Phía nam núi, phía bắc sông gọi là dương. Thành Lạc Dương mang tên ấy vì nằm ở bờ bắc sông Lạc.
Từ xưa, nơi đây đã nổi danh là vùng đất giữa thiên hạ. Về sau, người đời còn gọi Lạc Dương là “cố đô của mười ba triều đại”.
Cách gọi ấy có lẽ hơi khiên cưỡng. Trong mười ba triều, quá nửa chỉ là những chính quyền nhỏ, sớm dựng lên rồi chóng tan. Nhưng Lạc Dương quả là vùng đất trọng yếu giữa Trung Nguyên. Nhà Chu, nhà Hán và nhà Đường, ba triều đại lẫy lừng, đều từng chọn nơi đây làm kinh đô. Thành trì trong thiên hạ nhiều không kể xiết, nhưng nơi thật sự có thể sánh vai với Lạc Dương, cũng chỉ có Trường An.
Vinh quang ấy khiến Lạc Dương lưu danh muôn thuở, song cũng đẩy thành này vào những nỗi khổ mà các nơi khác chưa từng nếm trải. Mỗi khi triều đại đổi thay, thiên hạ đại loạn, kinh đô Lạc Dương cùng dân chúng trong thành thường đứng trước tai họa diệt vong. Lửa dữ thiêu rụi cả thành, biến nơi đây thành đống tro tàn. Chuyện ấy đã xảy ra đâu chỉ một lần.
Thế nhưng, Lạc Dương cũng như mảnh đất này, như người dân và các dân tộc sinh sống trên đó. Dẫu trải qua bao khổ nạn, họ vẫn kiên cường đứng dậy. Mỗi lần hồi sinh, họ lại mạnh mẽ và vĩ đại hơn trước.
Lạc Dương đang sừng sững cách đó hơn mười dặm là một tòa thành kiên cố như thế. Tường thành cao mười trượng, sông Lạc được dẫn vòng quanh bốn phía, chu vi thành vượt quá trăm dặm. Thành này đã trải qua loạn Ngũ Đại, từng chứng kiến nhà Tống suy tàn, vậy mà vẫn hiên ngang dựng lại giữa Trung Nguyên. Bởi giờ đây, Lạc Dương còn mang một danh hiệu đáng tự hào hơn: kinh đô Đại Việt triều!
Dẫu còn cách xa mười dặm, tòa thành nguy nga trước mắt vẫn khiến mọi người trong xe không sao nén nổi lời trầm trồ. Ai nấy nhìn đến ngẩn người, nhất thời chẳng biết diễn tả nỗi kinh ngạc trong lòng thế nào.
Ngay cả Lý Lăng, dù ở đời sau từng thấy nhiều đô thị rộng lớn, cao chót vót hơn, cũng không khỏi bị khu rừng bê tông cốt thép ấy choáng ngợp. Nhưng sức rung động của chúng vẫn kém xa tòa thành đang mỗi lúc một gần trước mắt hắn.
Thành trì sừng sững như núi, tường đất nện chắc rồi ốp gạch đá xanh nhẵn mịn, tỏa ra vẻ bền vững cổ kính. Trên đầu thành, cờ xí giăng kín; từng cỗ nỏ lớn chĩa ra ngoài, những mũi tên khổng lồ trên đó ánh lên sắc lạnh. Dù còn cách xa, Lý Lăng vẫn cảm nhận rõ khí thế tự tin, hùng tráng của thành trì này.
Nguyệt Nhi mở to mắt, miệng há hốc, nhưng chẳng thốt được lời nào. Với nàng, phủ thành Hành Châu đã là giới hạn của trí tưởng tượng. Nàng vốn nghĩ tường thành nơi ấy đã đủ cao, thành trì đã đủ lớn. Nào ngờ Lạc Dương trước mặt cao gấp ba lần, rộng hơn mười lần phủ thành. Khí thế của nó lại càng vượt xa cả trăm phủ thành Hành Châu. Cú sốc ấy khiến cô bé hoàn toàn nghẹn lời.
Lý Thông khá hơn một chút, nhưng cũng ngây người ngắm phía trước hồi lâu, chẳng nói được câu nào. Chỉ có Lý Mạc Vân, sau phút đầu sững sờ, mới dần lấy lại bình tĩnh và thành tâm thốt lên:
- Lạc Dương quả không hổ là kinh đô.
Chu Điệp đang đánh xe là người bình thản nhất. Hắn thường qua lại Lạc Dương, đã quen với vẻ hùng tráng của kinh thành, bèn cười nói:
- Lý công tử, Lạc Dương quả là tòa thành đáng nể nhất thiên hạ hiện nay. Theo lão Chu tôi thấy, từ xưa đến nay, khắp bốn phương tám hướng chẳng nơi nào sánh được với Lạc Dương của Đại Việt ta. Dù là Trường An thời Đường thịnh hay Khai Phong thời Tống trước, xét về dân số, quy mô lẫn thành trì, đều kém Lạc Dương ta một khoảng xa.
