Chương 261: Tái Thứ Bị Đạo Đích Trương Hy Mạnh - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 261

Chương 261 - Tái Thứ Bị Đạo Đích Trương Hy Mạnh

☰ DS Chương 📖 3,136 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Cao Khải bị những bài văn của Trương Hy Mạnh cuốn hút, tuyệt nhiên không phải vì nhất thời nổi hứng. Chỉ cần nhìn vào những suy nghĩ của Chu Thăng, Lưu Bá Ôn và những người khác, cũng có thể thấy đại khái nguyên do.

Mông Cổ diệt nhà Tống, thống nhất thiên hạ, vậy mà cai trị rối ren đến mức dân chúng lầm than, khắp nơi chỉ còn tiếng than khóc.

Bấy giờ có rất nhiều người sáng suốt ngày đêm suy nghĩ, mong tìm ra căn bệnh lớn của thiên hạ.

Theo cách nhìn của hậu thế, người học khoa học tự nhiên lo cải tạo thế giới, còn người học khoa học xã hội thường lo giải thích thế giới, tổng kết đúng đắn những chuyện đã qua. Xét ra, việc ấy dường như chẳng đem lại giá trị thiết thực bao nhiêu.

Nhưng vào những thời khắc then chốt, một bản tổng kết đầy đủ và xác đáng lại có thể giúp người ta nhìn rõ chính mình, từ đó tìm được hướng đi cho mai sau.

Trước đây từng nhắc tới, từ đời Đường sang đời Tống là một bước ngoặt cực kỳ quan trọng. Đáng tiếc, sau đó lại xuất hiện cả đám thầy lang vô dụng, cuối cùng nhào nặn ra thứ Lý học Trình Chu, một học thuyết khiến người ta chỉ muốn bổ đôi đầu mà xem bên trong chứa gì.

Đáng nói là triều Nguyên cũng lấy Lý học làm học thuyết chính thống được triều đình đề cao.

Nhưng Lý học có giải thích được lịch sử hay không?

Có giải thích được vì sao nhà Tống thất bại hay không?

Có chẩn đoán được căn bệnh của triều Nguyên lúc này hay không?

Có chỉ ra được con đường cho tương lai hay không?

Hiển nhiên là không.

Lý học đề cao việc giữ gìn lẽ trời, diệt bỏ ham muốn riêng, chẳng qua chỉ bàn về tu dưỡng cá nhân. Các nhà Nho rất thích từ mình suy ra người khác, từ cá nhân suy đến gia đình, rồi từ gia đình suy ra đất nước. Gia đình, đất nước, thiên hạ, cứ thế nối liền với nhau.

Họ cho rằng chỉ cần ai nấy đều tôn thờ Lý học, người người đều trở thành quân tử, tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình, thời thịnh trị sẽ xuất hiện…

Cách giải thích ấy thoạt nhìn hoàn hảo, nhưng lại chẳng thể giải quyết những vấn đề đang bày ra trước mắt.

Bởi gia đình không giống đất nước. Mà đất nước với đất nước cũng chẳng thể xem như gia đình này với gia đình kia.

Trên đất Trung Nguyên, cho dù lễ nghi suy đồi, nhạc giáo tan rã, thiên hạ rối loạn, rốt cuộc vẫn còn đôi chút phép tắc và lẽ phải để nói chuyện. Dẫu nha môn có ngang ngược vô lý đến đâu, ít ra chúng vẫn còn biết thu tiền.

Nhưng giữa các nước với nhau thì chỉ có lừa lọc, binh đao, sống chết hơn thua, mạnh được yếu thua, ăn thịt người mà chẳng nhả xương.

Chỉ cần hiểu đôi chút lịch sử hai triều Tống, người ta sẽ nhận ra những bậc chính nhân quân tử, những vị đại thần gánh vác triều đình, khi xử lý việc nước hay định ra sách lược đối ngoại, đã ngây thơ và bất tài đến mức nào. Bọn họ vừa làm mất quyền lợi quốc gia, vừa khiến đất nước chịu nhục.

Những văn nhân càng tài giỏi, đọc sách càng nhiều, đầu óc càng sáng suốt, lại càng phải day dứt suy nghĩ về vấn đề ấy.

Rốt cuộc phải làm thế nào?

Thế nào mới là đúng, thế nào mới là sai?

Những câu hỏi ấy chưa từng được giải quyết trong lịch sử. Trái lại, sau khi nhà Minh dựng nước, mâu thuẫn chỉ bị che lấp tạm thời.

Nhưng cùng với thời thế đổi thay, những thiếu sót của Lý học lại dần phơi bày. Vì thế mới xuất hiện Tâm học của Vương Dương Minh, đối chọi với Lý học.

Đáng tiếc, Tâm học cũng không thành công.

Đến khi Đại Minh diệt vong, các văn nhân Trung Nguyên phải đối mặt với một thất bại còn thảm khốc hơn cả thời Nam Tống. Một số người bắt đầu suy ngẫm sâu sắc, thậm chí còn nói ra những lời đại nghịch bất đạo, rằng người làm vua mới là mối họa lớn nhất của thiên hạ, chẳng khác nào phủ nhận vua cha, chối bỏ đạo lý luân thường.

Chỉ vậy thôi cũng đủ thấy nỗi đau của họ sâu đến mức nào.

Nhưng những suy ngẫm ấy vẫn không thể thật sự xoay chuyển thế cục thiên hạ. Từ sau đời Tống, vận nước Trung Nguyên cứ từng bước sa sút. Dẫu đôi lúc có lúc thịnh lúc suy, xu thế suy yếu chung vẫn không thay đổi được.

Đất nước cứ thế trượt dài trên con đường suy tàn. Mãi đến khi máu thịt đắp nên trường thành, ý chí tôi luyện thành sắt thép, trải qua những trận chiến khốc liệt nhất và trả cái giá đắt nhất, vận nước mới miễn cưỡng ngừng rơi xuống, bắt đầu le lói dấu hiệu phục hưng.

Cao Khải và những người kia chưa chắc đã có được nhận thức lịch sử sâu sắc đến mức ấy. Nhưng bọn họ cũng nóng lòng muốn biết vì sao Đại Tống thất bại, muốn biết phải làm thế nào mới có thể chấn hưng đất nước lần nữa.

Suốt mười ngày liền, mấy người đóng cửa đọc sách, nghiền ngẫm từng câu từng chữ. Trong thời gian đó, bọn họ tranh luận gay gắt đến mức suýt trở mặt với nhau.

Sau cùng, ai nấy đều mệt mỏi rã rời. Mấy người thư sinh trẻ tuổi biến thành một đám đầu tóc rối bù, mặt mày lem luốc, nom chẳng khác gì những kẻ lang thang đầu đường.

Cao Khải đặt sách xuống, thở dài:

- Ta vẫn còn rất nhiều điều chưa hiểu. Nhưng chỉ dựa vào những gì hiện giờ ta biết và cảm nhận được, mấy bài văn này quả thực như gáo nước lạnh dội thẳng vào đầu, khiến ta tỉnh khỏi cơn mê.

Ba người còn lại cũng gật đầu.

- Huynh Thanh Khâu nói phải. Ta chỉ hận không thể lập tức cho càng nhiều người biết chuyện này càng tốt.

Cao Khải lại nói:

- Nhưng Trương Sĩ Thành đã dặn ta, không được để lộ, càng không được làm cho mọi người đều biết. Nghĩ lại, hẳn hắn cũng hiểu những bài văn này lợi hại đến đâu, sợ chúng khiến lòng người đại loạn. Chúng ta chẳng qua chỉ là mấy thư sinh. Dù cố đem văn ra truyền bá, liệu truyền được tới bao nhiêu người? Nếu chẳng may chọc giận Trương Sĩ Thành, chẳng phải sẽ rước họa lớn vào thân sao? Ta chết cũng chẳng đáng tiếc, nhưng nếu để dân chúng đất Ngô không được nhìn thấy ba bài văn này, ấy mới là tội lớn bằng trời!

Dương Cơ gật đầu lia lịa, hoàn toàn tán đồng. Hắn hỏi:

- Huynh Thanh Khâu đã nói vậy, chẳng hay có kế sách gì hay không?

Cao Khải cười:

- Kế hay thì không dám nhận. Ta chỉ có một chủ ý vụng về, mong các vị giúp sức. Chúng ta cùng nhau viết văn, ra sức mắng chửi ba bài văn của Trương công!

