Chương 338: Đăng Văn Cổ - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 338

Chương 338 - Đăng Văn Cổ

☰ DS Chương 📖 2,549 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Thu phục lòng người, quy tụ sức mạnh, trên dưới đồng lòng, muôn người một dạ… Đó là then chốt giúp quân họ Chu nhanh chóng lớn mạnh, đánh đâu thắng đó.

Đối mặt đại quân triều Nguyên, Trương Hy Mạnh đưa ra cương lĩnh đuổi giặc Hồ, khôi phục giang sơn Trung Hoa, nhờ đó quy tụ được Chu Thăng, Lưu Cơ, Tống Liêm cùng nhiều người khác.

Thêm vào đó, chủ trương chia đều ruộng đất đã giúp hắn giành được sự ủng hộ của dân chúng. Những điều ấy tạo nên nền tảng vững chắc cho quân họ Chu.

Muốn đưa quân họ Chu ngày càng lớn mạnh, ngoài việc chinh chiến bên ngoài, còn phải tuyên truyền, tranh thủ thêm người, thu phục thêm lòng dân.

Giang Tây và Hồ Quảng đều là nơi đảng Bành hoạt động sôi nổi. Tuy hòa thượng Bành đã tử trận, danh tiếng của ông ta vẫn còn. Người trong đảng Bành vẫn giữ được chỗ đứng ở Thiên Hoàn.

Phải viết bài này thế nào mới có thể thu phục họ, khiến họ tâm phục khẩu phục, dốc sức chiến đấu đến cùng cho quân họ Chu? Cấp ruộng đất và ban cho đủ mọi đãi ngộ là nền tảng vật chất. Còn phải giảng rõ lẽ phải, ấy mới là mấu chốt để lay động lòng người.

Trương Hy Mạnh ghé một ngôi miếu, chuyện trò với ông lão hồi lâu, rồi nhìn dân chúng hương khói cúng bái không ngớt. Bỗng nhiên, hắn hiểu ra một điều: với rất nhiều người, nhất là những nhân vật lịch sử, ta khó lòng đòi hỏi họ phải vẹn toàn không tì vết. Nhìn suốt nghìn năm lịch sử, thử hỏi có mấy ai hoàn mỹ?

Chẳng lẽ chỉ người không chê vào đâu được mới xứng làm anh hùng?

Thậm chí có người không thể gọi là anh hùng, cũng chẳng đáng xem như nhân vật chính nghĩa. Nhưng khi họ đưa ra một quyết định nào đó, ta vẫn nên ghi nhận…

Nhà Tần thi hành bạo chính, vì thế Trần Thắng, Ngô Quảng phất cờ khởi nghĩa.

Cuối đời Hán, quan trường rối ren, thiên tử u mê, hoạn quan lộng quyền, vì thế mới có cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng.

Nên nhìn Trương Giác và những người ấy thế nào?

Phép đạo của họ dĩ nhiên là giả, cách họ tụ tập dân chúng chưa chắc đã thỏa đáng. Nhưng trong bước đường cùng ấy, họ đã đứng lên chống lại, rốt cuộc không chịu bó tay chờ chết. Chẳng lẽ như vậy cũng không đáng khen?

Từ đó, ta còn có thể nhìn Mộ Dung Khác ở một góc độ khách quan hơn… Người Hồ làm loạn Trung Nguyên, giết chóc bừa bãi. Nhất là Thạch Hổ nhà Hậu Triệu, tàn bạo đến mức khiến người ta căm phẫn. Ngay cả con ruột mà hắn cũng móc mắt, chặt chân, cắt lưỡi, mổ bụng, nghiền xương thành tro. Quả đúng là một tên vua súc sinh.

“Trong ngoài sáu giống mọi rợ, kẻ nào dám mang binh khí đến, giết!”

Ngươi xem dân chúng như cỏ rác, vậy ta hà cớ gì không thể đẫm máu tàn sát, điên cuồng trả thù? Đến bước đường sống chết, còn mất, rút đao đối mặt, dù sao cũng hơn ngồi yên chờ chết.

Những gì họ làm, chẳng qua là để sống mà thôi!

Đúng sai phải trái, cứ để người đời sau bình luận.

Nói cho cùng, con cháu đời sau, khi đối diện vó ngựa giày xéo, núi sông tan nát, vận nước còn mất, tuyệt không thể quỳ gối đầu hàng, cam tâm cúi phục. Phải cầm đao, nắm gậy. Còn thở được thì còn phải tranh một phần, còn máu nóng thì còn phải góp sức.

Dẫu thế nào cũng phải có người đứng lên đánh trả. Chỉ khi chiến đấu, khi không chịu khuất phục, người ta mới có tư cách bàn xem cách làm hay dở, biện pháp đúng sai, rồi từ đó rút kinh nghiệm. Dù thành hay bại, tất cả đều là vốn quý để con cháu đời sau soi xét.

Còn nếu chẳng ai dám chống cự, người người quỳ gối đầu hàng, cam lòng thuận theo số phận, thì nước mất, sử đứt, văn minh lụi tàn. Đến cơ hội nhìn lại lịch sử cũng không còn.

Viết đến đây, Trương Hy Mạnh đã nắm được cốt lõi.

Phương Lạp khởi nghĩa dựa vào đạo Ma Ni; Bành Oánh Ngọc rao giảng Di Lặc giáng thế; Hàn Sơn Đồng nói về Minh Vương tái sinh. Những cách ấy chẳng cao minh bao nhiêu, chí hướng cũng chẳng lớn lao gì, hành động của họ thậm chí còn trái với những điều họ rao giảng. Quả thật, họ không phải anh hùng hảo hán.

Nhưng giữa một thời buổi xác đói đầy đường, người người không sao sống nổi, họ còn biết làm gì?

Tuyệt không cam chịu, tuyệt không ngồi chờ chết. Cầm đao cầm giáo lên, chiến đấu, liều mạng mà đánh.

Cúi đầu thì chắc chắn tuyệt vọng, ngẩng cao đầu chiến đấu thì vẫn còn một tia hy vọng sống. Được lưu danh sử sách để người đời sau bình luận, như vậy đã là thành công rồi.

Bởi lẽ, phần đông mọi người đều hóa thành xương trắng bên đường, thành thức ăn trong bụng dã thú, lặng lẽ biến mất như cỏ rác…

Trương Hy Mạnh cảm thấy dường như mình đã hiểu ra điều gì. Vì sao nền văn minh này kéo dài từ đời này sang đời khác? Vì sao nó vẫn sinh sôi không dứt? Bởi trong lòng mỗi người đều có một ngọn lửa bất khuất.

Chẳng có ai là con trời được số mệnh chọn sẵn. Chỉ là khi hết lần này đến lần khác rơi vào cơn nguy biến, giữa những bước đường sống chết, vô số người đã thắp lên ngọn lửa của riêng mình, soi sáng một khoảng trời… Chín mươi chín phần trăm trong số họ đều bỏ mạng trên đường chống cự. Chỉ một số ít may mắn sống sót đến cuối cùng, lần tìm được lối đi gập ghềnh giữa cảnh tuyệt vọng.

Chính những người may mắn ít ỏi ấy đã đủ sức vực lại vận nước suy tàn, giúp dòng giống lâu đời này tiếp tục sinh tồn, hồi sinh từ tro tàn, chẳng bao giờ diệt vong…

Trương Hy Mạnh rất muốn múa bút viết hết những điều ấy lên giấy. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng hắn không viết như vậy, mà đổi sang một góc nhìn khác.

Hắn thử đứng vào vị trí của các bậc đế vương qua bao đời, nhìn những cuộc khởi nghĩa nông dân cuồn cuộn như sóng dữ, đối diện hết lần này đến lần khác những cuộc nổi dậy. Trong số đó có người tài giỏi, cũng có kẻ vụng về. Có người lật đổ cả một triều đại, cũng có người còn chưa ra khỏi làng đã bị bắt giết.

Nhưng suy cho cùng, ai dám bảo dân đen dễ bề ức hiếp?

Ai dám xem thường những người dân thấp cổ bé họng ấy?

“Bổng lộc của quan, đều lấy từ mỡ máu dân. Dân dễ bề ức hiếp, trời cao khó lòng lừa gạt!”

Trời cao thì có gì mà không lừa gạt được?

Trời xanh xưa nay mù quáng, chẳng phân người hiền kẻ ngu, chẳng rõ kẻ trung người gian. Thật xót xa thay!

Người thật sự không thể lừa gạt, chính là muôn dân nhỏ bé như đàn kiến.

