- Xuất binh đi!
Vừa nghe nhắc đến chuyện xuất binh, ba người Lâm A Hổ, Mã Thành Long và Lý Hữu Tài đều lộ vẻ khó xử.
Quân Thanh vẫn hung hãn lắm!
Đánh trận ắt có người chết. Mà trai tráng của ba nhà cộng lại chẳng được bao nhiêu, đâu thể đem mạng người ra phung phí!
Cả ba im thin thít. Chu Hòa Thịnh lại tưởng họ đã nhận lời, chẳng buồn đôi co, quay sang hỏi Đại Ba Linh đứng bên cạnh:
- Cô cô, Long Tỉnh Đô, Lũng Điền Đô và Thành Điền Đô có bao nhiêu trai tráng, bao nhiêu súng hỏa mai có thể điều động?
Chuyện này làm sao giấu được Đại Ba Linh. Nhà họ Tô ở Tĩnh Hải Bảo vốn kết thân với nhà họ Mã ở Long Tỉnh Đô, nhà họ Lý ở Lũng Điền Đô và nhà họ Lâm ở Thành Điền Đô. Trai tráng của ba nhà có bao nhiêu, nàng chẳng lẽ lại không biết?
- Thiếu chủ, Long Tỉnh Đô có ba trăm ba mươi tám trai tráng, chừng ba bốn mươi khẩu súng hỏa mai. Lũng Điền Đô có hai trăm hai mươi người, hơn hai mươi khẩu súng. Thành Điền Đô có một trăm sáu mươi sáu người, hai mươi hai khẩu súng, ngoài ra còn hai khẩu đại bác.
Chu Hòa Thịnh nói:
- Cứ hai trai tráng lấy một. Súng hỏa mai cũng lấy một nửa. Đại bác thì để lại. Dao kiếm, giáo mác, cung tên, mỗi nhà tự lo. Lương ăn với thuốc súng không cần chuẩn bị… Cô cô!
- Có!
Đại Ba Linh biết Chu Hòa Thịnh sắp giao việc cho mình, vội chắp tay chờ lệnh.
- Tĩnh Hải Bảo có bao nhiêu trai tráng và súng hỏa mai?
- Tĩnh Hải Bảo có bảy mươi tư trai tráng, hai mươi khẩu súng hỏa mai. Trong số đó có mười hai người đang ở trong quân Quý Dữ Đô.
Đại Ba Linh thành thật đáp.
- Số còn lại, ta lấy hết!
Chu Hòa Thịnh chẳng hề khách sáo, giọng dứt khoát không cho cãi:
- Cô cô cũng phải theo quân, chờ ta sai dùng!
Chờ sai dùng ư? Ngươi định sai ta làm gì?
Đại Ba Linh liếc nhìn gương mặt nghiêm nghị của Chu Hòa Thịnh, rồi cung kính đáp:
- Tuân lệnh!
Nàng tỏ vẻ cung kính vâng lời như vậy chẳng qua là để làm gương cho mọi người. Thật ra, nhà họ Tô ở Tĩnh Hải Bảo vốn đã là một phần thế lực của Thiên Vương Trại. Một nửa trai tráng và súng hỏa mai trong nhà đã theo Chu Cù Sam cùng Chu Hòa Thịnh chinh chiến, nửa còn lại cũng luôn sẵn sàng nghe lệnh.
Chu Hòa Thịnh lại nhìn sang Lâm A Hổ, Mã Thành Long và Lý Hữu Tài. Ánh mắt hắn đã sắc lạnh hẳn.
Ba người không dám chống chế nữa, đành đồng thanh đáp lớn:
- Tuân lệnh!
- Tuân lệnh!
Lâm A Hổ nói:
- Thiếu chủ, A Hổ xin đích thân dẫn trai tráng trong tộc đến trước quân, dốc sức phục vụ ngài!
Chu Hòa Thịnh gật đầu:
- Tốt! Ba ngày sau, trai tráng của Long Tỉnh Đô, Lũng Điền Đô, Thành Điền Đô và Tĩnh Hải Bảo phải tập trung tại làng Cổ Trình!
