Chương 336: Vi Phản Tặc Lập Truyện - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 336

Chương 336 - Vi Phản Tặc Lập Truyện

☰ DS Chương 📖 2,372 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Trương Hy Mạnh cầm bút, ngồi hồi lâu. Mực nhỏ xuống, loang đen cả một mảng giấy. Hắn bực bội vò tờ giấy thành cục rồi ném xuống đất.

Bài này thật khó viết. Kỳ thực, văn tài của Trương Hy Mạnh trong quân Chu gia còn chưa đáng kể là bao, nhưng nếu bàn về viết văn nghị luận, luận lý lẽ, chẳng ai bì kịp hắn.

Dẫu vậy, lần này hắn vẫn thấy vướng víu trăm bề.

Những bài trước, Trương Hy Mạnh đều viết với khí thế đanh thép. Dù có bắt Hoàn Nhan Cấu quỳ xuống, ấy cũng chỉ là thách thức khuôn phép lễ giáo mà hắn chẳng coi vào đâu.

Nhưng bài này lại nhắc đến những người phần nhiều gây tranh cãi. Đánh giá họ thế nào, mỗi người một ý. Muốn viết sao cho công bằng, phải chăng, quả là thử thách bản lĩnh.

Viết về những thủ lĩnh khởi nghĩa như Trần Thắng, Ngô Quảng thì còn dễ. Nhưng hạng người như Hoàng Sào, phải nhìn nhận ra sao?

Phương Lạp chống lại Bắc Tống, lẽ đương nhiên có lý. Nhưng ông ta lại là thủ lĩnh Ma Ni giáo, vậy nên đánh giá thế nào?

Từ Phương Lạp, Trương Hy Mạnh nghĩ đến Bành Oánh Ngọc. Hai người này quả chẳng khác nào đúc từ một khuôn. Chỉ là một người theo Ma Ni giáo, một người theo Bạch Liên giáo; một người chống Bắc Tống, người kia một lòng lật đổ Đại Nguyên.

Có lẽ có thể nói, lật đổ nhà Nguyên là chống lại giặc Hồ, khí thế càng can trường, càng đáng ngợi khen. Nhưng người chống giặc Hồ đâu chỉ có riêng Bành Oánh Ngọc?

Văn Thiên Tường, vị danh thần chống Nguyên, Nhạc Phi, danh tướng chống Kim… Lần ngược xa hơn nữa, còn có những danh tướng chống Đột Quyết thời Tùy Đường, rồi thời Ngũ Hồ hoành hành Trung Nguyên, biết bao dũng sĩ đứng lên chống giặc như Tổ Địch, Hoàn Ôn… Còn có Minh Thiên Vương Nhiễm Mẫn, người được xếp vào hàng mười vị hiền triết trong miếu thờ các danh thần.

Huống hồ Cổ Đạo, kẻ từ lâu đã bị Nho gia xem là hình mẫu của phường gian ác…

Những nhân vật đầy tranh cãi ấy trải suốt mấy nghìn năm lịch sử, qua mấy chục triều đại, bao phen dâu bể. Lớp bụi thời gian chồng chất phủ kín mọi chuyện. Muốn nói cho tỏ tường, quả thật quá sức.

Trương Hy Mạnh chần chừ mấy lần, rốt cuộc vẫn chẳng đặt bút được.

Bài này khó viết quá!

Hắn dứt khoát buông bút, bước khỏi chỗ ở, định đi dạo một vòng cho khuây khỏa, tiện thể sắp xếp lại mớ suy nghĩ rối bời.

Thật khéo, hắn vừa rời doanh trại chưa được bao xa đã trông thấy phía trước có một quần thể miếu thờ. Người đi từ đường lớn vào đó không ngớt, khói hương nghi ngút, trông rất đông vui.

Trương Hy Mạnh cau mày. Một lúc sau, hắn mới nhớ ra nơi này chẳng phải ngôi miếu dựng để thờ những tướng sĩ tử trận trong trận chiến giữa doanh tù binh và Nghê Văn Tuấn đó sao?

