Chương 203: Trương Lão Sư Đích Tiểu Khóa Đường - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 203

Chương 203 - Trương Lão Sư Đích Tiểu Khóa Đường

☰ DS Chương 📖 2,735 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Đọc hết bài văn tế, Tống Liêm đã mồ hôi nhễ nhại, thở hồng hộc.

Đó đâu phải một bài văn tế tầm thường. Nó là cả một cương lĩnh hoàn chỉnh, thể hiện cách nhìn của tập đoàn quân họ Chu đối với lịch sử, cũng như dự liệu về tương lai.

Bài văn bắt đầu từ chuyện Bàn Cổ mở trời dựng đất, nhằm phân biệt Hoa Hạ với các giống man di. Việc ca tụng những bậc tôi hiền là để nêu cao đạo trung nghĩa. Thậm chí Trần Thắng, Ngô Quảng cũng được đưa vào, cốt để tán dương tinh thần chống lại áp bức.

Sau cùng, tất cả đều quy về việc cứu dân. Lòng dân chính là ý trời, lòng trời chính là lòng dân… Đã nói đến mức ấy, khác nào dứt khoát phân định với triều đình nhà Nguyên và cả những cánh quân Khăn Đỏ khác.

Quân họ Chu đã trở thành một thế lực hoàn toàn khác biệt.

Danh phận phải gọi thế nào, cai quản dưới quyền ra sao, đối ngoại tuyên bố những gì… tất cả đều đã có lời giải. Niên hiệu dùng nước Hoa Hạ, lấy năm sau khi lão Chu tiến vào Kim Lăng làm năm đầu tiên. Nói cách khác, năm Chí Chính thứ mười sáu được tính là năm đầu của nước Hoa Hạ. Quốc hiệu là nước Ngô, nhưng người đứng đầu chỉ xưng Ngô quốc công, không xưng vương. Khi viết tắt, có thể gọi là nước Ngô, hoặc Hoa Hạ.

Còn quân Khăn Đỏ, trong những văn thư chính thức, quân họ Chu cũng thường dùng danh nghĩa Hoa Hạ để thay thế.

Tóm lại, thế lực của lão Chu đã hoàn toàn đứng riêng một cõi, hơn nữa còn cho thấy một khí chất khác hẳn trước kia.

Sau khi nhận chức Ngô quốc công, Chu Nguyên Chương bổ nhiệm quan thuộc, công bố chính sách mới. Việc lớn đầu tiên trong số đó chính là phát hành tiền giấy Hoa Hạ.

Nhiệm vụ này cũng rơi xuống đầu Trương Hy Mạnh.

- Chư vị cùng bàn bạc đi. Xem thử chuyện này nên làm thế nào?

Trương Hy Mạnh đã có một gian phòng làm việc riêng. Hắn ngồi ở chính giữa, Lưu Bá Ôn, Tống Liêm, thậm chí cả Giả Lỗ và Cung Bá Toại cũng đều có mặt.

Đáng nói nhất là ngay cả Dã Tiên Thiết Mộc Nhi cũng được gọi tới.

Vị này vừa sửa xong mấy cái móng trâu, trên người còn phảng phất mùi phân đất. May mà mọi người chẳng ai để tâm. Người tận tụy làm việc bao giờ cũng đáng được tôn trọng.

Trương Hy Mạnh nhìn Dã Tiên rồi nói:

- Dã Tiên, tiền giấy của Đại Nguyên hình như cũng có một giai đoạn làm khá tốt. Ngươi có thể chia sẻ kinh nghiệm, để mọi người cùng nghe cho rõ được không?

Dã Tiên ngẩn ra.

Tiền giấy ư? Thứ quỷ quái ấy chính là nỗi đau trong lòng huynh đệ bọn họ. Quân Khăn Đỏ nổi lên, một nguyên nhân lớn cũng vì tiền giấy mất giá.

Chính bởi từng chịu đau đớn tận xương tủy, nên khi nói đến chuyện này, hắn càng có cảm nhận sâu sắc hơn.

Có những sách vở đời sau hết lời ca ngợi tiền giấy nhà Nguyên, cho rằng nhà Nguyên có lượng dự trữ dồi dào, giá trị đồng tiền ổn định, kỹ thuật tiên tiến, vượt xa tiền giấy nhà Minh. Thậm chí người ta còn rút ra kết luận rằng các hoàng đế nhà Nguyên hiểu kinh tế hơn hẳn Chu Nguyên Chương xuất thân từ dân quê.

Còn đó là sách nào thì không cần nói cũng biết.

