Chương 202: Tế Tự Tiên Hiền - Đại Minh Đệ Nhất Thần

Trang chủ › Đại Minh Đệ Nhất Thần › Chương 202

Chương 202 - Tế Tự Tiên Hiền

☰ DS Chương 📖 2,763 chữ
✨ Bị quảng cáo làm phiền khi đọc? Nâng cấp VIP để tắt sạch quảng cáo & đọc trọn bộ không giới hạn. 👑 Mua VIP tắt quảng cáo

Chu Nguyên Chương chưa bao giờ tự tin đến thế. Bên cạnh hắn lúc này là những văn thần võ tướng xuất chúng nhất thiên hạ.

Hàng văn thần, đứng đầu là Lý Thiện Trường, kế đó có Giả Lỗ, Chu Thăng, Trương Hy Mạnh, Uông Quảng Dương, Dương Hiến, Lưu Bá Ôn, Lý Tập, Đào An, Tống Liêm, Diệp Sâm…

Bên võ tướng thì có Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Hồ Đại Hải, Thang Hòa, Phùng Quốc Dụng, Phí Tụ, Hoa Vân, Đặng Hữu Đức, Chu Văn Chính, Ngô Lương, Ngô Trinh và nhiều người khác.

Đến hôm nay, lão Chu có thể ngẩng đầu nói một câu đầy kiêu hãnh: nhân tài chen vai, cánh đã đủ mạnh.

Mà đó mới chỉ là bề nổi. Loạn thế chưa bao giờ thiếu những kẻ hào kiệt. Xét về đánh trận, Lưu Phúc Thông đã bắt đầu cuộc Bắc phạt, quân Tây lộ vượt qua Thiểm Châu, tiến thẳng vào Quan Trung.

Mao Quý ở vùng Từ Châu cũng đang ráo riết rèn quân tích lương, chuẩn bị đánh vào Sơn Đông, quyết sống mái với quân Nguyên.

Dưới trướng Đại đế Thiên Hoàn Từ Thọ Huy cũng là một đội ngũ nhân tài đông đảo, sức chiến đấu kinh người. Minh Ngọc Trân vừa đánh vào đất Thục. Nếu tính địa bàn của Thiên Hoàn, họ đã chiếm trọn ba tỉnh của Đại Nguyên.

Còn địa bàn của Chu Nguyên Chương cộng lại, e rằng vẫn chưa bằng một tỉnh.

Ngay cả dưới trướng Trương Sĩ Thành và Phương Quốc Trân cũng có không ít tướng mạnh tụ hội.

Chưa kể triều Nguyên tuy giống con thuyền mục nát, nhưng vẫn còn vài cây đinh cứng. Thoát Thoát đã không còn dùng được, song triều đình lại thả cho hương dũng nổi lên, dựa vào lực lượng dân binh để đàn áp quân Khăn Đỏ.

Trong triều Nguyên dần dần xuất hiện hai tập đoàn quân sự hùng mạnh. Một là Đáp Thất Bát Đô Lỗ, một là Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi. Ngoài ra còn có những kẻ như Lý Tư Tề, đều là hào kiệt một thời, không thể xem thường.

Thế nhưng trước quần hùng thiên hạ, Chu Nguyên Chương vẫn tràn đầy tự tin. Con đường phía trước có thể vô cùng gian nan, nhưng đám người kia rốt cuộc cũng chỉ là lũ cặn bã chờ bị nghiền nát dưới vó ngựa mà thôi!

Bởi vì tập đoàn quân Chu gia đang nắm trong tay thứ mà những kẻ khác không có.

Những người Hán xuất thân từ Hoài Tây này không còn chỉ chiến đấu vì vinh hoa phú quý, vì mong được đổi đời. Họ đã có một chí hướng lớn lao hơn.

Họ muốn đuổi giặc Hồ, khôi phục non sông Trung Hoa, chia ruộng cho dân cày, làm cho cuộc sống của muôn dân khá lên.

Người nông dân đã có lý tưởng thì không còn là người nông dân tầm thường.

Trong quân Chu gia còn có một nhóm sĩ phu đã hoàn tất cuộc đổi thay trong tư tưởng. Người đọc sách đã tỉnh ngộ, dĩ nhiên cũng không còn là hạng thư sinh tầm thường.

Chu Nguyên Chương nói với Lý Thiện Trường:

- Tiên sinh họ Lý, sau buổi tế lễ này, trẫm định lập chức Tả thừa và Hữu thừa để giúp trẫm xử lý việc chính sự. Chức Tả thừa giao cho tiên sinh, còn Trương tiên sinh đảm nhiệm Hữu thừa.

Lý Thiện Trường sững ra, rồi trong lòng đắng chát. Danh hiệu văn thần đứng đầu của hắn rốt cuộc vẫn không giữ được, đã bị Trương Hy Mạnh vượt qua mất rồi…

Đúng lúc Lý Thiện Trường còn chần chừ, Chu Thăng ở bên cạnh cười nói:

- Xin chúc mừng Lý tướng! Chúa công đã đặt cả gánh nặng ngàn cân lên vai ngài rồi đấy!

Lý Thiện Trường ngẩn người, đến lúc ấy mới hiểu ra.

Theo lệ của người Mông Cổ, bên phải được coi trọng hơn bên trái. Vì vậy trong Trung thư tỉnh của triều Nguyên, chức Hữu thừa cao hơn Tả thừa.

Thuở đầu quân Khăn Đỏ khởi nghĩa, họ cũng giữ theo lệ ấy, lấy bên phải làm trọng.

Nhưng nay quân Chu gia muốn khôi phục phép tắc của người Hán, lấy bên trái làm tôn.

Bởi vậy, Lý Thiện Trường giữ chức Tả thừa nước Ngô, vẫn là người đứng đầu hàng văn thần. Trương Hy Mạnh đảm nhiệm Hữu thừa, đứng ngay sau hắn.

Giả Lỗ và Chu Thăng được treo chức Bình chương sự, coi như những cố vấn cao cấp của Chu Nguyên Chương.

Dương Nguyên Cảo, Nguyễn Hoằng Đạo, Uông Quảng Dương, Dương Hiến, Lý Tập và Đào An lần lượt nắm giữ sáu bộ, trực thuộc Lý Thiện Trường. Đây chính là bộ máy hành chính của lão Chu.

Trương Hy Mạnh giữ chức Hữu thừa, đồng thời quản lý Học sĩ viện, Sử quán, Nho học viện, Đô sát viện, Thông chính viện và Ty Bảo sao. Hắn phụ tá Lý Thiện Trường, cùng lo việc chính sự.

Cách sắp xếp này thật ra khá thú vị. Vì lão Chu mới chỉ được phong làm Ngô Quốc công, một số cơ quan không thể dùng tên gọi quá cao, đành phải hạ xuống một bậc.

Chẳng hạn, Sử quán thực chất là Quốc sử quán, Nho học viện chính là Quốc tử giám, Học sĩ viện tương đương Hàn lâm viện. Còn Đô sát viện được dựng lên để tạm thay cho Ngự sử đài.

Như vậy, toàn bộ hệ thống đã trở nên hết sức rõ ràng.

Nếu coi lão Chu là hoàng đế, Lý Thiện Trường chính là người đứng đầu hàng văn thần, tương đương tể tướng, thống lĩnh sáu bộ và chịu trách nhiệm toàn bộ việc hành chính.

Trương Hy Mạnh là phó tể tướng. Hắn quản Hàn lâm viện, phụ trách soạn thảo chiếu chỉ; quản Sử quán, phụ trách biên soạn quốc sử; nắm Quốc tử giám, lo việc đào tạo nhân tài; đứng đầu Ngự sử đài, giám sát bá quan; chấp chưởng Thông chính viện, phụ trách công văn qua lại; ngoài ra còn lo việc phát hành tiền giấy.

