Chương 83: Dân Dĩ Hy Vi Quý, Nhân Dĩ Hy Vi Bản! (Cầu Thu Tàng, Cầu Đề Cử) - Chôn Sống Đại Thanh Triều

Trang chủ › Chôn Sống Đại Thanh Triều › Chương 83

Chương 83 - Dân Dĩ Hy Vi Quý, Nhân Dĩ Hy Vi Bản! (Cầu Thu Tàng, Cầu Đề Cử)

☰ DS Chương 📖 2,017 chữ

Thời gian trôi nhanh như ngựa chạy ngoài đồng. Chớp mắt đã sắp đến những ngày cuối năm thứ hai mươi lăm niên hiệu Vĩnh Lạc.

Sau khi “Hội nghị Yết Dương” kết thúc, thế tử Chu Hòa Thặng, người đang thay mặt triều đình nhà Minh trấn giữ nơi này, bận tối mắt tối mũi. Hắn khi thì chỉnh đốn đội thân quân Cẩm Y, khi lại lo toan đủ chuyện lớn nhỏ cho dân chúng.

Đúng là nhọc lòng đến bạc đầu!

Có thể nói, từ xưa đến nay, phàm ai ngồi vào địa vị như hắn, chưa từng có người nào thương dân hơn hắn.

Dĩ nhiên, nguyên nhân thật sự khiến hắn thương dân chẳng phải vì mấy ngày qua giả làm nho sĩ, giả đến mức nhập vai quá sâu. Mà là bởi dân ở đây ít quá!

Vật hiếm thì quý.

Dân chúng cũng vậy, càng ít càng quý.

Bây giờ hắn mới thật sự hiểu được câu “dân là quý, vua là nhẹ” của Mạnh Tử. Khi Mạnh Tử nói câu ấy, Trung Quốc vẫn còn đang ở thời Chiến Quốc. Cả nước đại khái chỉ có một hai nghìn vạn người, vậy mà lớn nhỏ có đến cả đống nước chư hầu. Một ông vua cai trị bên dưới chẳng có bao nhiêu dân, dân chẳng quý thì còn gì quý nữa?

Dân mà hết sạch, vua còn biết làm vua với ai?

Chu Hòa Thặng lúc này cũng rơi vào cảnh ấy. Triều đình dựng tạm đã mở cửa hoạt động, nhưng dân chúng dưới quyền cai trị lại chẳng có mấy người. Bởi vậy, ai nấy đều quý giá chẳng khác gì gấu trúc báu vật của quốc gia.

Dân đã quý như vậy, vị vua là Chu Hòa Thặng đương nhiên phải nhẹ đi.

Mấy ngày nay, hễ rảnh là hắn lại dẫn Đại Ba Linh đi loanh quanh vùng phụ cận huyện thành Yết Dương. Ban ngày, hắn xuống làng quê vận động, kéo dân về. Đến tối, hắn lại nắm tay Đại Ba Linh, thủ thỉ tâm tình, gắng sức sinh thêm người. Bận rộn đến nỗi cân nặng cũng nhẹ đi trông thấy!

Đó mới thật là dân quý, vua nhẹ.

Kiều Lâm ở phía tây huyện thành Yết Dương là một trong những nơi Chu Hòa Thặng tập trung hoạt động. Lý do có ba điều.

Thứ nhất, Kiều Lâm là một đô lớn, dân cư đông đúc, lại nắm tuyến vận tải đường thủy trên sông Bắc Khê, giữ vị trí vô cùng quan trọng.

Thứ hai, Kiều Lâm nằm rất gần huyện thành Yết Dương. Nếu không chiếm được nơi này, đến lúc Thượng Khả Hỉ kéo quân đánh tới sẽ sinh chuyện khó xử.

Thứ ba, Kiều Lâm nằm trong vùng đất trống giữa nhà Minh và nhà Thanh. Bên Chu Tam chưa chiếm nơi này, còn quân Thanh thì đã bỏ chạy từ lâu. Vì vậy, với Chu Hòa Thặng, đào được một người từ Kiều Lâm về là kiếm được một người!

Nếu có thể kéo cả hai tông tộc họ Kiều và họ Lâm ở Kiều Lâm lên đảo Yết Dương, số “dân quý” dưới tay Chu Tam sẽ lập tức tăng thêm hơn hai nghìn người.

Thế nhưng gần đây, gia chủ của hai họ Kiều, Lâm đều lâm trọng bệnh. Chu Hòa Thặng đã mang lễ vật đến thăm hai lần, vậy mà cả hai đều “bệnh nặng không tiếp khách”.

Dĩ nhiên, họ cũng không để hắn phải về tay không. Người ta tặng hắn mấy nghìn thạch bã mía.

Chẳng qua thứ ấy vốn không phải lễ vật họ định biếu. Chu Hòa Thặng không nhận những món quà hậu hĩnh mà họ chuẩn bị, chỉ đích danh xin chỗ bã mía còn lại sau khi ép đường.