Thật ra xét về mức độ ổn định và sự tiện lợi cho dân buôn, tiền giấy nhà Nguyên còn chẳng duy trì được lâu bằng tiền giấy nhà Minh. Chẳng qua trong điều kiện thời cổ, hễ làm tiền giấy thì kết cục đại khái đều có thể đoán trước.

Lúc đầu, nhà Nguyên phát hành tiền giấy thậm chí không lấy bạc làm vật bảo đảm, mà dùng tơ sống. Một nghìn lạng tơ sống được định giá bằng năm mươi lạng bạc. Một lạng bạc đổi được hai quan tiền giấy. Như vậy, một nghìn lạng tơ sống đổi được một trăm quan tiền giấy.

Về sau, nhà Nguyên đổi sang dùng bạc làm vật dự trữ. Các kho bạc được đặt dọc theo những tuyến đường, chuyên mua bán vàng bạc và điều chỉnh phép lưu thông tiền giấy. Mỗi khi thu vào một lạng bạc, kho quan định giá thành hai quan tiền giấy theo giá tiền Chí Nguyên. Khi xuất ra, hai quan tiền giấy đổi được một lạng bạc cộng thêm năm phần. Một lạng vàng nguyên chất khi thu vào tính hai mươi quan, lúc xuất ra là hai mươi quan năm trăm văn.

Theo cách thiết kế của triều đình nhà Nguyên, người bên ngoài đem một lạng bạc tới thì có thể đổi lấy hai quan tiền giấy. Cứ tăng thêm một lạng bạc dự trữ, triều đình lại có thể phát hành thêm hai quan năm phần tiền giấy. Vàng nguyên chất được tính theo giá gấp mười lần bạc.

Nhìn vào tỷ lệ ấy, triều đình nhà Nguyên thậm chí còn có phần dè dặt. Khoảng cách giữa tiền giấy và lượng bạc dự trữ hoàn toàn có thể lớn hơn. Chẳng hạn, có ba phần vốn dự trữ thì phát hành mười phần tiền giấy cũng chưa đến mức không được.

Nhưng cũng chẳng cần lo lắng quá lâu, bởi triều đình nhà Nguyên nhanh chóng không chống đỡ nổi.

Tiền giấy được phát hành quá nhiều, vượt xa số bạc dự trữ. Không còn sức duy trì, triều đình nhà Nguyên bèn giở đúng trò quen thuộc của nước Mỹ đời sau, tuyên bố tiền giấy không còn gắn với vàng bạc nữa.

Hệ thống tiền tệ kiểu Bretton Woods của Đại Nguyên sụp đổ.

Từ đó, triều đình nhà Nguyên mặc sức buông thả. Khoảng từ năm 1276, tiền giấy được phát hành điên cuồng. Có nơi, mấy trăm quan tiền giấy còn không mua nổi một đấu gạo kê.

Để đáp ứng nhu cầu tiêu xài hoang phí, mỗi năm triều đình lại phát hành thêm ba triệu đĩnh tiền giấy. Bọn họ thậm chí còn cho ra loại tiền giấy mệnh giá lớn, thay thế tiền cũ, học luôn cả trò cải cách tiền Kim viên phiếu về sau.

Những chuyện ấy xảy ra dưới thời Hốt Tất Liệt.

Nói ra cũng thật mỉa mai. Vị vua khai quốc của Đại Nguyên, dưới sự cai trị của chính mình, đã khiến triều đại ấy lộ rõ dáng vẻ sắp mất nước. So với nhà Tây Tấn, quả là kẻ tám lạng người nửa cân.

Chuyện về sau không cần nhắc nhiều. Triều đình nhà Nguyên điên cuồng phát hành tiền giấy, hết đổi cách này lại bày cách khác. Dân chúng chống lại thì chuyển sang dùng vàng bạc đồng để mua bán. Triều đình lại cấm giao dịch bằng kim loại. Kẻ nào dám không dùng tiền giấy sẽ bị chém đầu.

Thế nhưng tiền giấy cứ liên tục mất giá. Cứ thế, nước nhiều thì đổ thêm bột, bột nhiều lại pha thêm nước, kéo dài mãi cho tới khi sông Hoàng Hà vỡ đê.

Thoát Thoát nắm quyền, muốn trị thủy Hoàng Hà thì phải có tiền, trong khi quốc khố đã sạch trơn.

Thoát Thoát bèn chủ trương đổi tiền giấy, phát hành loại tiền mới. Giá trị loại mới gấp đôi loại cũ.

Nhưng đến lúc thực hiện, tiền mới và tiền cũ thực ra chẳng khác gì nhau. Điểm khác duy nhất là phía sau tiền mới được đóng thêm một dấu triện.

Cách làm lố bịch như thế, dĩ nhiên không thể duy trì lâu.