Trương Hy Mạnh vẫn nhớ rõ, hôm ấy có một vị trung thần nhà Nguyên tên là Trương Văn Quý tử trận ngoài chiến trường, hài cốt cũng chẳng còn. Ngoài ra còn hơn một nghìn dũng sĩ đã bỏ mạng nơi đây.

Trông ngôi miếu này hương khói cũng thịnh nhỉ?

Tò mò, Trương Hy Mạnh bèn bước tới xem thử. Hắn còn trẻ, gương mặt non nớt, lại mặc áo vải, chẳng đeo món trang sức quý giá nào. Thoạt nhìn chẳng khác một thư sinh nghèo trong làng, chỉ có điều dung mạo tuấn tú hơn, khí chất nổi bật hơn, vóc dáng cao ráo hơn… Gom hết những cái “hơn” ấy lại, hắn chẳng còn tầm thường chút nào.

Các ông bà lão đi cùng đường đều bất giác ngước nhìn chàng thanh niên ấy.

Đẹp trai quá!

Con nhà ai thế nhỉ?

Đã cưới vợ chưa?

Có cần bà mối giới thiệu cho một cô không?

Con bé nhà ta khá lắm, năm ngoái còn vào trường học, đã thuộc làu Tam Tự Kinh rồi, đúng là dáng dấp tiểu thư khuê các. Có muốn làm quen, trao đổi ngày tháng năm sinh không?

Đương nhiên Trương Hy Mạnh chẳng biết các bà đang nghĩ gì. Hắn chỉ nhìn quanh, thấy con đường rộng rãi hơn trước nhiều. Dân làng dùng đất vàng đắp đường, hai bên trồng trúc xanh, từng đốt vươn thẳng, nom đầy khí thế.

Quả nhiên rất hợp với ngôi miếu.

Đến trước cổng, Trương Hy Mạnh thấy một ông lão đang cầm chổi quét lá rụng hết lượt này đến lượt khác. Vừa quét, ông vừa nhắc những người đến viếng:

- Mọi người mau lên nhé, một canh giờ nữa là đóng cửa rồi. Về nhà sớm đi, kẻo người nhà trông ngóng.

Dân chúng đến thắp hương đã quen với lời lải nhải của ông lão, ai nấy đều mỉm cười. Có người còn lấy đồ trong giỏ tre ra biếu ông.

Người thì mang bánh táo đỏ, người đem trứng gà, lại có người tặng miếng lót giày.

- Bác Lý, bác coi sóc cho cẩn thận, quét dọn cho sạch sẽ, đừng để các vị trong miếu phải lạnh lẽo nhé.

Ông lão nhận đồ, mỉm cười:

- Cứ yên tâm. Hầu hạ những người trong miếu không chu đáo, chết rồi ta sẽ đọa xuống mười tám tầng địa ngục mất. Mọi người cứ yên lòng. Sáng tối mỗi ngày một chén trà, mồng một ngày rằm một bát rượu, lễ tết thì có đủ lễ vật tam sinh… Dù ta có chết, khói hương trong miếu cũng chẳng bao giờ tắt.

Lúc này, có người lên tiếng:

- Bác Lý nói phải lắm. Đợi đến khi bác không làm nổi nữa, chúng ta sẽ chọn người khác thay. Năm xưa họ liều mạng bảo vệ chúng ta được bình yên, chúng ta phải để hương khói của họ lưu truyền đời đời, để con cháu muôn đời tưởng nhớ.

Dân chúng đồng thanh hưởng ứng. Mọi người lần lượt ùa vào trong, đến viếng những anh hùng đã khuất.

Trương Hy Mạnh nghe một hồi, không vào trong mà bước đến trước mặt ông lão, mỉm cười rồi hỏi:

- Lão bá, tôi là người ngoài. Từng đến không ít đạo quán, chùa chiền, nhưng nơi này hình như khác hẳn những chỗ khác. Lão bá có thể kể cho tôi nghe vì sao không?

Nghe vậy, ông lão như tỉnh cả người, cười ha hả, mời Trương Hy Mạnh ngồi xuống hành lang bên cạnh, còn đưa cho hắn một tấm đệm da chó.

