Khi Chu Hòa Phàn tuyên bố đêm nay muốn ngủ tại thôn Hoàng Phủ, thì bên kia chiến tuyến, Thượng Chi Tín đang dẫn hai trăm tinh kỵ, hơn hai mươi đứa em, cả nghìn lão gia binh, cùng với hơn nghìn quân của Tằng Khởi Chiêu vừa rút về từ Hổ Môn khẩu, bố phòng dọc khu vực Hoàng Phủ đô và thôn Hoàng Phủ.
Phía đông thành Quảng Châu phủ này có không ít chỗ mang tên "Hoàng Phủ". Giữa dòng Châu Giang có một đảo Hoàng Phủ, chính là nơi về sau này lập ra trường Quân hiệu Hoàng Phủ.
Phía bắc đảo Hoàng Phủ là một cái Hoàng Phủ đô, một hương đô khá lớn. Cả một đoạn bờ sông dài ngoằng trên bờ bắc Châu Giang đều là địa bàn của Hoàng Phủ đô.
Bởi phía nam thành Quảng Châu có pháo đài chùa Từ Độ, phía bắc có pháo đài Tứ Phương trên núi Việt Tú, còn phía nam và phía tây thành đều giáp mặt sông, rất khó đánh. Chỉ có phía đông thành tương đối bình khoáng, lại chẳng có chỗ hiểm yếu nào, nên đó là hướng tấn công tốt nhất của quân địch.
Mà một phần bờ sông thuộc Hoàng Phủ đô lại chính là điểm đổ bộ lý tưởng nhất, vì quanh vùng này có mấy cảng cá và bến chở hàng, thuận tiện cho người và hàng hoá lên bờ.
Phía tây đảo Hoàng Phủ có đảo Hoàng Châu, trên đảo còn có một thôn Hoàng Phủ, cũng lấy chữ Hoàng Phủ mà đặt tên, hồi xưa còn là một "thôn thương mại quốc tế", từ thời Nam Tống đã là nơi tàu biển tụ họp.
Đương nhiên, do triều đình nhà Thanh hạ lệnh dời dân cấm biển, nên thương mại hải ngoại vốn thuộc về Quảng Châu đã dời hết sang Áo Môn, thôn Hoàng Phủ cũng từ một thôn thương mại quốc tế suy tàn thành một ngư thôn.
Nhưng lạc đà gầy vẫn to hơn ngựa! Huống hồ là một thôn thương mại quốc tế? Tuy triều đình nhà Thanh không cho tàu của người Tây lẫn tàu của người Hoa cập bến buôn bán ở thôn Hoàng Phủ, nhưng cũng không ép dân thôn phải dời đi.
Xét cho cùng, thôn Hoàng Phủ cách Linh Đinh dương ở cửa Châu Giang ít nhất cũng một trăm năm mươi dặm, mà phạm vi cấm biển dời dân ở Quảng Đông chỉ tính năm mươi dặm sát bờ biển trở vào. Thôn Hoàng Phủ không nằm trong phạm vi dời dân, tự nhiên chẳng phải dời, cũng chẳng ai đến đó đập phá cướp bóc đốt nhà, chỉ có cảnh ngày một vắng đi. Từ một thôn thương mại quốc tế tiêu linh thành một ngư thôn nhỏ… nhưng cảng bến, chợ buôn, dinh thự, kho bãi, nha môn còn sót lại từ thời phồn hoa xưa kia phần lớn vẫn còn, chỉ hơi tàn phá, xoay xở vẫn dùng được. Nếu những cơ sở này rơi vào tay Chu Hòa Phàn, thì đại quân bảy tám vạn người của hắn sẽ có ngay một chỗ đứng chân ngay trước cửa phủ Quảng Châu.
Nếu đại quân Chu Hòa Phàn đồng thời chiếm được cả Hoàng Phủ đô lẫn thôn Hoàng Phủ, thì Thượng Chi Tín chỉ còn nước rút về giữ ba điểm: thành Quảng Châu, núi Việt Tú và đảo Hải Châu.
Mà cái vụ cố thủ này, một nửa dựa vào địa thế hiểm yếu, một nửa dựa vào lòng người… thành Quảng Châu hiểm hay không thì chưa dám nói, nhưng lòng người chắc chắn không nghiêng về nhà họ Thượng.
Thượng Khả Hỉ ở Quảng Đông có mấy triệu kẻ thù, trong đó ít nhất hai ba chục vạn người đang ở trong thành Quảng Châu!