Có kẻ cao tay lập tức làm giả dấu triện, thu gom tiền cũ về đóng dấu. Lợi nhuận tăng gấp đôi, chẳng bao lâu đã giàu to.

Tiền giả tràn lan, phép lưu thông tiền giấy sụp đổ. Chỉ trong vài năm, giá cả tăng vọt gấp bảy vạn lần. Sau đó quân Khăn Đỏ nổi dậy, triều đình nhà Nguyên cũng đi đến bước đường cùng.

Chỉ cần sắp xếp sơ qua lịch sử tiền giấy nhà Nguyên, người ta sẽ nhận ra trong đó có biết bao chuyện nghe quen tai. Nào là hệ thống Bretton Woods, phát hành tiền mác quá mức, cải cách Kim viên phiếu, lạm phát dữ dội ở Zimbabwe, thậm chí cả sự sụp đổ của đồng escudo Bồ Đào Nha…

Cả một trăm cách làm tiền giấy sụp đổ đều hội tụ đủ ở đây.

Quả nhiên, lịch sử chẳng có chuyện gì mới. Chẳng qua con người khoác lên mình những bộ quần áo khác nhau, rồi đem cùng một câu chuyện diễn đi diễn lại hết lần này đến lần khác mà thôi.

Nghe Dã Tiên Thiết Mộc Nhi kể xong, nhất là đoạn Thoát Thoát đổi tiền giấy, hắn còn cố hết sức tìm lời bào chữa cho người anh em già. Nhưng đến cuối cùng, hắn cũng đành thở dài:

- Sức dân đã kiệt quệ, đổi tiền quá gấp, quan lại quá tàn ác, phép tiền giấy quá tệ hại… Đã như thế, dân chúng bị dồn đến đường cùng, làm sao không nổi dậy được?

Nghe lời than thở nghẹn ngào của Dã Tiên, Tống Liêm và những người khác đều lắc đầu. Hay là thôi đi, đừng đụng vào tiền giấy nữa. Thứ này rõ ràng chỉ tổ hại người!

Cung Bá Toại lại sáng suốt hơn Dã Tiên. Ông nói:

- Tiền giấy sinh ra để lưu thông của cải, khiến hàng hóa trong thiên hạ được trao đổi thuận tiện, có lợi cho nước, có lợi cho dân. Chỉ cần đừng phát hành bừa bãi là được. Hiện giờ thượng vị chiếm vùng Giang Nam giàu có, việc buôn bán vốn đã phồn thịnh từ xưa. Nếu không phát hành tiền giấy, không khuyến khích thương mại, e rằng sẽ bất lợi cho quân họ Chu.

Lúc ấy, Giả Lỗ bỗng lên tiếng:

- Lão phu cũng vừa nhận được tin. Trương Sĩ Thành đã phát hành tiền đồng. Nếu chúng ta không tìm ra cách ứng phó, hắn phái người vào địa phận của ta, ra sức thu mua vật tư, chỉ sợ sẽ gây ra rắc rối lớn.

Tiền đồng do Trương Sĩ Thành đúc gọi là Thiên Hựu Thông Bảo. Đến đời sau, đây vẫn được xem là đồng tiền quý hiếm nổi tiếng, từng được bán trong một phiên đấu giá với cái giá ngất ngưởng, bốn triệu một trăm nghìn đồng tiền hiện đại.

Trở lại chuyện trước mắt, Trương Sĩ Thành vốn là lái buôn muối lậu, quanh năm buôn bán, quá rành chuyện tiền bạc. Hắn phát hành tiền đồng khá đáng tin, lại được dân chúng đón nhận rộng rãi.

Tống Liêm ngập ngừng hỏi:

- Trương Sĩ Thành đã có thể phát hành tiền đồng, vì sao chúng ta không làm theo?

Giả Lỗ bật cười:

- Trương Sĩ Thành chiếm vùng Hoài Đông, thương nhân buôn muối tụ tập đông đúc, lượng vàng bạc và tiền đồng dự trữ vốn đã rất nhiều. Hơn nữa, trong tay hắn còn có lượng muối lớn. Chỉ cần quy định việc thu mua đều dùng vàng bạc, mỗi năm hắn sẽ còn dư lại rất nhiều tiền. Phát hành tiền đồng đương nhiên không thành vấn đề.

Lưu Bá Ôn bỗng hạ giọng:

- Nói vậy, chẳng phải Trương Sĩ Thành sống nhờ muối Hoài hay sao?

Giả Lỗ gật đầu:

- Đúng thế. Hắn quả thật dựa vào muối Hoài. Tiếc rằng chúng ta không có thứ ấy!