Thời này, Quảng Đông và Phúc Kiến là những vùng sản xuất đường trắng chủ yếu của thế giới. Cuối đời nhà Nguyên, đầu đời nhà Minh, thợ làm đường Trung Quốc đã phát minh ra phương pháp dùng bùn vàng khử màu, nhờ đó sản xuất được loại đường trắng kết tinh thượng hạng. Hơn nữa, kỹ thuật này hiện vẫn chưa truyền ra ngoài.

Bởi vậy, đường trắng gần như là đặc sản riêng của Trung Quốc. Người châu Âu và người Ấn Độ tuy cũng có thể lọc đi lọc lại để làm ra đường trắng, nhưng cái giá phải trả đắt đến mức chẳng ai chịu nổi.

Nắm trong tay bí quyết sản xuất đường trắng, lại thêm sau trận đại loạn cuối Minh đầu Thanh, dân số Quảng Đông và Phúc Kiến suy giảm nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa người và đất được giải tỏa phần nào. Vì thế, nơi đây có thể dành ra rất nhiều ruộng đất để trồng mía, sản xuất thứ đường trắng mang lại lợi nhuận cực cao.

Thời này, đường trắng còn đắt hơn thịt bò rất nhiều, đúng là hàng xa xỉ.

Còn bã mía sau khi làm đường thì chẳng có mấy công dụng, chỉ có thể vứt đi. Chu Hòa Thặng đã muốn lấy, người ta đương nhiên vui vẻ cho không.

Nhưng mấy nghìn thạch bã mía thì cầm chân Chu Tam thái tôn được mấy ngày?

Chưa đến cuối năm, vào một ngày giữa tháng Chạp, Chu Tam thái tôn mặc áo Khổng Tử, đeo trường kiếm, mang theo chùy lựu đạn, sau lưng khoác khẩu súng hỏa mai, dẫn mấy chục thủ hạ ăn mặc gần giống mình đến dùng đức thu phục người.

Mục tiêu đầu tiên của hắn là lầu vây họ Lâm nằm bên bờ sông Bắc Khê.

Đó là nhà của Lâm tú tài, một tòa lầu vây hình tròn mới xây, tường đất nện bên ngoài bọc gạch. Lầu cao hai tầng, tầng trên mở rất nhiều cửa sổ nhỏ, có thể dùng làm lỗ bắn. Bên ngoài lầu vây còn có một con hào hộ thành nối thẳng với sông Bắc Khê.

Cách phía nam tòa lầu mới chừng hai ba trăm bước là một lầu vây cũ hình vuông, tường đất nện, tuy chỉ cao một tầng nhưng xây dựng vô cùng chắc chắn. Mặt ngoài cũng bọc gạch, có mở lỗ bắn.

Tòa lầu cũ nằm ngay bên bến thuyền họ Lâm, sát bờ Bắc Khê, nên không bị dỡ bỏ. Nó được dùng làm kho hàng và cứ điểm vòng ngoài cho lầu chính của họ Lâm.

Mỗi khi có khách đến, người ta thường đón khách nghỉ chân ở lầu cũ trước, rồi mới đưa vào lầu mới gặp gia chủ.

Chu Hòa Thặng đến lần thứ hai cũng không ngoại lệ. Hắn đứng chờ bên ngoài lầu cũ, đợi Lâm tú tài ra mặt.

Nhưng xem ra bệnh của Lâm tú tài quả thật rất nặng, vẫn chưa xuống giường được. Vì vậy, người ra đón hắn là một người em trai tên Lâm Như Hải.

Lâm Như Hải mặc một bộ đạo bào theo kiểu nhà Minh, trên đầu đội chiếc mũ khăn nho bằng sa đen, còn giấu bím tóc vào trong mũ rồi mới ra nghênh đón.

Khi Lâm Như Hải đến tòa lầu cũ của nhà mình, hắn trông thấy Chu Hòa Thặng đang đứng ngoài tường, nói chuyện với Đại Ba Linh và hai thiếu niên nho sinh còn chưa mọc râu.

Một thiếu niên hình như nhìn thấy Lâm Như Hải. Gã ghé tai nói gì đó với Chu Hòa Thặng. Vị đại thái tôn Chu gia luôn miệng nói lấy dân làm gốc lập tức cười ha hả, vẫy tay gọi Lâm Như Hải tới.

- Quý Lợi Hải, bộ đạo bào với mũ khăn nho này trông khá lắm. Mới may à? Bệnh của đại ca Tửu Quỷ Giang đỡ hơn chưa?

Chu Hòa Thặng vẫn thân thiện, gần gũi như mọi khi, gọi thẳng biệt hiệu của Lâm Như Hải.

