"Chát chát chát! Binh binh binh!"
Khi tấm ván từ boong tàu Đại Đông Phương được bắc xuống bến tây Đạt Hào, tiếng pháo nổ trận này tiếp trận khác, cùng tiếng gông tiếng trống vang dội, đồng loạt dậy lên.
Chu Hòa San coi như đã dốc hết tâm tư để đãi bọn thực dân công ty Đông Ấn Anh Quốc sang thăm. Ngoài tinh dầu mạn-đà-la hoa do chính hắn chưng cất lấy, và rượu rum được tạo mùi ủ giả công phu ra, hắn còn tổ chức cho khách một buổi lễ đón tiếp khá bề thế.
Trên bến không những pháo nổ rần rần, gông trống vang trời, mà còn đứng chật những gã trai râu ria xồm xoàm, mình vải thường, đầu quấn khăn, kẻ nào cũng tay ấn chuôi kiếm, oai phong lẫm liệt.
Bên cạnh đó, mấy gian nhà kho sát bến đã được dọn sạch từ sáng sớm. Giờ đây trong kho bày biện đầy những bàn dài, trên bàn đã sẵn đồ nguội kiểu Triều Châu cùng từng vò rượu Đại Minh Xuân thượng hạng.
Ngoài bãi trống trước kho còn dựng lên những mái nhà tranh, các món nguội cứ thế được đám thiếu niên binh đóng vai người hầu rót mang ra liên tục.
Để đề phòng bọn mật thám Hà Lan thù địch người Anh quấy phá, Chu Hòa San còn bố trí xung quanh bến tây đủ một nghìn quân Cẩm Y thân quân thuộc binh chủng trĩchùy. Sau vòng cải cách quân sự kia, Cẩm Y thân quân chỉ còn lại ba binh chủng: trĩchùy binh, kỵ binh và pháo binh.
Trong đó trĩchùy binh là lực lượng chủ lực. Ngoài thủ lựu chùy trang bị tiêu chuẩn, trĩchùy binh còn được trang bị ba thứ binh khí: trường thương, đao bài và súng hỏa mai chân chim câu.
Thêm nữa, họ được biên chế theo đơn vị lĩnh, mỗi lĩnh sáu mươi người, gồm hai mươi "chùy binh" cầm trường thương, hai mươi chùy binh cầm đao bài và hai mươi chùy binh cầm súng chân chim câu. Để tiện cho việc huấn luyện và quản lý, ba loại chùy binh này mỗi loại lập thành một phó lĩnh đội riêng, chứ không hỗn hợp chung.
Kỵ binh Cẩm Y thân quân cũng sáu mươi kỵ một lĩnh, ai nấy đều mang thủ lựu chùy, tính ra gọi là trĩchùy kỵ binh chắc cũng được? Ngoài chùy, kỵ binh Cẩm Y thân quân còn trang bị súng ngắn cưỡi ngựa, đao ngựa và khiên. Những "cao thủ" nào có thể giương cung bắn tên trên lưng ngựa thì được trang bị thêm cung tên.
Dù vậy, phần lớn kỵ binh Cẩm Y thân quân chỉ có giống ngựa chân thấp của Vân Nam mà cưỡi. Nên chiến thuật chủ yếu của họ, ngoài cách "đánh du kích vừa phi vừa ném chùy", chính là phát động những đợt xung kích ngắn mà đột ngột, chuyên đâm sầm vào quân địch đã bị thủ lựu chùy đánh cho choáng váng quay cuồng.
Pháo binh Cẩm Y thân quân không dùng đại pháo Hồng Di, cũng không dùng Đại Tướng Quân pháo, mà trang bị Gia Cát cơ quan pháo cùng một loại pháo cối cỡ nhỏ gọi là trĩchùy pháo. Hai thứ vũ khí này đều dùng để bắn những quả nổ làm bằng thuốc ngọt.
Ngoài ra, toàn bộ thuốc ngọt trong Cẩm Y thân quân đều do đội pháo binh pha chế.