Còn quân số mà Thượng Chi Tín gom được lắm lắm cũng chỉ hơn vạn người… vừa phải phòng nội thành, vừa phải phòng ngoại thành, phòng hồi nào cho xuể!
Nên khi nghe tin đại quân Chu Hòa Phàn từ hướng đông thành Quảng Châu ầm ầm kéo tới dọc sông Châu Giang, Thượng Chi Tín lập tức quyết định liều lĩnh xuất thành, bố phòng tại Hoàng Phủ đô và thôn Hoàng Phủ.
Còn phía đông thôn Hoàng Phủ và đảo Hoàng Phủ ở phía nam Hoàng Phủ đô thì vì quân lực thật sự không đủ, đành bỏ trống không phòng thủ.
Bây giờ, quân Thanh ở Quảng Đông rốt cuộc cũng đã nếm được mùi vị thiếu binh… cả lũ gộp lại chỉ vài vạn người, đối phó với bọn phản tặc chỉ có mấy nghìn mấy trăm cốt cán thì thừa sức.
Nhưng Chu Hòa Phàn bây giờ đã huy động được mấy vạn tráng đinh, lại còn cấp cho họ những thứ vũ khí tương đối tiên tiến… bầu trời Quảng Đông, đã đổi rồi!
Thượng Chi Tín ra lệnh cho Tằng Khởi Chiêu, vị hổ tướng rút về từ Hổ Môn khẩu, mang hơn nghìn người bố phòng tại thôn Hoàng Phủ.
Còn hắn thì dẫn một nghìn lão gia binh, hai trăm tinh kỵ và hai mươi hai đứa em ruột, em chú bác thuộc chữ "Chi", bày trận dọc bờ Châu Giang của Hoàng Phủ đô.
Hắn đặt trung quân của mình trên bờ Châu Giang của Hoàng Phủ đô, chiếm lấy một ngôi Long Vương miếu rất đổ nát. Long Vương miếu tuy hơi xập xệ, nhưng địa thế còn khá cao… không cao một chút sợ lụt lớn cuốn trôi, nước lớn mà cuốn trôi Long Vương miếu thì mất mặt lắm!
Lúc này, Thượng Chi Tín được một lũ lão gia gần như đã lẫn và đám em nhỏ không biết trời cao đất dày xúm quanh, đứng ngoài cửa chính Long Vương miếu, nhìn đoàn thuyền rộn ràng trên mặt sông, lòng đắng ngắt!
Cái gã Chu Tam thái tôn này là giả… là do hắn cùng Ngô Ứng Hùng, Dương Khởi Long bày ra để dệt nên, tôi nuôi giặc để tự tôn mình.
Nào ngờ con giặc ấy lớn nhanh thế, mới nuôi có nửa năm, sao đã lĩnh mấy vạn người đến đánh Quảng Châu rồi?
Đây còn là nuôi giặc để tự tôn gì nữa? Rõ ràng là nuôi hổ để rước họa!
Mà Thượng Chi Tín cũng chẳng dám nói chuyện này với ai, đành ôm bụng âm ỉ một mình… việc này nếu để lão phụ thân bất hiếu kia của hắn biết, chắc chắn một đao chặt đứt đầu hắn cho rồi!
- Thế tử gia, ngài xem kìa… phản tặc xuất binh rồi, chia thành hai đoàn thuyền đi hướng đảo Hoàng Phủ và thôn Hoàng Phủ, hình như không tiến về phía ta.
- Sao lại không tiến về phía mình? Lão phu còn đang định giết thêm mấy tên binh đinh nhà Chu cho đã tay!
- Lão Trương, ông sáu mươi rồi đấy nhỉ? Còn nổi cái đao lên được không?
- Hừ, giết mấy tên ô hợp binh nhà Chu thôi mà…
- Thế tử gia, ngài mau hạ lệnh xuất kích đi! Không thì phản tặc bị tên hung nhân Tằng Khởi Chiêu giết sạch mất!
Đang phèng phỡi khoe khoang là mấy tên đầu mục lão gia binh, toàn những lão hán gian ngày xưa cùng theo Thượng Khả Hỉ phản nhà Minh đầu Hậu Kim.
Bọn này sau đó còn theo long nhập quan, đánh giết tới tận Quảng Đông, dựa vào máu của nhân dân lao khổ mà nhuộm đỏ chiếc đính trên đầu mình. Bây giờ tuy đều thành xương già, chưa chắc còn được cái khoẻ "lão mã liệt chí", nhưng cái ưu thế tâm lý thì vẫn còn, thật sự chẳng ai coi đoàn thuyền rộn ràng trên sông Châu Giang ra gì.