Nói gọn một câu, ngoài sáu bộ ra, mọi việc đều do Trương Hy Mạnh phụ trách.

Không cần phải nói, một quốc gia bình thường tuyệt đối không thể đặt ra cơ cấu quan lại như thế. Làm vậy chẳng khác nào tự chuốc lấy rối loạn!

Nhưng với một bộ máy mới dựng còn đơn sơ, cách sắp xếp ấy lại rất sáng suốt.

Điều lão Chu cần là hiệu quả. Hắn không thể dựng lên cả đống quan viên để rồi ai nấy kiềm chế lẫn nhau.

Vì thế, quyền điều hành cốt lõi nhất định phải giao cho một người có năng lực cai quản mạnh mẽ. Lý Thiện Trường nhờ kinh nghiệm dày dặn cùng thành tích mấy năm qua, thuận lợi giành được vị trí ấy, nắm quyền thống lĩnh sáu bộ.

Nhưng vấn đề là, nếu để Lý Thiện Trường đứng đầu tất cả, quyền lực của hắn ắt sẽ phình to quá mức, rồi dần dần vượt khỏi sự kiểm soát.

Bởi vậy, lão Chu mới đem toàn bộ quyền lực ngoài sáu bộ giao cho Trương Hy Mạnh, tạo nên một vị phó tể tướng có quyền hạn lớn chưa từng thấy!

Vị phó tể tướng này có thể quản việc soạn thảo, ban hành công văn, có thể giám sát bá quan, lại nắm cả quyền đào tạo nhân tài và phát hành tiền giấy. Như vậy chẳng khác nào luôn đặt một đôi mắt lên đầu Lý Thiện Trường.

Dù lão Lý có bằng lòng hay không, lão Chu cứ làm như thế đấy.

Đối mặt với núi công việc khổng lồ mà lão Chu ném sang, Trương Hy Mạnh cũng đau đầu. Dù hắn có ham làm đến mấy, một mình cũng không thể kham nổi ngần ấy việc!

May mà Trương Hy Mạnh đã có sẵn người giúp sức. Hắn giao cho Lưu Bá Ôn việc soạn thảo công văn, Tống Liêm phụ trách giáo dục, Diệp Sâm lo việc công văn qua lại, Chương Dật chuyên trách giám sát.

Còn bản thân Trương Hy Mạnh, ngoài việc trông coi mấy người ấy, chủ yếu tập trung vào chuyện phát hành tiền giấy.

Riêng Tôn Viêm, người đầu tiên đi theo Trương Hy Mạnh, lại chưa được giao việc cụ thể nào. Hắn cứ theo sau Trương Hy Mạnh làm người hầu cận là được!

Thoạt trông mọi việc có vẻ hơi lộn xộn, nhưng đại thể vẫn rất rõ ràng. Lục bộ, cửu khanh của những năm sau đã bắt đầu thành hình.

Bên võ tướng thì đơn giản hơn một chút. Trước kia lão Chu từng lập năm doanh, sau đó mở rộng thành mười doanh. Đến giờ, số chức Chỉ huy sứ đã không còn đủ dùng.

Theo đề nghị của Trương Hy Mạnh, Chu Nguyên Chương lập lại chế độ năm quân, đồng thời đặt chức Đô chỉ huy sứ.

Chẳng hạn, Đô chỉ huy sứ quân Tiền thống lĩnh doanh Giáp và doanh Ất; Đô chỉ huy sứ quân Hậu thống lĩnh doanh Bính và doanh Đinh, những quân khác cũng sắp xếp tương tự.

Dĩ nhiên, ngoài mười doanh ấy, lão Chu còn có thể tùy lúc mở rộng thêm. Năm quân Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Trung, dưới quyền mỗi Đô chỉ huy sứ đều có thể đặt thêm rất nhiều doanh, binh mã lên đến một con số kinh người.