Sau khi thắng trận Tú Thủy khê, đảo Yết Dương tạm thời đã được đảm bảo an toàn, cha con nhà Chu Tam liền điều một phần binh lực qua Đạt Hào.
Lúc này tập trung tại Đạt Hào có mười sáu lĩnh "chùy binh", hai lĩnh "pháo binh" và hai lĩnh "kỵ binh", tổng cộng hai mươi lĩnh, khoảng một nghìn hai trăm người.
Một nghìn hai trăm quân này giờ đặt dưới quyền Nam trấn Cẩm Y thân quân của Lâm A Hổ, hôm nay gần như xuất động toàn bộ.
Kỵ binh phụ trách mặc phục Khổng Tử, đứng trang trọng trên bến đón tiếp khách người Anh. Pháo binh toàn là đám thiếu niên binh đầu óc lanh lợi, đóng vai người hầu bàn, tên nào tên nấy đều mang sẵn tinh dầu mạn-đà-la, chỉ chờ Chu Hòa San hạ lệnh là trút vào rượu rum Triều Châu của khách.
Còn chùy binh thì đóng vai "đao phủ thủ", chỉ chờ Chu Hòa San ném chén làm hiệu là xông lên tóm gọn lũ thực dân đế quốc.
Đồng thời họ còn phụ trách đoạt lấy thương thuyền vũ trang Đại Đông Phương. Dĩ nhiên, đám thủy thủ công ty Đông Ấn Anh Quốc còn ở lại trên tàu cũng sẽ được phần một ít rum cực phẩm có pha lượng nhỏ tinh dầu mạn-đà-la.
Ừ thì, Chu Hòa San, tay đấu tranh chống đế quốc tài tình này, lần này đã bày ra một bữa tiệc Hồng Môn cho bọn Charlie Goff, Smith cùng Jones, đám thực dân lão luyện kia.
Còn mục đích thì sao? Chủ yếu là trút nỗi uất hận giùm cho nhân dân Á, Phi, Mỹ La-tinh đang bị bọn thực dân Anh nô dịch, nhân tiện cướp luôn thương thuyền vũ trang Đại Đông Phương để đi đánh lén thành Ma Cao của người Bồ Đào Nha.
Người của hắn phải lên được bến tàu Ma Cao thì mới đánh lén thành trì chứ.
Bằng không cứ từ biển cưỡng đoạt bờ, mấy con thuyền gỗ nhỏ của Khâu Huy sợ là chịu không nổi đại pháo mười hai cân của người Bồ Đào Nha pháo kích.
"Uyên-khăm, uyên-khăm!"
Nhìn thấy Charlie Goff và hai gã Tây Dương ăn vận sang trọng bước xuống ván, Chu Hòa San lập tức nhiệt tình tiến lên đón, còn thốt ra thứ "tiếng Anh cổ" vừa mới hỏi được từ Kỷ Đại Bảo. Đương nhiên hắn biết nói tiếng Anh rồi, chỉ có điều tiếng Anh cổ thế kỷ mười bảy khác rất xa tiếng Anh đời sau cả về phát âm lẫn ngữ pháp. Tiếng Anh cổ khá nguyên thủy, từ vựng ít, ngữ pháp đơn giản; tiếng Anh mới thì phức tạp hơn, từ vựng nhiều đến chết đi được.
Nên hôm nay Chu Hòa San đã học trên bến với Kỷ Đại Bảo vài câu tiếng Anh cổ, giờ nói ra phát âm rõ ràng chuẩn chỉ, quả là có "thiên phú ngoại ngữ" mà.
Chào hỏi ba người Anh bằng tiếng Anh cổ xong, Chu Hòa San gọi Kỷ Đại Bảo lên làm "phiên dịch". Charlie Goff thì biết nói tiếng Hán, nhưng Smith và Jones không biết, còn thứ tiếng Anh cổ của bọn họ thì Chu Hòa San nghe cũng vất vả, đành phải trông cậy vào người phiên dịch vậy.
Đương nhiên, đến lúc then chốt hắn cũng thốt ra được đôi câu. Ví như hai bên hàn huyên một phen xong, hắn bèn nắm lấy cổ tay Charlie Goff rất nhiệt tình, cười nói bằng tiếng Anh cổ: "Câu-tu-rin-cây! Câu-tu-rin-cây, lẹt-ất-gâu!"