Lần này, Long Tỉnh Đô, Lũng Điền Đô và Thành Điền Đô phải đưa ra ba trăm sáu mươi hai người. Tĩnh Hải Bảo đưa sáu mươi ba người, tính cả Đại Ba Linh. Thiên Vương Trại của Chu Hòa Thịnh cũng điều một trăm lẻ chín trai tráng, tính cả hắn. Ngoài ra còn có sáu mươi thiếu niên quân đến từ Thiên Vương Trại và Tĩnh Hải Bảo, có thể cùng lên đường.
Vậy là vị đại quân phiệt của năm làng, Chu Hòa Thịnh, lần này sẽ dẫn một “đại quân” năm trăm chín mươi tư người xuất chinh đánh huyện Yết Dương!
Sở dĩ hắn huy động nhiều người như thế không phải vì muốn tăng thêm phần chắc thắng trên chiến trường, mà là để sau khi thắng trận có thể chia được nhiều đất hơn.
Đó là kế trong túi gấm của quân sư Gia Cát, vị đang bị vây khốn trong thành Quý Dữ Đô. Đưa quân càng đông, công lao càng lớn. Công lao đã lớn thì đương nhiên được chia thêm địa bàn.
Ngay cả nơi nào nên chiếm sau khi thắng trận, quân sư Gia Cát cũng đã tính sẵn.
Huyện Yết Dương nằm giữa đất Triều Châu, không thể chiếm làm căn cứ. Phải lấy huyện Huệ Lai nằm khuất dưới chân phía tây núi Đại Nam. Khi ấy có thể dựa vào núi Đại Nam, theo con đường dựng thành cao, tích trữ lương thực, thong thả gây dựng thế lực.
Cứ âm thầm lớn mạnh là được.
Chỉ có điều, bằng chứng sắt đá chứng minh Chu Cù Sam chính là Chu Tam Thái Tử sắp được đưa thẳng vào Nam Thư Phòng của hoàng đế Khang Hy. Đến lúc ấy còn cần giữ kín đáo nữa sao?
…
Chu Hòa Thịnh nghĩ không sai. Hắn và ông bố hờ của mình giờ đã chẳng thể nào tiếp tục giấu mình được nữa.
Ở Đại Thanh, đã là Chu Tam Thái Tử và Chu Tam Thái Tôn thì làm sao sống kín tiếng cho nổi?
Hơn nữa, thân phận Chu Tam Thái Tử và Chu Tam Thái Tôn của hai người đã có chứng cứ vững như núi. Hoàng đế Khang Hy gần như đã muốn khắc tên họ lên cột trong Nam Thư Phòng rồi. Còn giấu giếm gì nữa?
Mấy ngày qua, những hành động của Đại Lão Huy cũng khiến Mễ Tư Hãn, vị đại thần khâm sai được cử đi đốc thúc quân vụ Quảng Đông và Phúc Kiến, đứng ngồi không yên.
Trong lúc Chu Hòa Thịnh bận rộn gây dựng cơ nghiệp, Đại Lão Huy cũng chẳng hề nhàn rỗi. Một mặt, y triệu tập đại quân, chuẩn bị đánh một trận lớn để giành lấy địa bàn Yết Dương, Phổ Ninh, Triều Dương, Huệ Lai cùng các nơi khác. Mặt khác, y phái quân bao vây huyện thành Triều Dương, lại đưa một nghìn quân tinh nhuệ theo đường thủy tiến đến vùng ngoài thành Quý Dữ Đô.
Đừng thấy Đại Lão Huy chỉ đưa ra vẻn vẹn hai nghìn quân mà lầm. Hai cánh quân họ Khâu vừa chạm trán quân Thanh lần đầu đã dùng hũ thuốc nổ Thiên Lôi!
