Chu Nguyên Chương tiếp kiến cháu trai Lý Văn Trung tại đại doanh Thanh Sơn. Hai cậu cháu mới xa nhau chưa lâu, vậy mà lão Chu vẫn nhận ra trên người Lý Văn Trung đã thêm một luồng sát khí. Vẻ non nớt của thiếu niên ngày trước phai đi rất nhiều, cả người trông rắn rỏi, oai phong hơn hẳn.
Lão Chu tinh mắt đến mức nào, lập tức hiểu ra ngay.
- Cháu từng giết người rồi phải không?
Lý Văn Trung nhếch miệng cười.
- Nhờ có Trương tiên sinh, cháu mới có nhiều dịp rèn luyện như vậy.
- Ồ? Kể ta nghe xem nào.
Lý Văn Trung liền kể chuyện Trương Hy Mạnh phái cậu đến trại Lão Sơn bên hồ Sào. Sau đó, cậu nói tiếp chuyện vượt sông đánh chiếm Đồng Lăng, rồi chuyện vây bắt Na Ha Xuất.
Lý Văn Trung không tiện khoe khoang, nhưng Chu Nguyên Chương nghe qua cũng hiểu rõ ngọn ngành. Hắn hỏi:
- Cháu kể ta nghe xem, làm sao cháu nghĩ ra được cách lừa quân Nguyên? Vì sao lại nghĩ đến chuyện nói Na Ha Xuất đã chết?
Lý Văn Trung gãi đầu.
- Lúc ấy tình thế cấp bách, cháu đành nghĩ đại một kế. Hình như cháu nhớ từng có một trận đánh nổi tiếng, người ta cũng thắng nhờ cách ấy.
Chu Nguyên Chương ngẩn ra giây lát rồi nói:
- Năm xưa, vua Phù Kiên của Tiền Tần đem đại quân đánh Đông Tấn. Khi đến sông Phì Thủy, hắn chọn cách lui quân, nhường chiến trường để quyết chiến với quân Bắc Phủ. Quân trong tay hắn vốn đã lẫn lộn người Hồ với người Hán, trên dưới chẳng cùng một mối. Lại thêm đám người Tiên Ti như Mộ Dung Thùy ôm lòng dạ khác, bèn nhân lúc đại quân Tiền Tần đang lui mà tung tin rằng quân đã thua, Phù Kiên đã chết. Mấy chục vạn đại quân lập tức tan tác như chim vỡ tổ. Bá nghiệp Tiền Tần cũng theo đó tiêu tan.
Chu Nguyên Chương ngừng một lát rồi nói tiếp:
- Phù Kiên xuất thân người Hồ, nhưng biết trọng dụng Vương Mãnh, khuyên dân chăm lo cày cấy, ra sức mở mang giáo hóa, một lòng lo việc trị nước. Xét cho cùng, hắn cũng là một vị vua sáng suốt. Tiếc rằng dưới trướng hắn, người Hồ và người Hán lẫn lộn, lòng người rối ren, trên dưới không thể đồng tâm, sai đâu đánh đó. Vì vậy mới thua lớn ở sông Phì Thủy, thất bại hoàn toàn. Triều Nguyên hiện nay cũng đã suy tàn. Trong quân, người Mông Cổ, người Sắc Mục và người Hán chen chúc lẫn lộn, tình cảnh chẳng khác Tiền Tần là bao. Kế của cháu xem như đánh trúng chỗ yếu của chúng. Nhưng nếu gặp một đạo quân trên dưới một lòng, kế ấy chưa chắc đã thành công.
Lý Văn Trung hiểu cậu mình đang chỉ bảo. Cậu cũng ngạc nhiên nhận ra bản lĩnh của lão Chu tiến bộ quá nhanh, xem ra thời gian qua hắn đã đọc không ít sách.
- Cậu à, Trương tiên sinh từng dạy cháu rằng lúc thường phải luyện quân nghiêm hơn một chút, chuẩn bị binh khí đầy đủ hơn một chút, làm việc cẩn thận hơn một chút, cố giành thêm vài phần thắng. Nhưng khi thật sự bước vào chiến trường, rốt cuộc vẫn chỉ có bốn chữ, tùy cơ ứng biến.
Chu Nguyên Chương thoáng sững người, rồi bật cười vang.
- Hay lắm, hay lắm! Trương tiên sinh có được hiểu biết như vậy, đủ thấy tài thao lược của ông ấy tiến bộ rất nhanh. Để ông ấy vượt sông, xem ra nước cờ này của ta đã đi đúng rồi.