Lý Lăng cũng bình tâm lại, cười tiếp lời:
- Quả thật là vậy. Nếu ta nhớ không lầm, nha môn có ghi chép rằng Lạc Dương hiện có ba mươi lăm vạn hộ quân dân, dân số hơn một trăm năm mươi vạn. So với con số trăm vạn người trong kinh thành nhà Tống trước kia và nhà Đường, dân số nơi ta đông hơn hẳn một nửa.
- Thành ta còn rộng lớn, lại chẳng phải lo lũ sông Hoàng Hà như dân Khai Phong thời Tống trước. Bởi vậy, năm ấy Thái Tổ quyết định sau khi lập quốc ba năm thì xây dựng, tu sửa Lạc Dương, rồi năm năm sau chính thức dời đô. Đó quả là một quyết định sáng suốt! Chu Điệp vẫn là người hâm mộ cuồng nhiệt Thái Tổ hoàng đế. Hễ nhắc đến ngài, hắn liền nói nhiều hơn hẳn.
Nhưng lời hắn nói cũng đúng sự thật, mọi người đều gật đầu tán thành. Lý Lăng còn thầm bổ sung trong lòng: “Bởi vậy, ông mới là người xuất chúng trong đoàn xuyên không chúng ta. Cuối thời Tống mà vẫn xoay chuyển được cục diện, cứu biết bao người, gây dựng nên thời thịnh trị mới cho Hoa Hạ.”
- Ca, đã Khai Phong có lắm vấn đề như thế, sao ngày trước họ còn chọn nơi đó làm kinh đô? Nguyệt Nhi lúc này đã hoàn hồn, tò mò hỏi.
- Vì nhà Tống lập quốc, kế thừa cơ nghiệp của nhà Hậu Chu, nên thuận thế chọn Biện Kinh, kinh đô cũ, làm kinh thành. Lý Lăng thuận miệng đáp.
- Về sau, sao họ không nghĩ đến chuyện dời đô như Thái Tổ hoàng đế?
Câu hỏi ấy khiến cả Lý Thông lẫn Lý Mạc Vân đều tò mò quay sang.
Lý Lăng mỉm cười:
- Chuyện này phải chia làm hai giai đoạn. Từ giữa đến cuối triều Tống, quốc lực ngày một suy yếu. Phía bắc có nhà Liêu, phía tây có nhà Hạ, hai kẻ thù lớn luôn rình rập bên ngoài. Tài chính trong nước lại eo hẹp, đương nhiên chẳng thể nghĩ đến chuyện dời đô.
- Vậy còn thời đầu? Theo em biết, khi ấy nhà Tống vẫn có thể ngang sức với nhà Liêu, đâu phải sợ họ.
- Vấn đề nằm ở một người, Triệu Quang Nghĩa, tức Tống Thái Tông. Thật ra, lúc nhà Tống mới lập quốc, Thái Tổ Triệu Khuông Dận từng nghĩ đến chuyện dời đô về Trường An. Nhưng đứng đầu một nhóm đông đảo quan lại can ngăn kịch liệt là Tấn vương Triệu Quang Nghĩa. Cuối cùng, chuyện ấy đành bỏ ngỏ.
- Vì sao vậy?
- Khi ấy Triệu Quang Nghĩa giữ chức phủ doãn Khai Phong, quyền thế và gốc rễ của ông ta đều nằm ở đó. Một khi dời đô, hậu quả sẽ vượt quá sức ông ta gánh chịu. Những người khác cũng vậy. Ai nấy đã bám rễ ở Khai Phong, thật sự dời đô chẳng khác nào làm tổn hại quyền lợi, lay chuyển nền móng của họ.
Nói đến đây, Lý Lăng thành tâm thở dài:
- Chỉ riêng chuyện ấy cũng đủ thấy Thái Tổ triều ta hơn Triệu Khuông Dận rất nhiều. Tầm nhìn và khí phách của ngài đã đủ chứng minh tất cả.
Mọi người đều gật đầu. Chu Điệp ở bên ngoài cũng cười ha hả:
- Lý công tử quả là người hiểu biết. Lão Chu tôi chỉ là kẻ thô lậu, chẳng hiểu những chuyện lớn của quốc gia. Nghe công tử nói, tôi mới hiểu ra. Công tử, chúng ta đến dưới thành rồi!
Trong lúc trò chuyện, xe ngựa đã vượt qua quãng đường hơn mười dặm, đến trước một cổng thành rộng lớn ở phía nam Lạc Dương.
Cổng thành quả thật rộng thênh thang, đủ cho năm, sáu cỗ xe ngựa cùng đi qua. Hai bên cổng mở rộng, hai hàng lính mặc giáp, tay cầm giáo đứng nghiêm trang. Trên tường thành cao bảy, tám trượng, lính cầm cung nỏ tuần tra qua lại. Khí thế nghiêm cẩn ấy khiến người đi đường bên dưới vừa nhìn đã thấy uy hiếp.