“Gạo thóc từng hạt, đều do dân làm nên. Mừng giận buồn vui, lòng người chẳng thể dối lừa!”

Nhìn lại mười sáu chữ Trương Hy Mạnh vừa sửa, quả nhiên ý cảnh đã cao hơn hẳn:

Miếng ăn manh áo, đều nhờ dân ban.
Muôn dân vui giận, sông núi đổi thay.

Thuận theo lòng trời, kính theo lòng người, ấy mới là gốc rễ của một nước!

“Thưa chúa công, lão thần cho rằng trước công đường của mỗi nha môn đều nên dựng một tấm bia như thế, để răn quan lại, nhắc nhở người đời sau!”

Chu Thăng là người lên tiếng đề nghị trước.

Chẳng mấy chốc, mấy viên quan cũng lần lượt bước ra tán thành.

Không ngờ Chu Nguyên Chương đứng trước tấm bia, chăm chú ngắm những hàng chữ, lại không lập tức gật đầu. Hắn cau mày, trầm ngâm suy nghĩ.

Chẳng lẽ Chu Nguyên Chương không thích mười sáu chữ ấy?

Từ trước đến nay, đây là lần đầu lão Chu bác bỏ lời đề nghị của Trương Hy Mạnh.

Chẳng lẽ Ngô Vương sắp làm chủ thiên hạ, không muốn nghe những lời can gián khó lọt tai?

Mọi người nhìn nhau, tim đập thình thịch. Ai nấy nín thở, không dám gây ra một tiếng động.

Mãi đến khi tất cả sắp nghẹn chết, Chu Nguyên Chương mới cất lời:

- Tiên sinh Trương, ta thấy có hai chữ chưa ổn.

Trương Hy Mạnh thoáng sửng sốt, vội cúi người thưa:

- Xin chúa công chỉ dạy.

Lão Chu ngừng một chút rồi bật cười:

- Không phải không ổn, mà là tiên sinh còn giữ lại điều chưa tiện viết ra. Để ta sửa cho tiên sinh vậy!

Nói rồi, lão Chu giơ tay, lớn tiếng gọi:

- Mang bút mực đến!

Quách Anh đáp lời, vội đem một cây bút lớn đến trao cho Chu Nguyên Chương.

Lão Chu bước thẳng tới trước tấm bia, ngắm đi ngắm lại, rồi bất thần vung bút, thay hai chữ “mừng giận” bằng “hưng suy”.

Chỉ trong chớp mắt, mười sáu chữ đã thành:

“Gạo thóc từng hạt, đều do dân làm nên. Một hưng một suy, lòng người chẳng thể dối lừa!”

Viết xong, lão Chu cười ha hả:

- Thiên mệnh chính là lòng dân, hưng suy do lòng người định đoạt. Triều Nguyên vì đánh mất lòng dân nên mới bại. Ta nhờ thu phục lòng người mà dựng nên nghiệp lớn! Mười sáu chữ này không chỉ phải dựng trước các nha môn, mà trong vương cung của ta cũng cần có một tấm bia như thế.

Trương Hy Mạnh kinh ngạc, lập tức nói:

- Chúa công sáng suốt!

Chu Thăng và Uông Quảng Dương cũng vội phụ họa:

- Chúa công sáng suốt!

Tiếng ca tụng vang lên không dứt.

Đinh Phổ Lang và Phó Hữu Đức cũng đều tâm phục khẩu phục.

Không sợ không biết hàng, chỉ sợ đem ra so sánh.

Khí độ và tầm nhìn của Chu Nguyên Chương quả thật không phải hạng người như Trần Hữu Lượng có thể sánh bằng.

Theo hắn làm việc, ai nấy đều cảm thấy trong lòng sáng rõ, trên mặt vẻ vang. Trên thì không phụ tổ tiên, dưới thì không thẹn với con cháu. Ta làm việc phải, cứ đường đường chính chính mà tiến lên!

Giữa tiếng tán dương vang dậy, lão Chu vẫn bình tĩnh như thường.

