Chương 44: Ngũ Thôn Quân Phiệt Chu Hòa Thịnh (Cầu Thu Tàng, Cầu Nguyệt Phiếu) - Chôn Sống Đại Thanh Triều

Trang chủ › Chôn Sống Đại Thanh Triều › Chương 44

Chương 44 - Ngũ Thôn Quân Phiệt Chu Hòa Thịnh (Cầu Thu Tàng, Cầu Nguyệt Phiếu)

☰ DS Chương 📖 1,922 chữ

Chu Hòa Thịnh dĩ nhiên chẳng phải tay vừa!

Bởi lúc này, hắn đã có đất riêng, có quân đội, thậm chí còn nắm trong tay cả một “xưởng quân khí”, chẳng khác nào một tay quân phiệt thực thụ!

Phụ thân hắn, Chu Cù Sam, vốn có hai địa bàn: Thiên Vương trại trên núi Đại Nam và Tĩnh Hải bảo dưới chân núi Đại Nam, gần vịnh Hải Môn. Nói là “bảo trại” cho oai chứ thật ra cũng chỉ là một ngôi làng. Thiên Vương bảo là làng sơn tặc, dân làng phần nhiều đều là bộ hạ cũ của Đường vương, theo Chu Cù Sam chạy khỏi thành Văn An.

Mấy hôm trước, Chu Hòa Thịnh còn nhận được tin giả rằng Thiên Vương trại đã bị Thượng Chi Tín đánh tan. Hắn bèn sai Tô Dũng Mãnh dẫn hơn trăm “đại quân” tới đó xem xét. Đến ngày thứ ba sau khi Dương Khởi Long rời làng Cổ Trình, toán quân ấy vừa “khải hoàn” trở về.

Có điều, gọi là khải hoàn cũng chẳng đúng lắm. Thiên Vương trại chẳng xảy ra chuyện gì, tất cả chỉ là một phen hú vía.

Còn Tĩnh Hải bảo là một ngôi làng hải tặc. Dân làng đều là thân quyến và bộ hạ cũ của Tô Đại Bụng, tức Tô Lợi. Sau khi Đại Ba Linh và Tô Dũng Mãnh đầu quân cho Thiên Vương bảo trên núi Đại Nam, những người ấy cũng dần dần tụ về Tĩnh Hải bảo.

Nhưng phần lớn bộ hạ cũ và thân quyến của Tô Lợi đều là người già, đàn bà trẻ con. Trai tráng thì gần như đã chết sạch trong chiến trận, chỉ còn thêm một đám trẻ con chưa lớn hẳn. Bởi vậy, nơi này chẳng tuyển được bao nhiêu lính.

Hơn nữa, đám “hải tặc” ấy nay cũng chẳng mấy khi ra biển. Bọn họ chủ yếu trồng trọt trên dải đất ven biển dưới chân núi Đại Nam mà sống qua ngày.

Đó là những năm đầu niên hiệu Khang Hy. Chưa thể nói thiên hạ đã thái bình thịnh trị, nhưng trong buổi giao thời Minh Thanh, dân số hao hụt quá nhiều, đất đai và con người hầu như không đến mức giành giật nhau. Trừ phi triều đình cố tình dời dân ven biển vào trong, còn không thì cày ruộng kiếm ăn vẫn khá dễ dàng.

Ngoài Thiên Vương trại và Tĩnh Hải bảo, Chu Hòa Thịnh còn được Đại lão Huy giao cho ba làng: Long Tỉnh đô, Lũng Điền đô và Thành Điền đô.

Ba nơi ấy tuy mang tên “đô”, tức đơn vị làng xã, nhưng trong mắt Chu Hòa Thịnh, kẻ từng quen với thời đại có đến một tỷ bốn trăm triệu đồng bào, dân số của ba làng này đặt vào vùng Triều Sán đời sau cũng chỉ ngang một ngôi làng.

Tổng dân số cả ba nơi cộng lại chừng ba nghìn năm sáu trăm người. Trong đó trẻ con chiếm một phần rất lớn. Trai tráng trưởng thành gộp lại chẳng biết có đủ sáu trăm hay không.

Vậy nên Chu Hòa Thịnh, tay quân phiệt đang cai quản năm làng Thiên Vương trại, Tĩnh Hải bảo, Long Tỉnh đô, Lũng Điền đô và Thành Điền đô, nom cũng có dáng một vị đại danh trấn cấp làng xã thời Chiến Quốc Nhật Bản.

Hơn nữa, quyền kiểm soát của hắn tại Long Tỉnh đô, Lũng Điền đô và Thành Điền đô vẫn còn khá lỏng lẻo. Bởi cả ba làng đều do một dòng họ duy nhất nắm giữ.