- Cái gì?

Trương Vũ kêu lên thất thanh:

- Huynh Thanh Khâu điên rồi sao? Bảo chúng ta mắng Trương công ư? Huynh không sợ trời đánh sét giật à?

Từ Bôn cũng tức giận nói theo:

- Đúng vậy! Đó là lời của thánh hiền, là đạo lý chí cao. Chúng ta biết phản bác thế nào?

Cao Khải cười lớn:

- Tất nhiên là phản bác từng đoạn một.

Dương Cơ cúi đầu, ngẩn người hồi lâu. Sau đó hắn đột nhiên đập mạnh vào đùi.

- Ta, ta hiểu rồi! Ý của huynh Thanh Khâu là muốn chúng ta đưa nguyên văn của Trương công vào trong bài viết của mình. Ngoài mặt thì phản bác, nhưng thực chất là mượn cớ để truyền những bài văn ấy ra ngoài! Hay lắm! Quả là diệu kế!

Hắn vừa nói xong, cả ba người lập tức vỡ lẽ, ai nấy đều bật cười.

Quả nhiên họ Cao đúng là cao tay!

Bốn vị tài tử lên tinh thần, tiếp tục vùi đầu làm việc. Nếu chỉ xét tài viết văn, bọn họ thậm chí còn thuần thục hơn cả Trương Hy Mạnh.

Cao Khải tinh thông văn chương các đời, lại có tài học hỏi và bắt chước cực giỏi. Viết theo lối đời Đường thì ra đúng phong vị đời Đường, phỏng theo đời Tống thì cũng mang đủ thần thái đời Tống.

Hắn dẫn kinh viện sử, dốc hết sức mình, ra vẻ phản bác những bài văn của Trương Hy Mạnh. Câu chữ hoa mỹ, ý tứ dào dạt, ngòi bút sáng láng như thêu gấm dệt hoa.

Nhưng trong bóng tối, Cao Khải chẳng những trích dẫn lời của Trương Hy Mạnh, mà còn tìm kiếm đủ loại ví dụ để chứng minh cho những lời ấy.

Chẳng bao lâu, đợt văn chương đầu tiên nhằm phản bác Trương Hy Mạnh đã hoàn thành.

Cao Khải thấp thỏm đem dâng lên. Không lâu sau, hắn được Trương Sĩ Thành triệu kiến.

Lão Trương hết sức cảm động, lập tức ban thưởng cho Cao Khải một nghìn lượng vàng.

- Hay lắm! Có ngòi bút tài hoa của tiên sinh, ta chẳng còn phải lo gì nữa!

Trương Sĩ Thành tuổi già được an ủi, lòng dạ khoan khoái. Nếu Cao Khải đã có thể mắng Trương Hy Mạnh thành một kẻ chẳng đáng một đồng, vậy thì cứ để giới sĩ phu Tô Châu nếm thử tài văn chương của Cao Khải!

Trương Sĩ Thành gật đầu, hạ lệnh cho nhà in tốt nhất Tô Châu khắc in những bài văn ấy, ra sức phát tán khắp nơi.

Cao Khải thở phào nhẹ nhõm. Nhưng ngay khi hắn bước ra khỏi vương phủ, một người đã túm lấy hắn.

- Gan ngươi lớn thật! Dám lừa cả Thái úy!

Cao Khải sững người, vội quay đầu nhìn lại. Người đến chính là một người bạn của hắn, tên là Vương Hành. Hiện giờ Vương Hành cũng làm việc dưới trướng Trương Sĩ Thành. Hắn tinh thông cả thư pháp lẫn hội họa, đặc biệt giỏi vẩy mực vẽ cảnh núi sông.

Cao Khải hỏi:

- Vương huynh nói vậy là có ý gì?

- Còn hỏi ta có ý gì ư? Ngươi đưa bài văn của Trương công vào trong văn của mình, ngoài mặt thì ra sức phản bác, bên trong lại âm thầm giúp nó lan truyền. Trò bịp của ngươi có thể qua mắt Trương Thái úy, nhưng sao qua nổi mắt ta?

Cao Khải biến sắc:

- Huynh… chẳng lẽ huynh định hại ta?

Vương Hành nhìn hắn, rồi bất chợt bật cười.