Tóm lại, toàn bộ hệ thống đang nhanh chóng phát triển theo hướng của một quốc gia.

Hiện giờ vẫn còn vài chỗ chưa thật thuận tay. Đợi đến ngày lão Chu xưng đế, mọi thứ danh chính ngôn thuận, khi ấy sẽ dễ dàng giải quyết hơn.

Đại thể, quyền lực đã được phân chia, cục diện văn võ cũng đã cơ bản định hình.

Sứ mệnh tiếp theo là thổi linh hồn vào đội quân này!

Chu Nguyên Chương dẫn các văn thần võ tướng đến chân phía bắc núi Kinh Hiện, huyện Đan Đồ, lộ Trấn Giang.

Năm xưa, Tông Trạch trấn giữ Khai Phong, vì lo lắng uất hận mà sinh bệnh. Sau khi ông qua đời, con trai là Tông Dĩnh cùng Nhạc Phi hộ tống linh cữu, đưa thi thể đến núi Kinh Hiện an táng.

Thuở ban đầu, mộ Tông Trạch còn có người chăm nom hương khói. Nhưng đến thời Tống Nguyên giao tranh, chiến loạn liên miên, khu mộ dần bị tàn phá. Nhà thờ nghiêng đổ, điện tế lễ tiêu điều, phần mộ trở nên hoang vu. Ruộng hương hỏa cũng bị các nhà sư trong chùa chiếm mất. Một đám sư sãi đã ngang nhiên cày cấy khắp chung quanh mộ Tông Trạch.

Sau khi Trương Hy Mạnh đề nghị tổ chức tế lễ Tông Trạch, hắn lập tức phái người đến đây. Bọn họ tra xét tình hình khu mộ, bắt giam hết những nhà sư đang chiếm đất làm ruộng.

Sau đó, họ bắt tay sửa sang toàn diện, phát quang cỏ dại, tu bổ điện thờ và nơi hành lễ. Tổng cộng hơn ba nghìn người được huy động. Chưa đầy một tháng, mọi việc đã hoàn tất.

Gió xuân tháng Hai rét buốt như lưỡi kéo, tựa dao bén cứa vào da thịt. Chu Nguyên Chương được văn thần võ tướng vây quanh, tiến đến trước mộ Tông Trạch.

Mọi người xuống ngựa, chỉnh đốn hàng ngũ rồi bước vào khu mộ.

Chu Nguyên Chương đích thân tiến lên tế lễ, làm lễ dâng ba thứ lễ vật gồm trâu, dê và lợn. Xong xuôi, hắn chủ động lui lại phía sau.

Đúng lúc ấy, Tống Liêm bước lên một bước, tiến về phía trước.

Nếu nhìn kỹ, sẽ thấy hai chân vị lão tiên sinh này đang hơi run. Sắc mặt ông ửng đỏ, trông chẳng khác nào người vừa uống rượu.

Thật ra theo dự định ban đầu, người đọc bài văn tế phải là Trương Hy Mạnh.

Nhưng Trương Hy Mạnh đã nhường cơ hội ấy cho Tống Liêm. Nếu mọi việc diễn ra thuận lợi, đây chắc chắn sẽ là một sự kiện được ghi vào sử sách!

Rất có thể vài trăm năm sau, hễ nhắc đến Tống Liêm, người đời sẽ nhớ ngay đến bài văn này. Biết đâu nó còn được đưa vào sách giáo khoa, bên dưới kèm thêm một dòng:

“Đọc thuộc và chép lại toàn văn.”

Tống Liêm vừa cất tiếng đã bắt đầu từ thuở trời đất khai mở:

- Từ khi Bàn Cổ mở trời dựng đất, Tam Hoàng trị vì, Ngũ Đế định phép tắc luân thường…

Lão tiên sinh vừa mở lời, mọi người đã cùng chấn động. Bài văn này quả thật mở ra khí thế lớn lao!