Long Tỉnh đô là họ Mã, Lũng Điền đô là họ Lý, Thành Điền đô là họ Lâm. Trai tráng trong làng đều cùng một họ, tụ tập trong những lầu vây lớn nhỏ, lại còn có vũ khí trong tay.

Chỉ cần tộc trưởng ra lệnh, mỗi họ đều có thể lập tức điều động một, hai trăm trai tráng, cố thủ trong lầu vây.

Vả lại, ba họ Mã, Lý, Lâm còn thông gia với nhau, kết thành một khối, cùng chung hơi thở. Trước khi nhà Thanh thi hành lệnh dời dân ven biển và cấm ra khơi, các dòng họ ở vùng Long Tỉnh đô, Lũng Điền đô, Thành Điền đô không chỉ có ba nhà này. Khi ấy, các họ thường xuyên đánh nhau vì tranh đất, giành nguồn nước.

Nhưng sau cuộc dời dân ven biển, dân số vùng ấy giảm mạnh. Đất đai và nguồn nước cũng chẳng còn khan hiếm, ba họ mới dần dần bắt tay với nhau.

Làm sao sống sót giữa thế lực nhà Minh còn sót lại, đứng đầu là Đại lão Huy, và quan phủ nhà Thanh mới là bài toán nan giải nhất của ba dòng họ.

Còn Chu Hòa Thịnh chính là bài toán mới nhất, cũng khó giải nhất mà ba vị tộc trưởng phải đối mặt!

Tam thái tôn họ Chu!

Đang yên đang lành làm sơn đại vương không chịu, hắn lại giương cờ hiệu Chu Tam thái tử, Chu Tam thái tôn. Hơn nữa, theo tin tức do con cháu họ Lý đi buôn muối lậu ở Phổ Ninh, Yết Dương truyền về, vị Chu Tam thái tôn vừa trở thành “quân phiệt năm làng” này hơn phân nửa là hàng thật giá thật!

Phen này đúng là họa diệt tộc!

Tại làng Cổ Trình, trong đại sảnh lầu vây nhà họ Chu, Chu Hòa Thịnh mặc một bộ đạo bào. Đó không phải áo của đạo sĩ, mà là kiểu áo dài của nho sinh đời Minh. Hắn đang nở nụ cười hiền hòa mà người ta chỉ thường thấy ở con chồn đang chúc Tết gà, nhìn ba vị tộc trưởng được Đại Ba Linh dẫn vào.

Tộc trưởng họ Mã là một tú tài, tên Mã Thành Long. Tuổi y chưa cao, dáng vẻ thư sinh, mặt mày trắng trẻo, nói năng tao nhã. Nhưng Chu Hòa Thịnh biết, vị thư sinh mặt trắng này chẳng phải hạng hiền lành.

Bởi nhà họ Mã ở Long Tỉnh đông người nhất trong ba họ, hơn nữa còn sở hữu nhiều súng kíp chân cu nhất.

Tộc trưởng họ Lý là một ông già tên Lý Hữu Tài. Trán lão cao, nom chẳng khác nào ông Thọ trong tranh, trên mặt lúc nào cũng treo nụ cười hòa nhã, đúng kiểu “hòa khí sinh tài”. Nhưng thái giám Bàng đã sớm nói cho Chu Hòa Thịnh biết, ông Lý Hữu Tài này thật ra là một tay đầu nậu muối lớn, thuộc loại hung hãn có tiếng.

Tộc trưởng họ Lâm trông chẳng khác gì một lão nông chất phác. Gương mặt bị nắng biển hun đen, vẻ ngoài thật thà, chẳng giống người ác.

Nhưng nhìn người không thể chỉ nhìn mặt. Tên thật của lão là Lâm A Hổ, biệt hiệu “Lâm Hổ”. Lão chừng ba, bốn mươi tuổi, là chỗ quen biết cũ của Tô Dũng Mãnh và Đại Ba Linh. Năm xưa, lão từng làm pháo thủ dưới trướng Tô Đại Bụng. Sau khi Tô Đại Bụng thất bại, Lâm A Hổ dẫn theo mấy người cùng đội, lấy trộm hai khẩu đại pháo rồi trở về quê nhà Thành Điền đô mai danh ẩn tích.

Bởi vậy, nhà họ Mã ở Long Tỉnh và nhà họ Lý ở Lũng Điền đều dựa vào súng kíp chân cu để phô trương thanh thế, chống lại quân Thanh. Còn nhà họ Lâm ở Thành Điền đô, nơi nằm xa về phía bắc nhất, lại gần thành Phổ Ninh do quan quân nhà Thanh kiểm soát, thì dựng thẳng hai khẩu đại pháo lên lầu vây!