Trước cổng còn có một viên quan giữ thành dẫn theo mấy tên lính, đang tra hỏi và kiểm tra ngẫu nhiên khách bộ hành cùng hành lý của họ. Quả là kinh đô, việc phòng bị nghiêm ngặt hơn hẳn những nơi khác.
Cỗ xe chở Lý Lăng rộng rãi, lại sang trọng. Dẫu không có dấu hiệu của dòng dõi quyền quý, lính giữ thành cũng chẳng dám làm khó quá mức. Viên quan giữ cổng tươi cười bước đến hỏi:
- Các vị quê quán ở đâu, vào kinh làm gì? Có giấy đi đường không?
Lý Lăng mỉm cười, khẽ cúi người, rồi đưa thẻ bạc của mình ra:
- Tại hạ là sĩ tử vào kinh dự thi lần này, quê ở huyện Giang Thành, phủ Hành Châu, miền Hoài Bắc, tên là Lý Lăng. Những người này đều là thân quyến đi cùng ta.
Xem thẻ bạc xong, nụ cười trên mặt viên quan giữ cổng càng tươi hơn:
- Thì ra là Lý công tử. Tiểu nhân thất lễ rồi. Mời các vị vào thành.
Hắn thậm chí chẳng định lục soát đồ đạc trong xe. Dẫu sao Lý Lăng cũng là cử nhân, biết đâu ít hôm nữa sẽ đỗ tiến sĩ, trở thành quan trong triều. Một viên quan giữ cổng nhỏ nhoi như hắn đương nhiên không dám đắc tội.
Lý Lăng vẫn giữ lễ, cảm ơn lần nữa rồi bảo Chu Điệp đưa cho viên quan một xâu tiền đồng. Được đối phương rối rít cảm tạ, đoàn xe thuận lợi đi vào lòng cổng thành hun hút.
Đường hầm qua cổng sâu đến kinh người, dài hơn mười trượng. Chỉ thế cũng đủ thấy tường thành chẳng những cao mà còn dày đến đáng sợ, quả có thể gọi là kiên cố như thành đồng vách sắt.
Đi hết đường hầm, thân phận lại được kiểm tra lần nữa, xe ngựa của Lý Lăng mới thật sự vào đến phố phường Lạc Dương. Cổng phía nam mang tên Thần Sách Môn. Từ cổng kéo dài ra là một con đường thẳng tắp, chính giữa dành cho xe cộ qua lại, hai bên là lối đi cao hơn một chút cho dân chúng và người bộ hành.
Những điều ấy không khiến Lý Lăng ngạc nhiên. Chỉ có một chuyện làm hắn khó hiểu: con đường đông người qua lại như vậy mà hai bên chẳng có cửa hàng nào. Xe đi thêm một đoạn, rẽ qua bức tường cao chừng hai trượng, vào một con đường nhỏ hơn, lúc ấy hắn mới thấy hai bên có đủ loại cửa tiệm, người bán hàng rong đang rao bán không ngớt.
- Chuyện này là sao? Lão Chu, sao đoạn đường phía trước không có cửa hàng nào mở ra mặt phố vậy?
Lý Lăng đành hỏi Chu Điệp, người quen đường Lạc Dương nhất.
- Công tử có điều chưa biết. Lạc Dương ta được quy hoạch theo phép tắc đời Đường, cả những quy củ khi ấy cũng được giữ lại. Toàn thành chia thành các phường và chợ. Dân trong phường chỉ được buôn bán ở bốn khu chợ phía đông, tây, nam, bắc. Lạc Dương có tất cả một trăm lẻ tám phường lớn nhỏ, nằm rải rác trong nội thành và ngoại thành. Những đường chính nối các phường với nhau, nối nội thành với ngoại thành, gọi là ngự đạo, không được mở cửa hàng. Chỉ trong một số phường, người ta mới được mở tiệm để tiện cho dân chúng sinh hoạt hằng ngày. Nhưng muốn mua món gì, dân trong thành vẫn nên đến bốn khu chợ lớn. Ở đó hàng hóa phong phú hơn, giá cả cũng rẻ hơn.
Nói đến đây, lão Chu nhìn sắc trời, vội quất roi vào mông ngựa, giục nó tăng tốc:
- Trời không còn sớm, phải mau lên. Tòa nhà chúng tôi sắp xếp cho công tử nằm ở phường Tu Nhân, phía đông nội thành. Dù đi đường tắt, cũng phải mất hơn nửa canh giờ. Chớ để bị kẹt ở bên ngoài!
Vừa nói, xe ngựa vừa chạy nhanh hơn. Lý Lăng nhìn ra ngoài, chợt thấy ngày càng nhiều người đi đường cũng hối hả bước nhanh.