Tống Liêm thong thả đọc tiếp:

- Đại Vũ trị thủy, dựng nền nước nhà. Qua ba triều Hạ, Thương, Chu, người đời sau noi theo khuôn phép. Rồi đến thời Xuân Thu, chư tử bách gia đua tiếng, các bậc thánh hiền định rõ đạo thống, đặt ra lễ nhạc, dựng nên văn minh Hoa Hạ, phân biệt người Hán với giống man di. Đến khi Tần Thủy Hoàng vâng mệnh trời xuất thế, quét sạch sáu nước, thống nhất bốn cõi, non sông Trung Hoa mới thực sự thành hình!

Đến đây, mọi người dần nếm được ý vị trong bài văn.

Tống Liêm đang lần lại mạch lịch sử. Ông đi từ phép trị của ba triều Hạ, Thương, Chu đến thời Xuân Thu Chiến Quốc và chư tử bách gia. Theo ông, đó là giai đoạn then chốt hình thành quan niệm Hoa Hạ, phân biệt người Hán với các giống man di.

Đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước, cục diện Hoa Hạ mới thật sự được xác lập.

Tống Liêm lại cất giọng:

- Sau Tần Thủy Hoàng, các bậc đế vương lần lượt xuất hiện. Từ nhà Tần đến nhà Hán, nhà Đường nối tiếp, rồi truyền đến nhà Tống. Non sông Hoa Hạ, đạo thống Trung Hoa cứ thế kéo dài không dứt. Nào ngờ người Mông Cổ nổi lên từ sa mạc phương bắc, mang mười vạn hùng binh quét khắp tám phương, diệt không biết bao nhiêu nước. Một mạch Hoa Hạ đứt gãy nơi Nhai Sơn, khắp thiên hạ không còn lấy một tấc đất thuộc về người Hán. Con cháu Viêm Hoàng bị coi rẻ còn hơn loài gia súc, chịu đựng suốt mấy chục năm. Nỗi đau mất nước, nỗi uất hận chất chồng, khiến những người có lòng nhân nghĩa đêm ngày chẳng dám quên…

Giọng ông mỗi lúc một vang hơn:

- May thay, lòng người chưa chết, khí phách vẫn còn. Nghĩ đến tổ tiên Hoa Hạ ta, từng bắn rơi mặt trời, dời núi lấp sông, trị dòng nước lũ, dựng nên Vạn Lý Trường Thành, nào từng biết sợ là gì? Vương hầu khanh tướng chẳng phải đã do trời định. Cơn giận của người dân áo vải cũng đủ lật đổ cơ nghiệp xã tắc! Ngẫm thật kỹ, tinh thần Hoa Hạ rốt cuộc nằm trọn trong hai chữ bất khuất!

Tống Liêm lần từ sự tiếp nối của đạo thống đến lòng người chưa chết, rồi chỉ ra cốt lõi chính là tinh thần không chịu khuất phục.

Tiếp theo, ông đương nhiên phải nói đến việc lật đổ triều Nguyên.

- Suốt mấy nghìn năm, Hoa Hạ từng lâm vào cảnh nguy vong không chỉ một lần. Hàng ức vạn lê dân há cam lòng làm trâu ngựa, làm vật hiến tế cho kẻ khác? Nay Ngô chủ Chu Nguyên Chương kính cáo các bậc hiền thánh thuở trước, vâng theo mệnh trời, thuận lòng người. Ngài cầm thanh kiếm dài ba thước, dựng cờ khởi binh diệt Nguyên, mang chí đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa! Ngài lại chủ trương chia đều ruộng đất, cứu giúp muôn dân. Mệnh trời đã về với chúng ta, lòng người cũng hướng về chúng ta. Cúi xin trời đất thần minh cùng các bậc anh hùng, hiền nhân tiên thánh qua các đời che chở cho chúng ta, để chúng ta giữ vững lời thề, hoàn thành đại nghiệp!