- Nếu là trước kia, có lẽ ta đã vạch trần chuyện này. Nhưng nay Trương Sĩ Thành đã quy phục Đại Nguyên, trở thành Thái úy của triều đình nhà Nguyên. Nếu ta còn một lòng đi theo hắn, chẳng phải đã mù mắt rồi sao? Ngươi cứ yên tâm. Thứ ta dâng cho Trương Sĩ Thành chỉ là bản lược chép lại của chính ta. Kế này của ngươi đủ sức khiến hắn mê muội trong một thời gian. Nhưng huynh Thanh Khâu cũng đừng mừng quá sớm. Hãy chuẩn bị sẵn sàng. Một khi chuyện bại lộ, ngươi phải lập tức bỏ chạy.

Cao Khải ngẩn người, sau đó nói:

- Ta chỉ là một thư sinh, làm sao chạy được?

- Đừng sợ, ta đã nghĩ cách giúp ngươi rồi.

Vương Hành ghé sát tai Cao Khải, nói nhỏ vài câu. Đến tối, một thanh niên tìm tới chỗ ở của Cao Khải.

Người này xương cốt thô lớn, gò mày nhô cao, hốc mắt hõm sâu. Nhìn bề ngoài, hắn chẳng khác gì một kẻ bệnh tật, nhưng thân thể lại rắn chắc khỏe mạnh, ánh mắt còn ẩn chứa vẻ hung dữ.

Cao Khải hỏi:

- Các hạ là…

- Tại hạ là Diêu Quảng Hiếu, pháp danh Đạo Diễn.

- Ngươi là hòa thượng?

- Ta chưa xuống tóc. Hiện giờ ta đang theo Chân nhân Tịch Ứng Chân tu hành.

Cao Khải bật cười:

- Nói vậy, ngươi tinh thông cả Phật giáo lẫn Đạo giáo sao?

Diêu Quảng Hiếu lắc đầu:

- Tại hạ tinh thông Nho học hơn. Huynh Thanh Khâu chẳng lẽ cho rằng thiên hạ chỉ có mình huynh là kiêm tu cả ba đạo Nho, Phật, Đạo hay sao? Đất Tô Châu này người tài địa linh, rồng nằm hổ ẩn. Huynh chớ xem thường anh hùng thiên hạ!

Cao Khải nghe ra, tên này tuổi tác xấp xỉ mình, tính tình cũng kiêu ngạo chẳng kém ai. Nếu là trước đây, có lẽ hắn đã muốn cùng người kia luận bàn cao thấp.

Nhưng sau khi đối diện với ba bài văn của Trương Hy Mạnh, Cao Khải đã sớm ngoan ngoãn rồi.

Còn tranh gì nữa?

Dù tranh thắng thua thế nào, chẳng qua cũng chỉ là ngồi sau lưng Trương công mà hít bụi.

Chi bằng dồn tâm trí vào việc chính, nghĩ cách làm thế nào để truyền bá những bài văn của Trương công ra ngoài!

Diêu Quảng Hiếu gia nhập khiến mấy người thư sinh nhận ra một chỗ sơ hở. Trước nay bọn họ chỉ nghĩ tới việc truyền bá trong giới sĩ phu, nhưng có nên để dân chúng cũng biết hay không?

Chỉ có điều những bài văn này sâu sắc khó hiểu đến mức bọn họ còn chưa thể lĩnh hội hoàn toàn. Dân chúng làm sao hiểu rõ được?

Diêu Quảng Hiếu không nhịn được, bật cười lớn:

- Quả nhiên là thư sinh khởi sự, ba năm cũng chẳng thành! Trương công đã soạn bản điều lệ chia ruộng từ mấy năm trước. Những bài văn này cũng chẳng phải tự nhiên mà xuất hiện. Ngài ấy tích lũy đã lâu, nay viết ra chỉ như nước chảy đến nơi thấp. Chúng ta làm sao có thể trông mong dân chúng lập tức hiểu hết mọi chuyện?

Cao Khải nghi hoặc hỏi:

- Vậy phải làm thế nào?

- Rất đơn giản. Theo ta, chỉ cần để dân chúng biết Ngô Quốc công chủ trương chia ruộng. Hễ ai quy phục Ngô Quốc công thì đều có thể nhận được một phần đất canh tác. Như vậy là đủ rồi.

