Chương 108: Áo Môn, Thảng Trứ Dã Trúng Thương! (Cầu Thu Tàng, Cầu Thôi Tiến) - Chôn Sống Đại Thanh Triều

Trang chủ › Chôn Sống Đại Thanh Triều › Chương 108

Chương 108 - Áo Môn, Thảng Trứ Dã Trúng Thương! (Cầu Thu Tàng, Cầu Thôi Tiến)

☰ DS Chương 📖 2,145 chữ

- Thế tử gia, đánh phủ Quảng Châu chẳng dễ đâu!

Người lên tiếng phản đối là Dương Khởi Long, vị hữu quân sư vừa nhậm chức. Hắn nói với Chu Hòa Thịnh:

- Thần vừa rời Quảng Châu, ít nhiều biết rõ tình hình trong ngoài. Tuy Thượng Khả Hỷ đã vét hết trai tráng dưới trướng mình đem đi, lão vẫn đề phòng Ngô Tam Quế, Tổ Trạch Thanh và những kẻ khác thừa cơ đánh úp Quảng Châu. Vì vậy, lão cho gọi hai tên giặc già Thượng Khả Ái và Thượng Khả Lạc, vốn đã về nhà dưỡng lão từ lâu, giao cho chúng thống lĩnh đám quân già, đàn bà trẻ con trong phiên phủ, cùng dân binh và đoàn đinh ở phủ Quảng Châu để giữ thành.

- Đồng thời, lão còn ban lệnh xuống các nơi, lấy cớ đề phòng quân ta cải trang đánh úp, cấm quân đội từ các trấn bên ngoài tiến vào thành Quảng Châu, trừ phi có lệnh viết tay của chính Thượng Khả Hỷ!

- Có chuyện ấy sao?

Vua Chu nghe vậy thì cuống lên. Vốn dĩ hắn còn trông mong Chu Hòa Thịnh lại giả làm thiên binh Bát Kỳ một phen. Nào ngờ bên kia đã đề phòng đến mức chẳng nể tình ai. Dẫu thiên binh kéo tới, chúng cũng không cho vào thành.

Thành Quảng Châu vừa cao vừa rộng, trên tường thành còn đặt sẵn rất nhiều đại bác. Đặc biệt, bốn pháo đài ở bốn phía quanh thành đều có đại bác Tây dương trấn giữ. Cứ cậy sức mà đánh thẳng vào e rằng chẳng phải chuyện dễ.

Nghĩ đến đây, vua Chu đưa mắt nhìn vị quân sư Gia Cát đang phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng, chẳng khác nào muốn đòi hắn hiến kế.

Khổ nỗi, trong túi vị quân sư Gia Cát lúc này chỉ có túi gấm, chứ chẳng có kế hay.

Đường đường là quân sư Gia Cát, sao có thể không có diệu kế? Chuyện ấy mà truyền ra thì còn ra thể thống gì nữa!

May thay, Gia Cát Tam Hòa đã lăn lộn giang hồ nhiều năm, biết rõ lúc nào nên chuyển đề tài, lúc nào cần kéo dài thời gian. Hắn bèn hỏi Dương Khởi Long:

- Dương quân sư, chẳng hay việc phòng thủ các thành chung quanh Quảng Châu ra sao? Như Hương Sơn, Thuận Đức, Tân Hội, Tân An, Tân Ninh, Đông Hoản, Phật Sơn và những nơi ấy, có trọng binh trấn giữ hay không?

Dương Khởi Long ngẫm nghĩ rồi đáp:

- Hương Sơn là vùng trọng yếu thuộc phiên phủ Bình Nam Vương. Ngoài thành có rất nhiều trang trại của phiên phủ, trong thành lại có chợ thông thương với người Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Dĩ nhiên nơi ấy có quân đồn trú. Thuận Đức và Đông Hoản đều có một trấn quân Lục doanh. Tuy phần lớn binh lực đã theo Thượng Khả Hỷ đi đánh phương đông, nhưng hai nơi ấy vẫn chẳng đến nỗi không còn quân phòng thủ.

- Còn Tân Hội, Tân An, Tân Ninh, