Lúc Lưu Huyền Sơ và Dương Khởi Long rục rịch lên đường tới Quảng Châu, thì Chu Hòa Đản đang đứng trước tấm bản đồ treo trong thư phòng phía đông tại phủ thế tử lưu vong ở nội thành Quảng Châu.
Cái gọi là phủ thế tử lưu vong, thực chất chỉ là chi nhánh của phủ thế tử ở Yết Dương, đồng thời cũng là trung tâm quyền lực của cả căn cứ địa Quảng Châu.
Bấy giờ, Chu Tam thái tử vẫn còn mải “vui thú” bên Yết Dương, cho nên mọi việc lớn nhỏ ở Quảng Châu đều do vị thế tử thánh nhân là hắn quyết định. Đã muốn quản lý mười một huyện trong vùng căn cứ, đương nhiên cần một cơ quan đầu não rộng rãi hơn, và đó chính là phủ thế tử lưu vong này.
Phủ thế tử lưu vong của hắn vốn được đặt tại phủ thế tử cũ của Thượng Đạo Tín. Nơi này thuở trước lại chính là vương phủ của Tĩnh Nam vương, là một dinh cơ vô cùng nguy nga lộng lẫy, diện tích rộng thênh thang với số gian nhà đếm không xuể.
Dù có rộng đến đâu, một mình vị đại thế tử như hắn cũng chẳng thể dùng hết ngần ấy phòng ốc. Thế là hắn bèn dọn cả dinh cơ của thân binh trấn, học đường tùy doanh của cẩm y thân quân, cho đến tận hành sư phủ của quân sư Gia Cát vào chung trong phủ thế tử này.
Chưa hết, vị thánh nhân họ Chu còn mở ngay một bệnh viện cùng một xưởng dược phẩm nhỏ chuyên sản xuất hoạt chất tỏi bằng phương pháp chưng cất ngay trong phủ. Mọi việc giao phó cho Đại Ba Linh và Thương Tỉnh Tắc Ô cùng gánh vác, nhờ thế hắn vừa lo được công vụ của phủ, vừa tiếp tục làm một vị đại thánh nhân chuyên nghề cứu đời chữa bệnh.
Bây giờ, Chu Hòa Đản đâu chỉ là Định vương thế tử, Trung thư lệnh, Chỉ huy sứ Cẩm y vệ hay Nguyên Nho đại học sĩ nữa, mà hắn đã trở thành Chu thánh nhân của đạo Nho.
Đây là hạng người có thể đường hoàng thêm chữ “tử” phía sau họ của mình!
Mà thánh nhân trị nước, tất phải lấy đức thu phục lòng người. Thế nên sau khi chiếm được thành Quảng Châu, hắn không hề vội vã càn quét mở rộng bờ cõi ra các vùng xung quanh, mà chọn cách thực hiện chính sách nhân đức trước.
Tất nhiên đất đai cũng đã thu về một phần: phía bắc chiếm hai huyện Tăng Thành và Tòng Hóa; phía đông chiếm hai huyện Tân Ninh và Đông Quản; phía tây chiếm huyện Tam Thủy; lại thêm hai huyện Tân Ninh và Hạc Sơn ở tuyến nam. Cộng với bốn huyện Thuận Đức, Hương Sơn, Phiên Ngung và Nam Hải đã chiếm được trên đường tiến đánh Quảng Châu lúc trước, tính ra hắn đang kiểm soát tổng cộng mười một huyện.
Đó chính là mười một huyện của vùng đồng châu thổ Châu Giang đấy!
Cho dẫu đã bị Thượng Khả Hỉ giày vò suốt hơn hai mươi năm trời, số dân tổng cộng trong mười một huyện này vẫn vượt qua con số một triệu hai trăm nghìn người.
Tính bình quân ra, mỗi huyện đều có trên dưới mười vạn nhân khẩu, thử hỏi Bình Dương quận vương Trịnh Kinh ở Đài Loan sở hữu bao nhiêu dân Hán? Chỉ vỏn vẹn hai mươi vạn, tức là chưa bằng hai huyện của vùng châu thổ này.
