“Ầm ầm…”
Một quả búa lựu đạn nổ vang trên bãi đất trống bên ngoài lầu vây họ Chu!
So với loại búa lựu đạn hình vò rượu mà Trần Cận Nam và Khâu Huy từng trông thấy lần trước, thứ này “tiến bộ” hơn hẳn. Trước hết, đầu búa giờ đã ra dáng một chiếc búa thật sự. Chu Hòa Thịnh không còn phải dùng vò rượu để chữa cháy nữa. Hắn đưa mẫu gỗ cho những người thợ đúc tiền ở xưởng Đông Ngân, Đạt Hào. Họ dựa theo mẫu ấy làm khuôn, rồi đúc ra một đầu búa bằng đồng rỗng ruột, có thể chứa nhiều nhất bốn lạng thuốc nổ, cũng có thể bớt thuốc súng đường đi, thêm vào một ít mảnh đồng.
Vì thế, loại búa lựu đạn này không chỉ dùng để nổ tung, sát thương người khác, mà còn có thể cầm lên nện vỡ đầu kẻ địch. Một thứ dùng được hai việc, quả là món đồ tuyệt hảo để giết giặc Thanh, trừ Hán gian, khôi phục cơ nghiệp nhà Minh!
Hơn nữa, một khi thứ búa lựu đạn này được sản xuất hàng loạt, nó sẽ làm thay đổi cách đánh trận sau này.
Biết đâu cảnh binh lính xếp hàng đứng chịu đạn sẽ không còn xuất hiện trên chiến trường thế kỷ mười tám, mười chín nữa.
Cũng có thể, cảnh thường thấy nhất trong các cuộc chiến tương lai sẽ là binh lính dùng những chiếc ná hình chữ Y cỡ lớn để bắn búa lựu đạn! Sau này, biết đâu quân đội của Hoàng đế nước Pháp còn vác ná, xách búa đồng ra trận.
Dĩ nhiên, loại ná hình chữ Y ấy vẫn chưa chế ra được. Muốn làm thứ này, phải nhờ đến bí quyết chế cao su lưu hóa. Cao su lưu hóa không khó làm, nhưng hiện giờ Chu Hòa Thịnh chưa mua được cao su tự nhiên, đành tạm dùng máy bắn đá đối trọng thay thế.
Đồng thời, hắn còn tuyển hai, ba chục nghĩa quân có cánh tay lực lưỡng. Ngày nào bọn họ cũng xách những chiếc búa luyện tập nhồi đầy cát, ra ngoài thôn Cổ Trình tập ném.
Dạo này Chu Hòa Thịnh cũng tự mình luyện ném. Mỗi ngày hắn dành hẳn một canh giờ để tập. Thời gian còn lại phải lo sản xuất, đốc thúc việc học, rồi còn giao thiệp với những hào trưởng nhỏ như Mã Thành Long, Lý Hữu Tài và Lâm A Hổ. Hắn bận tối tăm mặt mũi.
Nói thật, làm một tay quân phiệt mới nổi trong buổi đầu dựng nghiệp chẳng dễ dàng chút nào!
- Ba vị thấy thế nào? Lúc này Chu Hòa Thịnh đang đứng sau một bức tường ngực đắp bằng bao cát. Hắn chỉ tay về phía trước, nơi mấy chục hình nộm rơm vừa bị búa lựu đạn thổi bay, giọng đầy đắc ý. - Một quả nổ tung cả đám, lợi hại hơn súng chân chim của các vị chứ? Lâm A Hổ, đại pháo của ngươi có bắn được đạn nổ không? Đạn nổ do ngươi bắn ra có uy lực thế này không?
- Hỏa Pháo Chu… thiếu chủ, thứ nhồi trong búa lựu đạn này không phải thuốc súng thường phải không? Uy lực xem ra lớn hơn thuốc súng bình thường mấy lần! Lâm A Hổ đã đổi cách gọi Chu Hòa Thịnh. Hắn không dám gọi biệt hiệu nữa, mà cung kính xưng là thiếu chủ.
Thấy con hổ dữ này đã chịu phục, Chu Hòa Thịnh lập tức ưỡn ngực, ánh mắt sáng quắc nhìn sang Lý Hữu Tài và Mã Thành Long.
Hai người vội cúi mình hành lễ, đồng thanh gọi:
- Thiếu chủ!
Chu Hòa Thịnh lập tức nở nụ cười. Cái “dữ” của hắn giờ đã lên một bậc mới. Không cần la hét đánh giết, chẳng cần chửi bới, thậm chí không phải làm mặt lạnh, người ta vẫn tự biết hắn lợi hại đến mức nào. Bởi trong tay hắn đang nắm thứ vũ khí mạnh nhất thế kỷ mười bảy, thuốc súng đường!