Cao Khải trầm ngâm giây lát, lập tức gật đầu.

- Mau bắt tay vào làm thôi!

Một bên bắt đầu khắc in văn của Cao Khải và những người khác. Bên kia, Diêu Quảng Hiếu lùng tìm rất nhiều kinh Phật và bùa hộ mệnh. Hắn kẹp vào giữa những thứ ấy các mảnh giấy nhỏ, trên đó viết những câu như: “Mong Ngô vương, đợi Ngô vương, Ngô vương đến rồi dân ta có gạo ăn”, hoặc “Theo quân họ Chu, vừa có tiền vừa có ruộng”.

Những mảnh giấy ấy được phát tán khắp nơi. Hễ có người đến xin quẻ, cầu phúc, người đó sẽ nhận được một phần.

Cùng lúc ấy, văn của Cao Khải và những người kia cũng nhanh chóng được in ra vài trăm bản. Trong thành Tô Châu, đám người đọc sách tụ tập đông đúc, gần như ai cũng cầm trong tay một bản.

Bọn họ đọc đi đọc lại, dần dần đều vỡ lẽ.

Thì ra chủ trương của quân họ Chu là như vậy…

Chẳng trách bọn họ chia đều ruộng đất, đóng cửa lầu xanh, lại cho phụ nữ bước ra ngoài làm việc.

Đó chẳng phải chuyện đàn bà lấn át đàn ông, làm đảo lộn trời đất, phá hoại luân thường gì cả. Sau những việc ấy là cả một đạo lý sâu sắc.

Hơn nữa, chuyện này cũng không chỉ đơn giản là nâng cao địa vị của phụ nữ. Trái lại, dường như đàn ông còn có thêm nhiều lựa chọn hơn, gia đình cũng sẽ ngày một khá lên.

Đây còn là con đường tất yếu để làm giàu cho đất nước, làm mạnh cho quân đội. Muốn tái hiện thời thịnh trị như đời Hán, đời Đường, nhất định phải đi theo con đường này.

Có thể phản đối chủ trương của Trương Hy Mạnh, nhưng không thể phớt lờ sức công phá của mấy bài văn ấy.

Mắng Nho gia cũng chẳng sao, đả kích luân thường cũng không hẳn là chuyện động trời. Thiên hạ vốn không thiếu những kẻ cuồng ngông. Chẳng phải Khổng Dung còn từng nói con cái không cần hiếu kính cha mẹ đó sao?

Nhưng ba bài văn này lại quá đặc biệt. Chúng không chỉ mắng Lý học Trình Chu, mà còn phải giảng cho rõ cái lý do Lý học Trình Chu giam hãm dân chúng, trói buộc sức dân, khiến đất nước và nhân dân cùng chịu tai họa.

Chuyện này đã chẳng còn là đào mồ mả tổ tiên nữa.

Mà là kéo cả xương cốt tổ tông lên, nghiền thành tro bụi!

Sĩ phu Tô Châu không thể nhịn thêm. Bọn họ lập tức nhảy ra công kích Trương Hy Mạnh, kẻ viết văn chửi rủa, người làm hình nhân nhỏ để nguyền rủa hắn.

Trước cảnh tượng náo nhiệt ấy, Trương Sĩ Thành còn có phần hả hê. Quả nhiên những chủ trương kia chỉ là chuyện viển vông, chẳng được lòng người.

Nhưng chẳng bao lâu sau, Trương Sĩ Thành nhận ra một chuyện.

Hắn vốn không định tuyên truyền rầm rộ. Ban đầu, hắn chỉ muốn hỏi xem Cao Khải nghĩ thế nào. Vậy mà bây giờ, dường như cả thiên hạ đều biết rồi.

Trương Sĩ Thành bắt đầu cảm thấy có điều chẳng lành.

Cách đó mấy trăm dặm, tại Kim Lăng, phủ đệ của Trương Hy Mạnh lại bị kẻ trộm ghé thăm.

Lần này không có ai để lại cho hắn thỏi vàng nào. Những bản thảo hắn khổ công viết ra cũng biến mất sạch.

Trương Hy Mạnh đau đầu ôm lấy thái dương, buồn bực nói:

- Mau gọi Lư Thu Vân tới đây, bảo hắn giúp ta tìm cho ra tên trộm!