Còn lão Đại Huy ở vùng Triều Châu chỉ có vẹt vẹn mấy chục vạn dân, tính ra cũng chỉ ngang một huyện ở đây mà thôi.
Chỉ cần ngồi tính sơ số nhân khẩu, cũng đủ thấy ván bài mà hắn vừa thắng ở Quảng Châu lớn đến nhường nào.
Thế nhưng, dân số vượt quá một triệu người thì độ khó trong việc quản lý và cai trị cũng tăng lên gấp nhiều lần.
Trước kia ở đảo Yết Dương, hắn chỉ phải cai quản vài vạn dân với mấy chục hương thôn. Còn bây giờ, quản lý hơn một triệu con người đồng nghĩa với việc cai quản mấy chục thành trại cùng hàng nghìn hương thôn đấy!
Đừng nói chi đến chuyện vươn vòi bạch tuộc của chính quyền xuống từng ngõ ngách hương thôn để gom hơn một triệu con người này lại thành một khối vững chắc. Chỉ riêng việc làm cho ra lẽ dưới ấy rốt cuộc có bao nhiêu hương thôn, mỗi nơi có bao nhiêu dân đinh, bao nhiêu ruộng đất, cùng với vị trí đại khái của chúng, đã là một công trình khổng lồ rồi.
May thay, hắn nay đã là thánh nhân trong tay nắm giữ đủ thứ bùa phép: từ đạn xuyên tường, hoạt chất tỏi, cho đến sáu nguồn lợi lớn gồm ao đạm tiêu, rượu mía, đường trắng tinh luyện, đất phong của Bình Nam vương phủ, vùng đất ngoài biên giới giáp biển, cùng thương cảng Ma Cao để mà ban phát. Hắn còn quét sạch gần như tận gốc nhà Thượng Khả Hỉ, kẻ có thù sâu như biển với người Quảng Đông. Hơn nữa, trong quá trình chiếm lấy Ma Cao và vào chủ Quảng Châu, hắn đã thu nạp hàng chục vạn tráng đinh cùng bá tánh trong thành vào dưới quyền, đặt họ dưới sự quản lý trực tiếp của phủ thế tử.
Bằng không, đời nào hắn có thể trong chưa đầy hai tháng mà nắm rõ như lòng bàn tay mấy vấn đề nan giải ấy.
Và giờ đây, trên tấm bản đồ mười một huyện Quảng Châu và Triệu Khánh đang trải trước mặt Chu Hòa Đản, Gia Cát Tam Hòa, Quách Hữu Đức và Đại Ba Linh, từng tên hương thôn, vị trí đại khái của từng tòa thành trại, thôn trấn, bến phà, cùng tình hình ruộng đất và nhân khẩu của mỗi nơi đều được chú thích rành mạch, rõ ràng.
Một tấm bản đồ chi tiết nhường này, đừng nói là triều đại nhà Thanh, mà ngay cả Thượng Khả Hỉ ngồi trấn thủ Quảng Châu hơn hai mươi năm trời cũng chưa từng được thấy bao giờ.
- Thế tử gia, hiện tại trong toàn cõi Quảng Châu chỉ còn ba huyện Tân Hội, Thanh Viễn và Long Môn là chưa thu phục, còn mười huyện kia cùng với huyện Hạc Sơn thuộc phủ Triệu Khánh đều đã nằm trong lòng bàn tay của phủ thế tử chúng ta. Theo kết quả kiểm kê, trong mười một huyện này có tổng cộng ba mươi tám thành trại, một trăm tám mươi sáu trang viên của phiên vương, một nghìn không trăm năm mươi tám hương thôn, hơn hai nghìn đại tộc cùng ba dải hoang mạc ngoài biên giới. Tổng số đinh nam là hơn ba mươi vạn, nhân khẩu là một triệu một nghìn, ruộng đất canh tác lâu năm hơn ba triệu mẫu, đất hoang dễ phục hồi hơn hai triệu mẫu.
Kẻ đang đứng báo cáo tình hình rà soát mười một huyện với Chu Hòa Đản không ai khác chính là sư gia Quách Hữu Đức, người lúc nào cũng mở miệng "ni liễu ni liễu". Trong chiến dịch tiến đánh Quảng Châu lần này, y cùng Đại Ba Linh cùng nhau quản lý hậu cần tam quân. Đại Ba Linh quản tiền quản tài chính, còn y lo chuyện vặt vác chạy vạy. Công trình đại tung tích rà soát mười một huyện này dĩ nhiên rơi vào mục "việc vặt", thế nên Quách sư gia đành phải gánh vác lấy.
- Đã tra xét rõ ràng hết chưa? - Chu Hòa Đản nhìn đống sổ sách chất cao ngất ngưởng trên mười một chiếc bàn Bát Tiên bên cạnh bàn bản đồ, nhíu mày hỏi lại một câu.
- Thế tử gia cứ yên tâm, thần đã sai người cẩn thận kiểm đếm, chắc chắn không chệch đi bao nhiêu đâu, Quách Hữu Đức đắc ý thưa, Lần này thần áp dụng phương pháp để các huyện tự kiểm tra kết hợp chéo với nhau, không dùng đến một viên quan lại nào từ Triều Châu sang ép người, mà để chính người Quảng Châu tự tra lấy. Thần lệnh cho mỗi huyện tự kiểm kê một lượt, sau đó ngẫu nhiên điều động người của huyện khác đến phúc tra. Hơn nữa, các chức quan huyện tạm quyền cùng sai dịch đều được tuyển chọn từ các huyện lân cận thuộc phủ Quảng Châu và Triệu Khánh, lại thêm người có quân tịch ở Quảng Châu nữa. Vừa quen thuộc tình hình bản địa, lại không có quá nhiều vướng bận ruột rà với hào phú địa phương, cho nên việc làm ăn vô cùng suôn sẻ, đắc lực.
Cái gọi là “người có quân tịch ở Quảng Châu” mà Quách sư gia nhắc đến, chính là những tráng đinh tại trạm kiểm soát Quan Giáp cùng đám dân tị nạn ở Quảng Châu từng được hắn biên vào quân tịch trong quá trình tiến vào Quảng Châu, đó là những kẻ vô sản từng bị Thượng Đạo Tín đuổi cổ khỏi thành.
Bọn họ giờ đây đều đã được an gia lập nghiệp ngay trong thành Quảng Châu, còn được đưa vào biên chế quân tịch của phủ thế tử, lại được phủ lo cho từ cái ăn cái mặc cho đến chỗ ở, tự nhiên trở thành đám tay chân trung thành tuyệt đối của Chu Hòa Đản.
- Làm tốt lắm! Mới có hơn một tháng mà đã thu xếp ổn thỏa một việc gai góc nhường này, quả thật không dễ chút nào! - Chu Hòa Đản tỏ vẻ vô cùng hài lòng, cười gật đầu, Giữa người Quảng Châu, Triều Châu và người Khách Gia xưa nay vốn có nhiều mâu thuẫn. Chúng ta muốn quản cho tốt chốn Quảng Châu này, bắt buộc phải biết cách làm kẻ đứng giữa xoa dịu, phải biết dùng người Quảng Châu để trị người Quảng Châu.
Thực ra, số quan văn theo chân Chu Hòa Đản từ Triều Châu sang vốn chẳng đáng là bao, đời nào đủ sức tiếp thu toàn bộ mười một huyện của căn cứ địa Quảng Châu.
Kiếp này Chu Hòa Đản sinh ra và lớn lên ở Quảng Đông, còn kiếp trước lại là người Triều Châu chính cống đời đời kiếp kiếp. Thế nên hắn quá rành rẽ ân oán tình thù giữa ba tộc người Quảng Châu, Khách Gia và Triều Châu ở mảnh đất này, đương nhiên cũng hiểu tường tận những mối quan hệ ngầm của các đại gia tộc có thế lực dưới trướng ba nhóm người ấy.