Thủy thủ thế kỷ mười bảy ai ai cũng là tửu quỷ. Thời bấy giờ bảo quản nước ngọt trên biển là vấn đề lớn, nên đám thủy thủ lênh đênh năm tháng trên sóng đều lấy rượu thay nước. Hơn nữa vì chưa có phương pháp tiệt trùng, rượu nhẹ dễ thiu, nên họ thường uống rum bốn năm mươi độ như nước lã.
Nên giờ vừa nghe có "rin-cây" (uống rượu), tên nào tên nấy tức thì nổi cơn thèm rượu, cũng chẳng nghi ngờ gì có cạm bẫy, tất cả lục đục đi theo Chu Hòa San hướng về "bãi rượu" đã chuẩn bị sẵn. Đi chưa được bao xa, họ đã ngửi thấy mùi rum nồng đượm phả vào mũi.
Mùi thơm của rượu rum này phần lớn là do pha chế ra, còn tài pha mùi và chiết tách tinh dầu hoa của Chu Hòa San, đặt vào thế kỷ mười bảy này, thì tuyệt đối là đệ nhất thiên hạ.
Vậy nên cả đám tửu quỷ Anh Quốc ngửi thấy mùi thơm ấy, bước chân cũng vội vàng hẳn đi, gần như chạy lững vào bàn tiệc.
Ba gã dương nhân Tây Dương là Charlie Goff, Smith, Jones, cùng Kỷ Đại Bảo đều theo Chu Hòa San ngồi vào bàn chính đặt trong một gian nhà kho.
Trên bàn đã sớm bày kín rượu thức ăn, còn bày cả những chiếc hải oản cỡ lớn. Dùng loại oản này mà uống rum mạnh thì kẻ tửu lượng kém chỉ cần một oản là ngã, khỏi cần đến tinh dầu mạn-đà-la luôn.
Khách và chủ vừa ngồi xuống, Chu Hòa San cũng không nói nhiều, chỉ cười hào sảng quay sang đồ đệ ngoan Tô Chiếm Sơn đang hầu bên cạnh: "Chiếm Sơn, dâng rượu ngon lên!"
Đây chính là ám hiệu.
Gọi là rượu ngon, tức là rượu rum thượng hạng đã trộn tinh dầu mạn-đà-la.
"Tuân lệnh!"
Tô Chiếm Sơn đáp một tiếng, rồi cùng hai tên thuộc hạ, mỗi người ôm một vò rượu lớn bước lên. Hắn tự mình rót cho Chu Hòa San, cho Đao Ba Vinh, Gia Cát quân sư, Bàng thái giám cùng Kỷ Đại Bảo đang ngồi chung bàn bồi tiếp. Rót đương nhiên là loại rum bình thường không thêm thuốc. Còn một thiếu niên binh khác thì chuẩn bị rum đã pha thuốc, múc cho ba gã dương nhân mỗi người một hải oản đầy.
Chu Hòa San đứng dậy, nâng hải oản lên, lớn tiếng hô: "Cạn ly! Chiết-ơ! Chiết-ơ!"
Nói rồi hắn thực hiện luôn nghi thức cạn trước làm gương.
Ba gã dương nhân thấy Chu Hòa San hào sảng thế, đương nhiên chẳng giả vờ nho nhã làm gì, đều ôm lấy hải oản của mình, tu ừng ực.
Rượu này thật không thể chê vào đâu, được Chu Hòa San pha chế theo tiêu chuẩn rum đen nặng đô của Cu-ba, vị rượu thơm ngào ngạt đậm đà, tuyệt đối là cực phẩm trong đám rum, chỉ có điều uống vào hơi "lên đồng" quá thôi.
Ba người Charlie Goff, Smith và Jones mỗi gã hết một oản lớn, chẳng mấy chốc đã choáng váng mụ mị, ai nấy đều cảm thấy mí mắt mình nặng trĩu. Thật đấy, buồn ngủ quá đi mất…