Mọi người lại bàn bạc thêm một hồi. Cuối cùng, phần lớn đều đi đến một nhận định chung: tiền tệ nhất định phải làm. Nếu không làm, họ sẽ bị Trương Sĩ Thành và những người khác chiếm lợi thế, việc buôn bán cũng khó phát triển.

Nhưng chỉ cần sơ sẩy, tiền giấy sụp đổ thì hậu quả cũng chẳng thể xem nhẹ.

Hơn nữa, dưới quyền cai trị của Chu Nguyên Chương, lượng vàng bạc dự trữ còn thiếu thốn. Chuyện ấy mãi khiến người ta không yên lòng.

Chu Nguyên Chương nhìn mọi người rồi nói:

- Chư công, chúng ta đã bàn rất nhiều rồi. Ta lại muốn thỉnh giáo mọi người một việc. Vì sao phát hành tiền giấy nhất định phải lấy vàng bạc làm vật dự trữ? Ban đầu triều đình nhà Nguyên dùng tơ sống, vì sao cũng được?

Lưu Bá Ôn lập tức đáp:

- Tiền giấy chẳng qua chỉ là một mảnh giấy sặc sỡ. Dùng giấy đổi lấy vật thật chẳng khác nào tay không bắt sói, nếu không có vàng bạc bảo đảm thì không thể được! Chỉ như thế dân chúng mới chịu chấp nhận. Tơ sống cũng cùng một lẽ ấy!

- Không đúng!

Trương Hy Mạnh mỉm cười:

- Nói tiền giấy chỉ là một mảnh giấy, bản thân không đáng giá, vì vậy nhất định phải có vàng bạc làm vật dự trữ, nghe qua tưởng đúng. Nhưng khế đất, giấy tờ nhà cửa cũng chỉ là một mảnh giấy. Vì sao chúng lại có giá trị?

Lưu Bá Ôn vốn thông minh hơn người, nhưng chưa từng học những kiến thức tài chính của đời sau. Bị hỏi đến đó, hắn đành miễn cưỡng đáp:

- Khế đất đại diện cho ruộng đất, giấy tờ nhà cửa đại diện cho căn nhà. Dù sao cũng khác tiền giấy.

- Không phải vậy. Thật ra có thể xem tiền giấy là một tờ giao ước. Chỉ có điều, tờ giao ước này đặc biệt ở chỗ nó không ký với một người cụ thể, mà ký với tất cả mọi người. Theo đúng giao ước, ai cầm tờ giấy này đều có thể đem ra chợ đổi lấy lượng hàng hóa tương ứng. Vì vậy, tờ giao ước ấy không nhất thiết phải có vàng bạc bảo đảm, chỉ cần nó mua được hàng là đủ.

Mọi người không kìm được, cùng hít vào một hơi. Ai nấy đều cúi đầu suy nghĩ kỹ lời Trương Hy Mạnh.

Lúc này, Tôn Viêm chợt lên tiếng:

- Ý của Trương tướng là vàng bạc không ăn được, cũng chẳng uống được. Cầm vàng bạc trong tay chưa chắc đã có ích thiết thực?

Trương Hy Mạnh mỉm cười:

- Ngươi nói đúng một nửa, nhưng còn thiếu một nửa nữa. Chúng ta không biết trên thị trường có bao nhiêu hàng hóa, cũng không biết cần phát hành bao nhiêu tiền giấy. Nếu tùy tiện in ra thì chắc chắn không được. Chúng ta phải neo tiền giấy vào vàng bạc, ít nhất cũng có một căn cứ, tránh để mọi thứ rối loạn.

Tiền tệ vốn là điểm yếu của những người đọc sách theo lối truyền thống này. Muốn họ lập tức hiểu hết mấu chốt bên trong, quả thật chẳng dễ dàng.

Trương Hy Mạnh dứt khoát nói thẳng:

- Thật ra chúng ta có thể gạt vàng bạc sang một bên. Chỉ cần nắm rõ trong địa phận của mình có bao nhiêu lương thực, bao nhiêu hàng hóa, mỗi ngày mua bán bao nhiêu, cần bao nhiêu tiền, chúng ta có thể phát hành tiền giấy Hoa Hạ trong nội bộ để dân chúng sử dụng cho thuận tiện. Chỉ cần cầm tờ giấy này có thể mua được lương thực, có thể nộp thuế, thì xét cho cùng giấy và vàng bạc cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.

- Còn vàng bạc chỉ cần dùng khi thanh toán với bên ngoài, chẳng qua để bù vào phần chênh lệch mà thôi.

- Nói đến tận cùng, phát hành tiền giấy không phải để thử xem chúng ta có bao nhiêu vàng bạc, mà là để thử xem chúng ta hiểu rõ địa bàn cai trị đến đâu, năng lực điều hành của chúng ta đến đâu!