Lão Chu tò mò hỏi:
- Quân ta ở Giang Nam có bao nhiêu người? Tình hình ra sao? Có thể đánh chiếm Thái Bình và Kim Lăng không?
Lý Văn Trung lập tức lên tinh thần, cẩn thận kể lại cho Chu Nguyên Chương nghe.
Sau đợt chỉnh đốn đầu tiên, thủy quân hồ Sào cùng hai đại doanh tả hữu có tất cả hơn mười hai nghìn người. Tính thêm quân của Trương Đức Thắng và Thường Ngộ Xuân thì gần mười lăm nghìn. Trong trận đối phó Na Ha Xuất, quân số đã hao tổn không ít.
Sau đó, họ lại thu nạp quân ở Trì Châu. Hiện giờ Trương Hy Mạnh còn đang ra sức chiêu mộ thêm, chẳng bao lâu nữa quân số hẳn sẽ vượt quá hai vạn.
- Trương tiên sinh và Phong Lâm tiên sinh từng bàn bạc, hiện giờ nếu tiến đánh Thái Bình thì vẫn có cơ hội thắng, nhưng phần thắng không lớn. Có nên mạo hiểm xuất quân hay không, còn phải chờ cậu quyết định…
Chu Nguyên Chương khẽ gật đầu. Thật ra hắn hiểu rất rõ, nếu quả thực thời cơ đánh trận khó kiếm, Trương Hy Mạnh đã tự mình quyết định, chẳng ai chịu để vuột mất cơ hội ngay trước mắt. Nay ông phải đến xin ý kiến, chứng tỏ nắm chắc phần thắng không cao. Nếu Chu Nguyên Chương thật sự cần ông phát động tấn công, Trương Hy Mạnh cũng sẽ lập tức chấp hành.
Lão Chu chỉ mỉm cười nhàn nhạt.
- Thu phục thủy quân hồ Sào, vượt Trường Giang, đánh chiếm Đồng Lăng, bắt sống Na Ha Xuất… Trương tiên sinh đã đánh rất đẹp. Nếu ta không trổ chút tài, chẳng phải sẽ thành kẻ vô dụng hay sao? Vừa hay cháu đã đến. Cậu sẽ cho cháu mở mắt một phen!
Lý Văn Trung ngẩn người. Cậu ruột định làm một phen kinh thiên động địa thật rồi!
Mà quả nhiên, cậu đã đoán đúng.
Lúc này, Chu Nguyên Chương đóng quân ở đại doanh Thanh Sơn, còn toàn bộ chủ lực quân Nguyên lại nằm trong thành Hòa Châu. Thế cục ấy nhìn qua thật khiến người ta khó hiểu. Chẳng lẽ lão Chu đã thua rồi?
Đương nhiên là không. Chính Chu Nguyên Chương chủ động bỏ thành Hòa Châu, nhường cho quân Nguyên chui vào.
Trước đó, quân Nguyên chủ lực từng đánh Hòa Châu. May nhờ Thường Ngộ Xuân thể hiện dũng mãnh, thành trì mới tạm thời được giữ vững. Sau đó Chu Nguyên Chương dẫn quân đến cứu viện, nhưng rất nhanh hắn nhận ra quân Nguyên đông vô kể. Nếu cứ cố thủ trong thành Hòa Châu thì hoàn toàn không thể chống đỡ lâu dài.
- Cậu hỏi cháu một câu. Việc cấp bách nhất ở Hòa Châu lúc này là gì?
Lý Văn Trung suy nghĩ giây lát rồi đáp:
- Lương thực ạ?
- Đúng vậy. Dân chúng Hòa Châu cũng như quân Chu gia chúng ta đều đang trông vào vụ lúa mùa hạ. Chỉ cần thu hoạch thuận lợi, Hòa Châu sẽ đứng vững. Quân Nguyên đánh Hòa Châu, chưa chắc không có ý cướp lương thực, ít nhất cũng muốn phá hỏng vụ mùa.
Lý Văn Trung ra sức gật đầu.
- Cậu sáng suốt thật. Nhưng… chúng ta bỏ Hòa Châu ư? Làm vậy chẳng phải càng giúp bọn giặc Nguyên đạt được mục đích sao?
Chu Nguyên Chương cười lớn.
- Vậy phải xem ưu thế của chúng ta nằm ở đâu. Sau khi chiếm được Hòa Châu, chúng ta phái quân dẹp giặc cướp, chia ruộng cho dân, lập dân binh. Trong bất cứ thôn xóm nào cũng có người của chúng ta!