Nhờ hai khẩu đại pháo ấy, Lâm A Hổ từng nhiều lần đánh lui quân Thanh đến “ép dời dân”. Trong ba họ Mã, Lý, Lâm, nhà họ Lâm là thế lực thiện chiến nhất.

Vì thế, Mã tú tài và lão Lý mới đẩy Lâm A Hổ ra phía trước, định dùng lão làm kẻ đứng mũi chịu sào.

Chu Hòa Thịnh thấy Lâm Hổ mang vẻ mặt đắc ý, bèn quyết định bắt đầu ra tay từ lão.

Hạ được Lâm Hổ, Mã tú tài và lão Lý sẽ chẳng dám công khai chống đối nữa.

Nghĩ vậy, Chu Hòa Thịnh sai Đại Ba Linh mang ra một bát thuốc súng đen dạng hạt mà mình vừa chế xong, đưa cho Lâm A Hổ xem.

- Cô cô, mang một bát thuốc súng ra cho anh A Hổ hạ hỏa đi!

- Cái gì? Dùng thuốc súng để hạ hỏa? Ngươi nói thế là có ý gì?

Lâm Hổ vừa nghe đã nổi giận, hai mắt trợn lên, tưởng chừng sắp sửa phát tác.

Đại Ba Linh mỉm cười, lấy ra một gói thuốc súng đen dạng hạt đã chuẩn bị sẵn. Nàng đổ thuốc vào chiếc bát sắt rỗng, rồi đẩy đến trước mặt Lâm A Hổ.

- A Hổ, trước hết cứ xem thử loại thuốc súng này thế nào.

- Cái này…

Lâm Hổ liếc qua, hai mắt lập tức sáng lên.

- Khá lắm! Hàng từ đâu ra vậy?

Dĩ nhiên là hàng tốt. Đây là thuốc súng đen dạng hạt, thứ Chu Hòa Thịnh đã tốn bao công sức mới chế tạo được. Muốn vo thuốc thành hạt, khó hơn loại thuốc súng bột rất nhiều.

- Châm lửa đi!

Chu Hòa Thịnh lúc này cũng chẳng buồn nói nhiều, lập tức sai Đại Ba Linh châm lửa.

Đại Ba Linh lấy ra một chiếc mồi lửa trông hơi giống điếu xì gà. Nàng rút nắp, thổi mấy hơi cho đốm lửa vốn đang âm ỉ cháy bùng lên, rồi xé một đoạn giấy dầu đang bén lửa, ném thẳng vào bát.

“Ầm” một tiếng, cả bát thuốc súng lập tức bùng cháy.

Thuốc súng gặp lửa, dĩ nhiên cháy dữ dội, khói trắng cuồn cuộn bốc lên.

Nhìn màu khói ấy, miệng Lâm A Hổ há tròn.

Khói càng trắng sạch, càng chứng tỏ thuốc súng tinh khiết. Thuốc càng tinh thì lửa càng bén, sức nổ càng mạnh, tạp chất lại ít, không dễ ăn mòn lòng pháo.

Chẳng bao lâu, bát thuốc súng đã cháy hết. Trong chiếc bát sắt đỏ lên vì nóng chỉ còn sót lại một nhúm cặn rất nhỏ.

- Tốt, tốt lắm! Đúng là hàng quý!

Lâm lão hổ là người trong nghề, dĩ nhiên đã nhìn ra điểm lợi hại. Lão nhìn Chu Hòa Thịnh, hỏi:

- Chu Pháo, đây là thuốc súng từ nước Hồng Mao đưa tới phải không?

Chu Hòa Thịnh bật cười.

- A Hổ, thứ này do chính ta phối chế đấy!

- Ngươi tự phối chế?

Mắt Lâm A Hổ suýt lồi khỏi tròng.

- Thật sao?

- Dĩ nhiên là thật. A Hổ, chẳng lẽ ngươi không biết ta giỏi luyện thuốc súng, lại tinh thông cách sử dụng đại pháo? Biệt hiệu Chu Pháo của ta chẳng phải cũng từ đó mà ra hay sao?

Đúng là nói khoác không biết ngượng!

Lâm A Hổ thầm nghĩ: Ai mà chẳng biết biệt hiệu Chu Pháo của ngươi có được là vì tính khí ngươi dữ như thuốc nổ!

Chu Hòa Thịnh đã đứng dậy. Hắn vẫy tay gọi cả Lâm A Hổ, Mã tú tài và lão Lý.

- Nào, đi theo ta. Còn thứ tốt hơn cho các vị xem!