Lâm Như Hải và hắn vốn là người quen cũ, suýt nữa cũng buột miệng gọi biệt hiệu của hắn. Nhưng đến giây phút cuối, gã vẫn kịp đổi sang cách xưng hô cung kính:

- Bái kiến thế tử gia. Đa tạ thế tử gia quan tâm. Bệnh của đại ca ta đã đỡ hơn rồi.

Mặt Lâm Như Hải đầy vẻ buồn rầu.

- Hôm qua huynh ấy chỉ nôn ra hai thăng máu, ít hơn hôm kia nửa thăng. Nhưng vẫn chưa xuống giường được.

- Ồ.

Chu Hòa Thặng gật đầu, quay sang Đại Ba Linh:

- Chị Linh, lấy thuốc uống ta chuẩn bị cho Tửu Quỷ Giang ra đây.

- Của ngài đây.

Đại Ba Linh bưng một vò nhỏ, hai tay trao cho Chu Hòa Thặng.

Hắn nhận lấy vò rượu, bóc lớp đất sét niêm trên miệng vò rồi tiện tay đưa cho Lâm Như Hải.

Lâm Như Hải vừa cầm lấy đã ngửi thấy mùi rượu thơm nức. Gã lập tức kinh ngạc:

- Rượu ngon quá! Thế tử gia, bệnh của đại ca ta là do uống rượu mà nôn ra máu. Ngài còn tặng rượu cho huynh ấy làm gì?

Chu Hòa Thặng cười đáp:

- Đây là thuốc uống, cũng có thuốc bôi ngoài. Cứ bôi thuốc ngoài trước, sau đó mới uống thuốc trong.

- Thuốc bôi ngoài?

Lâm Như Hải ngẩn ra.

- Uống rượu đến nôn ra máu mà cũng chữa bằng thuốc bôi ngoài được sao?

- Được chứ!

Chu Hòa Thặng chỉ vào bức tường bao của lầu cũ nhà họ Lâm bên cạnh.

- Quý Lợi Hải, ngươi xem kỹ bức tường này. Trước hết xem mặt ngoài, rồi vào trong xem tiếp. Kiểm tra xem có ai động tay động chân gì vào tường chưa.

- Việc này…

- Mau xem đi, nhìn cho kỹ. Xem xong là đại ca ngươi có thuốc chữa rồi!

- Thật… thật sao?

- Thật, thật. Mau đi xem, xem rồi ngươi sẽ hiểu.

Lâm Như Hải không biết Chu Hòa Thặng định giở trò gì, nhưng vẫn làm theo lời hắn, đi tới đi lui kiểm tra bức tường đất. Gã xem cả trong lẫn ngoài một lượt, thấy đó vẫn là bức tường trăm năm tuổi nguyên vẹn như cũ.

Sau khi kiểm tra xong mặt trong của bức tường, Lâm Như Hải bước ra khỏi lầu. Gã nhìn thấy Đại Ba Linh đang cầm một món đồ bằng đồng hình trụ, áp lên mặt ngoài bức tường cũ.

Món đồ ấy không lớn, một đầu phẳng lì, bên trên hình như có dính hồ nếp ướt nên có thể dán lên tường. Một thiếu niên mặc áo Khổng Tử dùng chiếc chạc gỗ chống dưới đáy món đồ đồng.

Lâm Như Hải nhìn mà chẳng hiểu gì. Đúng lúc ấy, Đại Ba Linh lên tiếng:

- Xong rồi.

Lúc này, Chu Hòa Thặng đã dẫn phần lớn thủ hạ cùng đám tộc nhân do Lâm Như Hải đưa tới lùi xa khỏi con hào bao quanh lầu.

Nghe Đại Ba Linh nói xong, hắn vừa vẫy tay vừa lớn tiếng gọi:

- Chị Linh, Chiếm Sơn, Hồng Khuê, châm lửa xong thì mau chạy lại đây! Quý Lợi Hải, ngươi cũng mau tới!

Lâm Như Hải không biết chuyện gì sắp xảy ra, nhưng rất nghe lời, lập tức co giò chạy về phía Chu Hòa Thặng.

Đại Ba Linh, Tô Chiếm Sơn và Triệu Hồng Khuê cũng theo sát phía sau, lần lượt chạy đến bên hắn.

Cả đám người đứng từ xa, ngây ngốc nhìn món đồ đồng dán trên bức tường trăm năm tuổi.

Phía sau món đồ đồng đang bốc khói. Xem ra dây cháy chậm đã được châm lửa.

Lâm Như Hải vừa nghĩ đến đây thì món đồ đồng kia bỗng hóa thành một đám khói lửa. Ngay sau đó, tiếng nổ long trời lở đất vang lên, khiến mặt đất rung chuyển.

Rồi Lâm Như Hải trơ mắt nhìn bức tường trăm năm tuổi của nhà mình đổ sập một đoạn lớn!