- Cậu còn trẻ, chắc chưa biết đâu. Hồi ấy, tên giặc Nghê Văn Tuấn dẫn mấy vạn quân đến đánh chúng tôi. Khi đó quân ở Đồng Lăng chỉ có vài trăm người, chênh lệch lớn đến thế, cậu bảo chúng tôi phải làm sao? Chẳng lẽ ngồi chờ người ta chặt đầu?

Trương Hy Mạnh đáp:

- Đương nhiên không thể ngồi chờ chết. Các vị đã cầu cứu nơi nào chưa?

- Cầu cứu ư? Chờ người đến cứu thì đã muộn rồi. May mà khi ấy ở chỗ chúng tôi còn có hơn hai vạn tráng sĩ trong doanh tù binh. Họ đứng ra, liều mạng đánh nhau với tên Nghê Văn Tuấn, giữ được Đồng Lăng… Cậu không biết trận ấy thảm đến mức nào đâu. Cứ lấy mạng người mà lấp vào! Họ đều là hảo hán, xương cốt cứng cỏi, chẳng một ai sợ hãi. Ai nấy đều liều chết xông lên. Không có họ, dân Đồng Lăng chúng tôi đã chết sạch rồi.

Nhắc đến chuyện cũ, ông lão mở lời thao thao bất tuyệt, đem câu chuyện đã kể không biết bao nhiêu lần kể lại một lần nữa, giọng đầy nhiệt tình.

Ông kể với Trương Hy Mạnh rằng sau khi ngôi miếu được dựng lên, dân Đồng Lăng không chỉ thường xuyên đến cúng tế mà còn cẩn thận tìm kiếm quanh vùng. Trong đầm lầy, ngoài chiến trường, họ lần lượt tìm được hơn một trăm người đã hy sinh. Sau khi xác minh danh tính, họ khắc tên những người ấy lên bia đá, đặt trong miếu để nhận hương khói cúng dường.

Tên Trương Văn Quý đứng đầu danh sách, bên dưới lúc nào cũng có rượu. Nghe người ta kể, khi ở doanh tù binh, ông thích uống rượu lắm.

Nhưng rượu trong doanh tù binh quá ít. Muốn có rượu, ông không những phải tích cực làm lụng mà còn phải tranh với đám bợm rượu khác. Cả tháng chưa chắc uống được một lần.

Giờ thì cuối cùng ông cũng được uống thỏa thích rồi.

Trương Hy Mạnh lặng im giây lát, lòng cũng xúc động trước nghĩa cử của dân Đồng Lăng. Hắn còn muốn biết thêm, bèn tò mò hỏi:

- Tôi nghe nói những người này đều là tù binh của triều Nguyên, trong đó không ít người từng làm quan lớn. Hình như họ đã làm nhiều chuyện xấu. Lão bá nghĩ, mọi lỗi lầm trước kia có thể xóa hết được sao?

Ông lão nhướng mày, vẻ không vui, hẳn cho rằng Trương Hy Mạnh cố tình khơi chuyện chẳng nên khơi. Nhưng ông vẫn thở dài:

- Nói sao đây, cậu trai trẻ. Lão già này cô độc cả đời. Hai đứa con trai bị bọn Thát Đát bắt đi, chẳng biết chết ở đâu. Vợ ta khóc đến chết… Ta hận bọn Thát Đát, chỉ muốn ăn tươi nuốt sống chúng! Nhưng ta cũng không thể vong ân phụ nghĩa. Chuyện nào ra chuyện nấy. Những tráng sĩ ấy, bất kể trước kia từng làm gì, họ đã sửa đổi, lại còn vì bảo vệ Đồng Lăng, bảo vệ bà con mà bỏ mạng.

- Nếu cứ bám riết chuyện cũ không buông, chúng ta chẳng hóa ra kẻ tiểu nhân sao? Ta chẳng quản người khác nghĩ thế nào. Cả đời này ta sẽ quét dọn, trông coi ngôi miếu. Đợi đến khi ta chết, cứ chôn ta dưới rừng trúc. Xuống âm phủ rồi, ta cũng không quên ơn nghĩa của họ!

Trương Hy Mạnh mỉm cười gật đầu:

- Lão bá nói vậy, có phải nghĩa là trận chiến ấy đủ để xóa hết mọi lỗi lầm trước kia không?