Số lượng tuy chẳng nhiều, tổng cộng chỉ ném hơn mười hũ, nhưng cũng đủ khiến Đặng Quang Minh đang vây đánh Quý Dữ Đô sợ mất vía. Nếu không phải viên khâm sai đại thần sắp đến Quảng Đông, rất có thể y đã rút quân về rồi.
Quân Thanh ở thành Triều Dương còn thảm hại hơn.
Vùng quanh thành Triều Dương vốn đã nằm trong tay Đại Lão Huy. Quân Thanh chỉ còn giữ một huyện thành và ba pháo đài nằm gần thành. Vì quân họ Khâu không giỏi công thành nên trước nay vẫn chưa làm gì được bốn cứ điểm ấy.
Nào ngờ lần này quân họ Khâu lại dùng máy bắn đá ném hũ thuốc nổ. Chỉ trong một ngày, chúng đã đánh chiếm hoặc ép hàng cả ba pháo đài ngoài thành Triều Dương, giết hoặc bắt hai, ba trăm quân Thanh và dân tráng. Huyện thành Triều Dương lập tức biến thành một tòa thành cô độc, tình thế nguy ngập như trứng chồng lên đá.
Còn một chuyện khiến vị quan mới nhậm chức Mễ Tư Hãn càng cảm thấy tình hình giặc giã nghiêm trọng hơn. Đó là cuộc “đại điểm binh của Khâu Huy”.
Khâu Huy cũng ra lệnh cho các làng đô dưới quyền tuyển quân như Chu Hòa Thịnh. Chỉ có điều, dưới tay Khâu Huy có hơn trăm làng đô, đông hơn rất nhiều. Y lại không thể thu nhận môn đồ khắp nơi như Chu Hòa Thịnh, bởi nghề của y là nuôi vịt, chẳng đáng giá bao nhiêu.
Vì vậy, mệnh lệnh mỗi làng đô phải nộp năm mươi quân và mười khẩu súng được thi hành khá chậm, mà thanh thế lại quá lớn, tin tức khó lòng không lọt ra ngoài.
Tình hình các làng đô ấy cũng tương tự ba làng đô mà Chu Hòa Thịnh nắm được. Tất cả đều do các hào cường, tông tộc lớn thao túng. Trong số những gia tộc ấy, không ít kẻ bắt cá hai tay. Bên Đại Thanh, chúng có cả chi nhánh, thậm chí có nhà chính đặt ngay tại đó!
Bởi vậy, ngay khi dời nha môn khâm sai đốc thúc quân vụ Quảng Đông và Phúc Kiến đến trại Miên Hồ, Mễ Tư Hãn đã nghe tin Khâu Huy “đại điểm binh”. Y cũng lập tức biết huyện thành Triều Dương đang ngàn cân treo sợi tóc, vòng vây quanh Quý Dữ Đô thì khó lòng giữ nổi.
Hơn trăm làng đô, mỗi làng nộp năm mươi quân, cộng lại đã thành năm nghìn người! Mỗi làng còn phải nộp mười khẩu súng hỏa mai, tổng cộng là một nghìn khẩu. Cộng thêm quân bản bộ của Khâu Huy, chẳng phải sẽ thành tám nghìn đại quân với hai nghìn khẩu súng hay sao?
Mễ Tư Hãn là người hiểu việc quân, đương nhiên biết trận này khó đánh.
Y cũng đã nhìn rõ, Thế tử Bình Nam Vương Thượng Chi Tín quyết tâm nuôi giặc để giữ thế trọng yếu cho mình!
Ngay hôm trước ngày Mễ Tư Hãn đến trại Miên Hồ, Thượng Chi Tín đã lấy cớ quét sạch sào huyệt giặc ở núi Đại Nam, đưa toàn bộ quân Bát kỳ và quân Thanh thuộc phủ Bình Nam Vương đang đóng ở trại Miên Hồ đến Lâm Điền Đô và Mai Lâm Đô ở phía tây trại.
