, vật tư từ thượng hạ lưu sông Trường Giang cũng sẽ hội tụ về đây rồi cùng nhau trung chuyển đi phương bắc.
Chính con đường thương mạo ấy đã tạo nên sự cất cánh kinh tế cho Giang Tây.
Chỉ là con đường này vào thời nhà Đường còn chưa kịp phát huy tác dụng thì đã gặp phải loạn An Sử, thiên hạ chia năm xẻ bảy, chiến tranh liên miên cho mãi đến thời Ngũ Đại Thập Quốc. Bách tính sống nay chết mai, thương nghiệp bị đè nén xuống mức thấp nhất.
Mãi cho đến khi nhà Bắc Tống lập quốc, cuối cùng cũng nghênh đón được những năm tháng thái bình hiếm hoi, thương nhân qua lại, hàng hóa hội tụ.
Giang Tây bước vào thời kỳ phát triển tốc độ cao.
Trong những năm hai triều nhà Tống, dù Chiết Giang và Ba Thục đều là những vùng cực kỳ phồn hoa, thế nhưng Giang Tây lại nổi lên như một hiện tượng, là nơi có tốc độ phát triển nhanh nhất.
Thương gia tụ họp, tài phú quy tụ, có được nền tảng vật chất rồi, khắp nơi ở Giang Tây thư viện mọc lên như nấm, anh tài xuất hiện lớp lớp.
Điểm này chỉ cần tra cứu sử sách một chút là sẽ rõ: Tông Dương Tu, Vương An Sổ, Tăng Củng, Yến Thù, Yến Kỷ Đạo, Hoàng Đình Kiên, Chu Hỷ, Lục Cửu Uyên, Dương Vạn Lý, Khương Quỳ, Văn Thiên Tường... Những cái tên chói lọi, rực rỡ hào quang ấy đều xuất thân từ Giang Tây.
Mà sự phồn vinh ấy vẫn tiếp nối cho đến tận thời nhà Nguyên. Ngay trước thềm cuộc khởi nghĩa Khăn Đỏ, số liệu thống kê nhân khẩu toàn quốc cho thấy dân số Giang Tây gần đạt đến con số một ngàn bốn trăm vạn người, chạm đến một mức độ khiến người ta phải kinh hãi!
Phải biết rằng toàn bộ nhà Nguyên còn chẳng có nổi một ức người cơ mà!
Kinh tế phồn thịnh, dân số đông đúc đã mang lại sự hưng thịnh về văn hóa, các học thuyết xuất hiện liên miên không dứt.
Chu Hỷ giảng học tại Bạch Lộc Động Thư Viện, Lý học từ đó thịnh hành khắp nơi cũng là điều dễ hiểu.
- Cho nên điều ta muốn nói không phải là mạch văn khí vận đã tạo ra kẻ sĩ, mà chính là tài phú thực tế... Là sản xuất lương thực, là giao thương buôn bán... Bản thân cái lão Chu Hỷ lúc giảng học ở Bạch Lộc Động Thư Viện, nghĩ đến cũng phải ăn cơm gạo đấy thôi, các ngươi nói xem có phải thế không?
Mọi người đồng loạt ngẩn người, kẻ nhạy bén như Cao Khải dường như đã hiểu ra Trương Hy Mạnh muốn nói gì rồi!
Bất luận là vương đạo nhân chính của Khổng Mạnh, hay là tư tưởng thiên nhân cảm ứng, hoặc thiên lý nhân dục của Chu Hỷ... Thật ra những điều này đều không thoát khỏi phạm vi của đạo đức quyết định luận.
Chỉ cần ngươi là một người tốt, hành vương đạo, thi hành nhân chính, tu thân tề gia thì chắc chắn sẽ trị quốc bình thiên hạ... Điểm này dưới con mắt của người đời sau xem ra giống như một trò cười, thế nhưng lại là chân lý chi phối tư duy của giới sĩ phu trong suốt một thời gian dài.
Thế nhưng Trương Hy Mạnh lại bảo rằng các ngươi đã giảng ngược lại rồi, chính vì tài phú vật chất, chính vì giao lưu thương mạo mới tạo nên sự hưng thịnh về văn hóa.
Quả nhiên là đến để phá quán, phen này có kịch hay để xem rồi.