Hắn thừa biết muốn cai trị Quảng Đông cho suôn sẻ, bắt buộc phải cân bằng lợi ích giữa ba tộc người cùng các đại tộc hùng cứ một phương. Gáo nước phải múc cho đều tay, không thể quá nghiêng về người Triều Châu, vả lại người Triều Châu vốn rất hay ôm đoàn che chở lẫn nhau, nếu từ đầu đã dùng quá nhiều người Triều Châu để trị Quảng Châu, thì chẳng mấy chốc chốn quan trường Quảng Châu sẽ biến thành cõi riêng của người Triều Châu mất thôi.
Đó chính là lý do hắn để Quách sư gia, một người Thiên Tân, làm tổng quản dân vụ Quảng Châu, đồng thời giao trọng trách cho y cất nhắc thật nhiều người bản địa Quảng Châu lên cai quản các huyện.
Thêm nữa, Chu Hòa Đản cùng phủ thế tử muốn hòa giải mâu thuẫn giữa ba nhóm Quảng Châu, Triều Châu và Khách Gia, trước tiên phải giải quyết cho được hai bài toán hóc búa.
Thứ nhất là vấn đề ruộng đất.
Thứ hai là vấn đề học tịch.
Trong lịch sử, những cuộc tranh chấp triền miên giữa ba tộc người Quảng Châu, Triều Sán và Khách Gia suy cho cùng cũng chỉ xoay quanh hai thứ: đất đai và học tịch!
Trong xã hội nông nghiệp, chuyện ruộng đất chính là vấn đề quyền được sinh tồn!
Còn học tịch, thứ gắn liền với hộ tịch để đi thi khoa cử, đương nhiên chính là quyền được phát triển!
Hơn nữa, vùng Quảng Đông vào đầu triều Thanh vẫn đang là một xã hội trọng tông tộc. Tông tộc thời bấy giờ không chỉ đơn thuần là nơi tụ họp cúng bái tổ tiên vào dịp lễ tết, mà là một đơn vị sinh tồn và phát triển hoàn toàn thực tế. Đất đai ở Quảng Đông hầu hết đều thuộc sở hữu tập thể của tông tộc, và mỗi dòng họ đều sẽ trích ra một phần đất gọi là học điền để nuôi dưỡng con cháu ăn học, đặng bề bước vào con đường khoa cử.
Những người trong tộc hễ đỗ đạt làm quan, đương nhiên sẽ phải đứng ra tranh giành quyền lợi cho họ tộc mình.
Thế nên, Chu Hòa Đản muốn thuần phục hơn hai nghìn đại tộc ở Quảng Châu, không còn cách nào khác ngoài việc ra tay từ hai chữ “ruộng đất” và “học tịch”.
Nghĩ đến đây, Chu Hòa Đản mỉm cười quay sang bảo Gia Cát Tam Hòa, Quách Hữu Đức và Đại Ba Linh:
- Đã nắm trọn trong tay mười một huyện Quảng Châu rồi, vậy thì bây giờ có thể bắt tay vào việc cai trị được rồi. Chỉ cần trị an mười một huyện này thành một thế giới đại đồng "thiên hạ vi công", thì chuyện phản Thanh phục Minh có khác gì trở bàn tay!
Vừa nghe đến đây, quân sư Gia Cát liền hơi nhíu mày:
- Thế tử gia, việc trị nước an dân vốn thiên vạn mối, không biết nên bắt đầu từ đâu trước?
- Đương nhiên là giáo dục! - Chu Hòa Đản đáp gọn, Phải lo giáo dục trước, rồi mới có nhân tài. Có nhân tài trong tay, khi ấy ta mới đem chủ trương của mình ra thực thi, ắt sẽ đạt được kết quả gấp đôi với công sức bỏ ra chỉ bằng một nửa.