- Lời thì ta đã nói ra, nhưng rốt cuộc có làm được hay không, ta cũng chưa dám chắc. Chuyện đơn giản nhất là, nếu ta ở trong vương cung, không gặp được dân chúng, chẳng nghe thấy họ nghĩ gì, thì mười sáu chữ này cũng chỉ là lời nói suông. Hồi ở Thù Châu, ta còn thường dành thời gian gặp dân. Có việc gì, họ có thể đến tìm ta. Nhưng mấy năm nay, địa vị của ta ngày càng cao, đất đai cai quản ngày càng rộng, người vây quanh ta cũng ngày càng đông… Đã chẳng biết bao lâu rồi ta không được nghe tiếng lòng dân chúng. Các khanh nói xem, phải làm sao mới được?

Lão Chu nhìn sang Trương Hy Mạnh, thấy hắn cũng đang suy nghĩ. Lúc ấy, Chu Thăng lên tiếng:

- Thưa chúa công, trong sách Lễ đã chép rằng bên ngoài cửa chính của cung lớn nên dựng một chiếc trống đường, để người cùng khổ có thể đến gõ trống, báo tin cấp bách. Sách Đường Hội Yếu ghi lại, vào năm Hiển Khánh thứ năm, có người ôm trống đến công đường kêu oan. Hoàng đế bèn sai đặt trống Đăng Văn ở Đông Đô, Tây Kinh cũng làm theo. Ngay cả triều Nguyên cũng có quy định: ai có việc thì đến đài hoặc tỉnh kêu oan; nếu xét xử không công bằng, được phép đến viện trống Đăng Văn đánh trống trình bày.

Chu Thăng nói tiếp:

- Chúa công có thể đặt trống Đăng Văn ngoài vương cung. Dân chúng gặp nỗi oan khuất, bất bình thì được phép đánh trống kêu oan, để chúa công đích thân xét xử.

Nghe vậy, Chu Nguyên Chương gật đầu, nhưng vẫn cảm thấy chưa thật thỏa đáng.

Trương Hy Mạnh nói:

- Chúa công, trống Đăng Văn chỉ dùng để xử lý oan khuất. Thần nghĩ, khi ban hành những chính lệnh liên quan đến đời sống dân chúng, có thể mời những người dân có liên quan đến viện trống Đăng Văn. Chúa công sẽ hỏi han họ bất cứ lúc nào, lắng nghe ý kiến của họ về các phép tắc, chính sách. Nếu thật sự có chỗ sai, ta kịp thời sửa đổi, tránh để thành họa lớn.

Nghe lời đề nghị của Trương Hy Mạnh, cuối cùng Chu Nguyên Chương cũng nở nụ cười hài lòng.

- Hay lắm! Cứ làm như vậy! Ta không thể chỉ dựa vào những phép tắc sẵn có. Phải biết đổi mới, phải làm tốt hơn!

Những lời ấy của lão Chu quả thật đã thu phục lòng người.

Đám binh sĩ Thiên Hoàn theo Đinh Phổ Lang và Phó Hữu Đức đến quy thuận, cùng những người cũ của đảng Bành, sau khi biết chuyện này đều cảm động rơi nước mắt.

- Có ruộng để cày, có áo để mặc, thuế má công bằng, gặp oan khuất còn có thể kêu lên trên… Ngay cả cảnh đại đồng cực lạc mà Tổ sư Bành năm xưa nhắc đến, e rằng cũng chưa chắc được như thế!

Đinh Phổ Lang cảm khái từ đáy lòng. Phó Hữu Đức cũng xúc động không kém:

- Được gặp chúa công, lòng ta chẳng còn chút do dự nào nữa. Chẳng trách bậc hiền nhân như tể tướng Trương lại cam lòng phò tá. Chúa công quả có khí tượng đế vương, lòng ôm cả thiên hạ. Thật đáng khâm phục!

Đinh Phổ Lang nghĩ ngợi hồi lâu rồi trịnh trọng nói:

- Ta định viết thư cho sư huynh Trâu và sư huynh Triệu, khuyên họ bỏ tối theo sáng. Trần Hữu Lượng đã tự xưng Hán Vương, sớm muộn gì cũng xưng đế. Lòng dạ hắn hẹp hòi, người cũ của đảng Bành ắt sẽ bị tàn sát. Chi bằng sớm quy thuận còn hơn!

Phó Hữu Đức cũng thấy lòng xao động, chỉ là bộ hạ của Lưu Phúc Thông vẫn đang bắc phạt. Lúc này sang dụ người của ông ta, liệu có thích hợp chăng?