- Thế thì không được sao? Cậu còn muốn thế nào nữa?

Trương Hy Mạnh trầm ngâm giây lát, chợt hiểu ra, lập tức đứng dậy, cúi mình cảm tạ ông lão.

- Đa tạ lão bá. Nếu không nhờ lão bá, tôi còn chẳng biết phải viết bài này thế nào.

Nghe nói hắn còn phải viết văn, ông lão đoán ngay hắn là người đọc sách.

- Cậu trai trẻ, sau này cậu cũng muốn làm quan cho Ngô Vương phải không?

Trương Hy Mạnh sững người:

- Nếu Ngô Vương trọng dụng, tôi cầu còn không được.

Ông lão nhìn hắn, chợt hừ một tiếng:

- Trẻ tuổi khí thịnh quá đấy. Cậu tưởng Ngô Vương còn phải ba lần đến lều cỏ mời cậu hay sao? Làm người thì phải thực tế. Mai sau có làm quan, nhớ đến bà con quê nhà, đừng làm chuyện thất đức là được. Cậu phải nhớ, trời cao có mắt. Chỉ cần làm việc tốt, người đời sẽ không quên.

Đối mặt với lời dạy bảo của ông lão, Trương Hy Mạnh chỉ có thể vui lòng tiếp nhận:

- Đa tạ lão bá nhắc nhở. Giờ tôi xin cáo từ.

- Khoan đã!

Ông lão gọi Trương Hy Mạnh lại, cầm một nén hương bên cạnh nhét vào tay hắn:

- Đi, vào trong thắp nén hương. Rồi suy nghĩ cho kỹ. Ta già thế này rồi, không lừa đám trẻ đâu!

Trương Hy Mạnh đành gật đầu, ngoan ngoãn vào trong thắp một nén hương, rồi suy nghĩ chừng một khắc. Khi trở về, ngồi trước bàn viết, hắn bỗng nhiên ngộ ra.

Thật ra, những điều hắn nghĩ ngợi bấy lâu đều đã lệch lạc.

Trần Thắng, Ngô Quảng lên đường đến Ngư Dương trấn giữ biên cương, lỡ mất thời hạn. Họ có cân nhắc xem luật nhà Tần ra sao, liệu có may mắn thoát tội không?

Hẳn là không. Dẫu luật lệ ghi thế nào, quan lại bên dưới thi hành ra sao lại là chuyện khác. Chẳng ai tin rằng Tần Thủy Hoàng đã chết, viên chức nhà Tần vẫn sẽ như người máy, răm rắp trung thành chấp hành luật lệ nhà Tần chứ?

Huống hồ, pháp gia chủ trương hình phạt nghiêm khắc, đâu muốn dân chúng biết luật pháp quy định những gì. Họ chỉ muốn dân sợ luật, chứ chẳng muốn dân hiểu luật.

Dù sao cũng phạm pháp, ắt sẽ chết… Đã vậy, chi bằng liều một phen còn hơn ngồi chờ chết.

Khi một người đã bị dồn vào đường cùng, họ sẽ vùng lên đánh trả, hay lặng lẽ chịu đựng?

Nghe qua tưởng là một câu hỏi đơn giản. Thế nhưng mấy trăm năm sau, vào thời thịnh trị của một triều đại không có hôn quân, vài vị người Tây Dương đã ghi chép rằng ở vùng quê Giang Nam có rất nhiều người dù không sống nổi nữa cũng chỉ chọn cách tự vẫn, lấy cái chết đổi lấy vài lời mắng nhiếc của dân làng dành cho cường hào địa chủ… Được người ta gọi một tiếng người tốt, dường như chết cũng đáng.

Hèn nhát đến thế, rẻ mạt như cỏ rác.

Văn minh suy đồi, gần như sắp diệt vong!

Nghĩ đến đây, Trương Hy Mạnh siết chặt nắm tay. Hắn muốn viết truyện về những kẻ phản nghịch, muốn cất tiếng ngợi khen bất kỳ dũng sĩ nào dám đứng lên thách thức cường quyền!