Năm xưa quân đội Lý Định Quốc còn đông hơn đám người trước mắt này nhiều! Hơn nữa Lý Định Quốc là anh hùng từng hai lần quật ngã vương chúa, chấn động thiên hạ, dù sao cũng hơn Chu Tam thái tôn chứ?
Nhưng cả Lý Định Quốc ấy, chẳng phải cũng bại trong tay quân nhà Thượng?
Nên Chu Hòa Phàn có gì mà ghê gớm! Hắn lợi hại cỡ nào mà hơn được Lý Định Quốc?
Tằng phó tướng Tằng Khởi Chiêu đóng tại thôn Hoàng Phủ cũng là một thành viên của đám lão hán gian này… năm nay hắn ngoài năm mươi, hơn ba mươi năm trước lúc theo Thượng Khả Hỉ làm hán gian mới chỉ mười mấy tuổi.
Có được địa vị ngày nay, một là nhờ Thượng Khả Hỉ đề bạt; hai là nhờ ân điển của hoàng đế đại Thanh; ba là đương nhiên nhờ hắn đánh trận giỏi!
Đừng xem hắn chỉ là một phó tướng của thuỷ sư lục doanh, nhưng cái đội thuỷ sư vịt ươn của hắn mà bàn về lực chiến đấu trên bộ, thì trong quân phiên Bình Nam vương cũng đứng hàng thứ nhất thứ nhì! Có tiếng là "hung tướng", người Quảng Đông tặng hắn một hoa danh gọi là "hung nhân Chiêu". Người khác là "mãnh tướng", "hổ tướng", hắn thì "hung tướng", khác nhau đương nhiên là có. "Mãnh tướng", "hổ tướng" có giới hạn đáy cao hơn, thường chỉ hung tợn trên chiến trường, lắm lắm chỉ giết mấy tên tù binh, hơi đồ sát vùng một chút…
Còn hung nhân Chiêu năm xưa đồ sát Quảng Châu là giết nhiều nhất, cuộc đồ sát hải cấm cũng là kẻ giết người nhiều nhất trong các tướng dưới trướng Thượng Khả Hỉ! Trong trận Vãn Thôn trước cuộc đồ sát hải cấm, hắn đồng dạng giết nhiều nhất, người tộc Vương thị và tông thất phiên Đường nhà Minh chết trong tay hắn đếm không xuể!
Rất nhiều anh em đồng tộc của Thiên Vương Chu và Hoả Pháo Chu đều bỏ mạng trong tay hắn!
Nhưng một tên hung nhân giết người như ngả rạ, giết người không chớp mắt như vậy lại rất hợp khẩu vị của Thượng Khả Hỉ.
Chẳng thế mà Thượng Khả Hỉ bảo hắn trấn giữ Hổ Môn khẩu!
Chính vì hắn thật sự đánh được, nên khi Chu Hòa Phàn xuất binh Quảng phủ cũng chỉ đành né hắn mà đi vòng… Chu Tam thái tôn trước khi thu nạp đám khổ lực ở quan thuế Quan Áp, lực lượng cốt cán chỉ có một nghìn hai trăm Cẩm Y thân quân, không chịu nổi mòn hao, đương nhiên chẳng liều mạng với mãnh tướng kiểu Tằng Khởi Chiêu.
Né đi một vòng ấy, lại khiến vị Tằng đại hung tướng tự cảm giác tốt lên nhiều. Né mình, tức là uy danh lẫy lừng, Chu Tam thái tôn cũng cảm thấy đánh không lại!
Nên kẻ hung thứ nhì Quảng Đông vẫn là hắn, Thượng Khả Hỉ là hung nhất Quảng Đông, hắn Tằng Khởi Chiêu tự nhiên là hung nhì Quảng Đông.
Đã hung đến thế, cần gì phải sợ mấy vạn ô hợp chi chúng của Chu Tam thái tôn!
Nên khi trông thấy ba bốn chục chiếc thuyền nhanh chỉ chở được ba mươi người đang chèo hết tốc lực hướng về phía mình, hắn vui đến độ miệng không khép lại nổi.
Vì hắn đã phát hiện ra, kẻ địch đến căn bản không biết đánh trận, bây giờ phí sức chèo tội như thế, đợi lát nữa lên bờ còn đánh đấm nổi không?
Xem ra đánh xong trận này, hắn Tằng Khởi Chiêu nên thăng tổng binh rồi!