- A Hổ, ngươi đoán đúng rồi. Trong búa lựu đạn có pha thêm một loại thuốc súng mới, uy lực đặc biệt lớn. Thứ thuốc này do ta sáng chế, cả thiên hạ hiện giờ chỉ mình ta biết làm! Bên giặc Thát không có đâu, chúng chỉ còn cách đứng yên chịu nổ thôi!
Bên giặc Thát không có ư?
Vậy chẳng phải việc đánh đổ nhà Thanh, khôi phục nhà Minh thật sự có hy vọng rồi sao?
Lý Hữu Tài là tay đầu nậu muối lớn, làm việc lúc nào cũng cẩn thận. Hắn bèn hỏi thêm:
- Thiếu chủ, loại thuốc súng mới này có khó làm không? Cần những nguyên liệu gì?
Đây là bí mật quân sự!
Nhưng Chu Hòa Thịnh vẫn bằng lòng công khai “bằng sáng chế” trước mặt ba hào trưởng nhỏ này.
Hắn cười đáp:
- Nguyên liệu chính của thuốc súng mới là diêm tiêu và đường trắng!
- Đường trắng ư? Mã tú tài, tức Mã Thành Long, nghe vậy mắt sáng lên. - Chuyện này dễ thôi! Vùng Long Tỉnh Đô của chúng ta vốn nổi tiếng trồng mía, làm đường mà!
Ngoài làng chài Cổ Trình, Long Tỉnh Đô còn có những cánh đồng mía rộng lớn. Mỗi năm nơi đây sản xuất một lượng đường trắng rất lớn để đem bán ra ngoài.
Thời ấy, đường trắng còn đắt hơn thịt bò nhiều. Ở Đạt Hào, một cân đường bán được năm, sáu chục đồng tiền; đến Bắc Kinh hay Nam Kinh, giá còn lên tới hơn trăm đồng. Trồng mía làm đường vốn đã kiếm được rất nhiều tiền. Nếu đường trắng còn có thể biến thành “vũ khí”, giá của nó lại càng tăng vọt!
Chu Hòa Thịnh gật đầu, cười nói:
- Nguyên liệu của loại thuốc súng mới này tuy không rắc rối, nhưng pha chế vẫn khá phiền phức. Hơn nữa, nó mạnh quá, không thể dùng để bắn đạn súng hay đạn pháo. Vì vậy, thuốc súng đen vẫn không thể thiếu.
Ánh mắt Chu Hòa Thịnh lần lượt lướt qua Lâm A Hổ, Lý Hữu Tài và Mã Thành Long. Hắn nói tiếp:
- Các ngươi đã gọi ta một tiếng thiếu chủ, ta cũng đâu thể ôm hết món lời này cho riêng mình. Huống hồ ta làm việc lớn, chứ không phải hạng con buôn chỉ biết đến tiền!
Ba người nhìn nhau.
Thiếu chủ nói vậy là có ý gì?
Chẳng lẽ muốn dẫn bọn họ cùng kiếm tiền?
Vị thiếu chủ này quả thật rộng rãi hơn Đại lão Huy nhiều!
Cả ba đều nhìn Chu Hòa Thịnh với vẻ mong chờ.
Hắn vừa bấm ngón tay vừa nói:
- Gom diêm tiêu, tinh chế diêm tiêu, pha thuốc súng đen, pha thuốc súng đường, việc nào cũng là nghề cần truyền dạy. Ta có thể truyền nghề, nhưng phép tắc này các ngươi đều biết rồi chứ? Muốn học nghề thì phải bái sư!
Cả ba cùng gật đầu, nhưng chẳng ai quỳ xuống gọi sư phụ.
Chu Hòa Thịnh bật cười:
- Dĩ nhiên, ba người đều lớn tuổi rồi, ta không thể nhận các ngươi làm học trò. Mà có nhận thì cũng chẳng thể tự tay dạy hết. Trong ba họ các ngươi chắc có không ít đứa trẻ lanh lợi? Mỗi nhà chọn một trăm đứa đem tới đây. Tuổi không được quá nhỏ, từ mười hai đến dưới mười tám. Ta sẽ đích thân làm thầy của chúng.
Phép bái sư học nghề mà Chu Hòa Thịnh nhắc tới chính là những lệ cũ khắt khe của các phường hội phong kiến: học nghề ba năm, làm không công thêm hai năm; lời thầy và gia pháp được đặt lên hàng đầu; kẻ phản bội sư môn sẽ bị đuổi khỏi cửa, thậm chí bị xử theo lệ trong nghề.