Lý Văn Trung lặng lẽ lắng nghe, nhưng trong lòng dậy lên từng đợt sóng, chấn động vô cùng.
Từ xưa vẫn có câu quyền lực của hoàng đế không xuống được đến cấp huyện. Câu ấy đúng hay sai tạm chưa bàn. Quyền lực được thể hiện bằng gì? Chẳng phải là có bao nhiêu quan lại, bao nhiêu quân đóng giữ, có thể kịp thời truyền lệnh xuống dưới hay không đó sao?
Trong một thời gian rất dài, quyền đưa thư truyền tin chính là một biểu hiện quan trọng của chủ quyền quốc gia.
Bất kể nơi ấy xa xôi, hẻo lánh đến đâu, chỉ cần người đưa thư có thể đi tới, chuyển được thư từ, trao đổi được tin tức, thì nơi đó vẫn nằm trong phạm vi chủ quyền quốc gia, cũng là vùng đất được nhà nước thực sự kiểm soát.
Thư đi đến đâu, chủ quyền vươn tới đó!
Bởi vậy, những người đưa thư bám trụ ở vùng biên cương xa xôi suốt mấy chục năm mới đáng kính đến thế, mới xứng đáng để mọi người ghi nhớ.
Lãnh thổ một quốc gia không phải cứ vẽ lên bản đồ là thành. Nó được quyết định bởi nơi nào thật sự nằm dưới quyền kiểm soát.
Trong xã hội nông nghiệp, muốn dựng một bộ máy hành chính đến tận từng thôn xóm, dù chỉ để truyền tin đơn giản, cũng là chuyện không thể làm nổi. Chi phí bỏ ra lớn đến mức đủ khiến ngân khố kiệt quệ.
Thu không đủ tiền, thuê không đủ người, vậy lấy gì đưa quyền lực của triều đình xuống làng quê?
Gặp chuyện thu thuế, bắt dân đi phu, cứu tế người gặp nạn, dạy dân biết lễ nghĩa, tất cả đều phải dựa vào tầng lớp hương thân địa chủ. Vì thế mới có chuyện thiên tử cùng giới sĩ phu cai trị thiên hạ.
Cho nên trong phần lớn thời điểm, không phải muốn làm gì cũng được. Điều kiện chính trị và kinh tế quyết định người ta chỉ có thể làm theo cách ấy.
Năng suất mỗi mẫu ruộng ở châu Âu còn thấp hơn, lương thực dư thừa càng ít. Bọn họ thậm chí không dựng nổi một bộ máy hành chính hoàn chỉnh, chỉ đành dùng chế độ chia đất phong hầu.
Mãi đến khi bắt đầu thuộc địa hóa toàn cầu, công nghiệp phát triển, của cải dư thừa tích tụ khổng lồ, họ mới có thể dựng nên bộ máy công chức hiện đại để quản lý quốc gia, rồi ban hành đủ loại chính sách phúc lợi.
Tất cả những thứ ấy đều phải dựa vào một lượng của cải vật chất tích lũy đầy đủ. Nói trắng ra, đó chẳng qua là cướp bóc năm châu bốn bể, bắt một nhóm nhỏ được sống sung sướng hơn người khác.
Có thể hiểu đại khái rằng người da trắng châu Âu trở thành địa chủ hương thân, còn dân chúng các châu khác biến thành nông dân lĩnh canh, dùng máu và nước mắt nuôi sống các ông chủ da trắng.
Thế giới này, ngay từ gốc rễ, vốn chẳng công bằng.
Nhưng quân Chu gia lại đi theo một con đường khác. Sau khi chia ruộng đồng đều cho dân, họ động viên những người được chia đất tổ chức thành dân binh, bảo vệ thành quả mà chính mình giành được.
Sau đó, lão Chu lại đặt ra chức trưởng lương, trao cho một số hộ nông dân quyền tổ chức và huy động dân chúng.
Nhờ vậy, quân Chu gia cuối cùng cũng có khả năng huy động sức dân ở nông thôn. Quyền lực đã thật sự đi xuống làng quê, xuống tận từng thôn xóm!
Trong lần đối phó Tuyết Tuyết, quân Chu gia từng cho thấy sức mạnh của dân binh.
Lần này, lão Chu càng mạnh tay hơn.
Vì bị Tôn Đức Nhai và những kẻ khác phá phách, dân trong thành Hòa Châu vốn đã chẳng còn bao nhiêu. Sau khi chia ruộng, lại có mấy nghìn người trở về quê làm ruộng.
Khi ấy, toàn bộ dân chúng ở Hòa Châu chỉ còn hơn một vạn người.
Chu Nguyên Chương xem xét tình hình, lập tức ra lệnh cho dân chúng rút khỏi Hòa Châu theo từng đợt, tạm thời về vùng quê lánh đi.
Sau đó, lão Chu cũng chọn cách rút khỏi Hòa Châu, để lại một tòa thành trống cho quân Nguyên.
Đột Kiên Bất Hoa, Bản Trụ Mã và Trần Dã Tiên đều không nhận ra điều gì khác lạ. Theo suy nghĩ của bọn chúng, chỉ cần chiếm được thành là đã lập công lớn.
Đám giặc Khăn Đỏ chẳng qua chỉ là một lũ giặc cướp nay đây mai đó, chẳng đáng để mắt.
Nghe nói quân Chu gia đã đánh bại cả thừa tướng Thoát Thoát, cứ tưởng chúng lợi hại lắm. Giờ nhìn lại, chẳng qua cũng chỉ đến thế mà thôi!
Bởi vậy, bọn chúng vội vàng dẫn quân vào Hòa Châu, rồi cũng vội vàng truyền tin báo thắng về triều đình nhà Nguyên.
Sau thất bại ở Cao Bưu, cuối cùng triều đình cũng nhận được một tin vui.
Triều đình vui mừng, biết đâu sẽ ban thưởng hậu hĩnh cho bọn chúng. Thoát Thoát đã sụp đổ, chức thừa tướng hay thái sư, bọn chúng cũng phải được chia một phần.
Đúng lúc mấy kẻ ấy đang mơ tưởng chuyện tốt, một tên thuộc hạ đột nhiên cầm thư chạy hối hả vào trong.
Lá thư ấy lại do chính Chu Nguyên Chương viết, để trên bàn trong nha môn Hòa Châu.
Đột Kiên nhận lấy, mới đọc được mấy dòng đã dựng ngược đôi mày.
Bản Trụ Mã và Trần Dã Tiên cũng nóng ruột sấn tới xem. Đọc xong, hai kẻ ấy lập tức tái mặt.
Trên thư viết:
- Vào được Hòa Châu, ra chẳng nổi; ăn vào bụng, muốn nhả cũng không xong. Các ngươi tính làm sao đây?
Bên dưới đề tên: Chu Nguyên Chương.
Tính làm sao đây?
- Giặc Khăn Đỏ ngông cuồng! Còn phải tính gì nữa? Lập tức xuất quân tiêu diệt chúng!
Mấy kẻ ấy gào lên, tức đến nghiến răng. Rõ ràng đã bỏ thành tháo chạy, vậy mà còn bày đặt lên mặt dọa người?
- Đánh! Đánh cho ta thật mạnh!
Thế nhưng ngay sau khi quân Nguyên xuất binh, chúng lập tức gặp rắc rối, mà còn chẳng phải rắc rối nhỏ.
Quân Nguyên vừa rời khỏi Hòa Châu, tin tức đã truyền đến tai quân Chu gia. Chúng có bao nhiêu người, đang đi về hướng nào, có bao nhiêu kỵ binh, có mang theo pháo Hồi Hồi hay không, mọi tin tức đều được nắm rõ như lòng bàn tay.
Sau đó, quân Chu gia lập tức đánh thẳng vào quân Nguyên, vây công không chút nương tay.
Mấy nghìn quân Nguyên vốn không đủ sức chống lại quân Chu gia.
Nhưng khi chúng dốc quân đánh lớn, lại chẳng tìm thấy bóng dáng quân Chu gia ở đâu. Hai bên giằng co mấy ngày, quân Nguyên tổn thất gần một vạn người mà vẫn chẳng thu được gì. Lần này Đột Kiên và Bản Trụ Mã thật sự hoảng sợ.
Hóa ra tên họ Chu không hề nói khoác!
Bọn chúng phải làm sao đây?
Cứ tiếp tục thế này, chẳng phải sẽ bị quân Chu gia tiêu hao sạch hay sao?
Hai kẻ ấy lập tức triệu tập tất cả mọi người, thức trắng đêm bàn cách đối phó.
Cùng lúc đó, Chu Nguyên Chương cũng khẩn trương điều quân khiển tướng.
Hắn từ Cao Bưu quay về Hòa Châu, mang theo chẳng quá một vạn quân. Đây cũng là nguyên nhân Chu Nguyên Chương bỏ thành Hòa Châu. Chỉ hơn một vạn người, hắn không nắm chắc có thể đánh tan đạo quân Nguyên đông gấp mười lần mình.