May thay, Tổng đốc Lưỡng Quảng Kim Quang Tổ và Tuần phủ Quảng Đông Lưu Bỉnh Quyền vẫn còn biết trung quân ái quốc. Hai người phái tổng cộng ba nghìn quân Thanh thuộc lực lượng thân binh của mình đến dưới trướng Mễ Tư Hãn nghe sai phái.
Nếu không, vị khâm sai đại thần đốc quân như Mễ Tư Hãn gần như sẽ rơi vào cảnh không có quân để điều động.
Tổng đốc Lưỡng Quảng và Tuần phủ Quảng Đông đã đứng ra trước, đám quan tướng bên dưới đương nhiên biết phải đứng về phe nào.
Mấy ngày sau, Đề đốc Quảng Đông Nghiêm Tự Minh cũng nhìn rõ tình thế. Y đích thân dẫn hai nghìn quân thân binh từ phủ Huệ Châu, nơi Đề đốc Quảng Đông đóng quân, đến trại Miên Hồ nghe lệnh.
Tiếp đó, Tổng binh trấn Triều Châu Lưu Tiến Trung, kẻ trước nay vẫn ôm quân tự làm thế lực riêng, cũng dẫn doanh quân trung quân của mình đến trại Miên Hồ. Xem ra y cũng đã hiểu thời cuộc!
Đại Thanh rốt cuộc vẫn phải thống nhất thiên hạ!
Cộng thêm quân của phủ Tục Thuận Công vốn đã đứng về phía Mễ Tư Hãn, vị khâm sai đại thần này cuối cùng cũng có hơn vạn quân trong tay để sai dùng. Dưới trướng y còn có bốn viên đại tướng là Nghiêm Tự Minh, Lưu Tiến Trung, Đặng Quang Minh và Trương Mộng Cát.
Dẫu Thượng Chi Tín có quyết tâm nuôi giặc đến đâu, bên Mễ Tư Hãn vẫn đã có hơn vạn quân tinh nhuệ.
Xem ra mọi chuyện đều nằm trong lòng bàn tay!
Lúc này, trong nha môn của khâm sai đại thần tại trại Miên Hồ, Mễ Tư Hãn đang ngồi ngay ngắn sau một chiếc bàn dài, miệng cười tủm tỉm nhìn đám văn quan võ tướng tụ tập dưới trướng mình.
Người cũng khá đông đấy chứ!
Văn quan có đạo Binh bị Triều Huệ Gia là Uông Đức Bình, Đồng tri phủ Triều Châu mới được thăng chức và đang tạm coi việc phủ là Phượng Minh Sơn, cùng huyện thừa huyện Yết Dương Ngô Tiểu Bảo, người đang tạm thay chức huyện lệnh.
Võ tướng còn đông hơn. Có hai viên Phó đô thống của phủ Tục Thuận Công là Đặng Quang Minh và Trương Mộng Cát, Đề đốc Quảng Đông Nghiêm Tự Minh, Tổng binh trấn Triều Châu Lưu Tiến Trung, cùng các viên Tham tướng trung quân dưới quyền Nghiêm Tự Minh và Lưu Tiến Trung như Trương Hải Dương, Lý Thành Công. Ngoài ra còn có các Tham tướng thân binh của Kim Quang Tổ và Lưu Bỉnh Quyền.
Kẻ nào kẻ nấy đều hăm hở muốn lập công, nom chẳng khác gì một đám trung thần của Đại Thanh!
Mễ Tư Hãn đưa mắt quét khắp đại sảnh trung quân, hài lòng gật đầu rồi cười nói:
- Các vị, nhờ hồng phúc của Hoàng thượng, hai tên đầu sỏ giặc ở Triều Châu là Khâu Huy và Chu Hòa Thịnh xem ra đã quyết tâm sắt đá, nhất định phải cứu Chu Tam Thái Tử trong thành Quý Dữ Đô rồi!
Đây là cơ hội ngàn năm có một. Chúng ta vừa hay có thể dùng kế vây thành nhử giặc. Đợi chúng tiến sâu vào rồi giăng mai phục, bắt gọn cả lũ!