Bởi vậy, hắn không thể dạy thẳng cho Lâm A Hổ, Lý Hữu Tài và Mã Thành Long. Cả ba đều là hào trưởng có danh có thế, không thể thật sự tuân thủ những quy củ thầy trò ấy. Cùng lắm, họ chỉ đưa lễ bái sư, nhận một mối quan hệ thầy trò trên danh nghĩa, chứ không thể học được nghề thật.
Muốn học nghề thật sự, chỉ còn cách chọn con em thiếu niên trong ba họ đến bái Chu Hòa Thịnh làm thầy.
Nói cách khác, ba trăm thiếu niên này sẽ phải làm không công cho Chu Hòa Thịnh suốt năm năm!
Không những làm không công, chúng còn phải học đủ thứ kỹ năng và kiến thức mà Chu Hòa Thịnh muốn truyền dạy. Có năm năm để từ từ uốn nắn, kiểu gì hắn cũng đào tạo ra được vài trăm “thanh niên nổi loạn” cho xem!
Ngoài ba trăm thiếu niên ấy, Chu Hòa Thịnh còn có sáu mươi thiếu niên binh của trại Thiên Vương. Đại Ba Linh cũng đã tuyển thêm bốn, năm chục đứa từ bảo Tĩnh Hải. Khâu Huy gửi tới hai, ba chục người.
Ngoài ra, Chu Hòa Thịnh còn định tuyển thêm con em các gia đình buôn bán ở cảng Hải Môn và đảo Đạt Hào đến học nghề, cố gom đủ năm trăm “thanh niên nổi loạn”.
Như vậy, xưởng gom diêm tiêu và xưởng thuốc súng của hắn sẽ chẳng còn thiếu nhân công!
Hắn còn có thể vũ trang cho đám người này, biến họ thành một đội quân công nhân. Công nhân có vũ khí mà đánh quân đội phong kiến thì chẳng phải sẽ quét sạch như gió cuốn lá khô hay sao?
Chu Hòa Thịnh vừa dứt lời, trong bụng Lâm A Hổ, Lý Hữu Tài và Mã Thành Long đều mừng rỡ. Cả ba lần lượt hành lễ, rối rít cảm tạ hắn.
- Thế thì tốt quá! Thiếu chủ chịu dạy bọn chúng, đúng là phúc của chúng!
- Đa tạ thiếu chủ truyền nghề. Thần sẽ về ngay để tuyển người cho thiếu chủ, bảo đảm gom đủ một trăm đứa!
- Ân nghĩa của thiếu chủ, trên dưới Thành Điền Đô chúng tôi nhất định ghi lòng tạc dạ!
Vùng Quảng Đông này chỉ mới yên ổn được vài chục năm. Sau những năm loạn lạc cuối triều Minh, mâu thuẫn giữa đất đai và dân số đã dịu đi, lương thực cũng khá dồi dào, nên dân chúng sinh con rất đông. Các họ lớn trong vùng nhà nào cũng có đầy thiếu niên trai tráng.
Đám trẻ ấy chưa làm nổi việc nặng của người lớn, nhưng ăn uống lại chẳng kém người trưởng thành. Nếu có thể đưa một phần chúng ra ngoài học nghề, các gia đình đương nhiên cầu còn chẳng được.
Thấy ba người đã thật lòng quy phục, Chu Hòa Thịnh cười đến mức không khép miệng lại được. Mỗi nhà trong ba nhà giao ra một trăm thiếu niên, vậy thì toàn bộ đất đai của Thành Điền Đô, Lũng Điền Đô và Long Tỉnh Đô đã nằm trong tay hắn.
Đến lúc ấy, cái danh quân phiệt cai quản năm làng của hắn mới thật sự đứng vững.
Nghĩ đến đây, nụ cười trên mặt Chu Hòa Thịnh chợt tắt.
- Ba vị, ta thật lòng xem các ngươi như người nhà. Nhưng các ngươi có thật sự xem ta là thiếu chủ hay không?
Đến lúc đưa điều kiện rồi!
Bản lĩnh thật sự làm sao có thể truyền không cho người ngoài?
Lâm A Hổ, Mã Thành Long và Lý Hữu Tài vội vỗ ngực cam đoan.
- Ngài chính là thiếu chủ của chúng tôi!
- Thiếu chủ có lệnh, A Hổ này không dám trái!
- Thiếu chủ, ngài cứ ra lệnh đi!
Chu Hòa Thịnh hài lòng gật đầu, cười nói:
- Tốt! Các ngươi đã nhận ta làm thiếu chủ, vậy cũng phải nhận cha ta, Thiên Vương Chu, làm chủ công. Nếu thế, chúng ta cùng góp sức, liên thủ với nhạc phụ ta là Đại lão Huy, cứu cha ta ra khỏi vòng vây trong thành của Quý Tự Đô!