Nếu giằng co trong thành Hòa Châu, người chịu thiệt cuối cùng chẳng phải dân chúng hay sao?
Thôi thì cứ cho các ngươi mượn thành Hòa Châu ở tạm trước. Đợi quân ta tập hợp đủ, ta sẽ quay lại thu cả vốn lẫn lãi!
Chỉ trong mấy ngày, các cánh quân Chu gia lần lượt kéo đến.
Mậu Đại Hanh dẫn năm nghìn người từ hướng Tứ Châu tới. Trần Đức và Cố Thời dẫn quân Hào Châu đến hội hợp. Canh Tái Thành cũng dẫn quân tới. Phùng Quốc Thắng từ Chân Châu chạy đến. Chu Đức Hưng từ Định Viễn kéo quân về…
Ngoại trừ Thang Hòa và Phùng Quốc Dụng đang trấn giữ Dương Châu, cùng Trương Hy Mạnh đã vượt sông, gần như toàn bộ lực lượng của Chu Nguyên Chương đều được tập trung lại.
Tính cả lớn nhỏ, tổng số quân đã vượt quá năm vạn!
Nhưng đó vẫn chưa phải tất cả. Phía sau năm vạn quân Chu gia còn có hơn mười vạn dân phu. Dân chúng Định Viễn, Trừ Châu, nhất là người Hòa Châu, đều hăng hái tham gia. Nam nữ già trẻ cùng cầm vũ khí, thề phải đuổi quân Nguyên đi, bảo vệ quê hương.
Trong quãng thời gian ấy, Chu Nguyên Chương dốc toàn lực, tập trung binh mã, âm thầm chuẩn bị cho trận quyết chiến.
Còn quân Nguyên cố thủ trong thành Hòa Châu, chẳng những không thu được gì mà còn tổn thất nặng nề.
Bên này suy yếu, bên kia lớn mạnh. Thế trận quyết chiến dần dần hình thành.
Đúng lúc ấy, Mã thị cũng ôm bụng bầu thật lớn, tìm đến trước quân.
Tính theo ngày tháng, chỉ còn một hai tháng nữa là đứa trẻ sẽ chào đời.
Chu Nguyên Chương sa sầm mặt:
- Muội cứ ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe, chạy đến đây làm gì? Chẳng lẽ muội vẫn chưa yên tâm về ta?
Mã thị chống một tay lên lưng, chậm rãi ngồi xuống, trên mặt mang theo nụ cười.
- Sao lại không yên tâm? Phu quân của muội là bậc đại anh hùng đội trời đạp đất, đối phó với giặc Nguyên ắt chẳng thành vấn đề. Chỉ là vợ chồng một nhà, muội không thể cứ ở phía sau chờ đợi. Đó là lỗi của muội. Nếu huynh trách thì cứ trách, dù sao muội cũng chẳng định sửa.
Chu Nguyên Chương dở khóc dở cười. Làm sao hắn không hiểu tấm lòng của phu nhân?
Nhưng vẫn là câu nói ấy, trên đời làm gì có chuyện chắc chắn trăm phần trăm, nhất là chuyện ngoài chiến trường. Dù hắn đã tập trung toàn bộ lực lượng, trong tay cũng chỉ có hơn năm vạn quân. Dân binh không thể tính ngang với quân chính quy.
Mà trước mặt hắn vẫn là hơn chín vạn quân Nguyên, phía sau còn có thủy quân Trường Giang.
Rốt cuộc bên nào chiếm ưu thế, thật sự chưa thể nói chắc.
Đúng lúc ấy, Lý Văn Trung đến nơi, mang theo tin tức từ Giang Nam. Chu Nguyên Chương nghe xong mừng rỡ vô cùng. Mã thị cũng đến gặp Lý Văn Trung, kéo cháu trai lại hỏi han rất nhiều chuyện.
- Đứa trẻ này càng ngày càng nên người. Trương tiên sinh quả thật là bậc kỳ tài!
Chu Nguyên Chương cười vang:
- Muội cũng đừng sốt ruột. Đợi con trai chúng ta chào đời, ta sẽ nhờ Trương tiên sinh nhọc công thêm một phen. Chúng ta đánh giang sơn cho nó, còn Trương tiên sinh dạy nó cách trị giang sơn. Đứa trẻ này nhất định sẽ nên người… Ha ha ha!
Lão Chu cười vang, mặt Mã thị hơi đỏ lên.
- Trước mặt còn có hậu bối, sao huynh đã quên giữ ý rồi? Huynh vẫn nên nghĩ xem làm thế nào tiêu diệt mười vạn quân Nguyên đi!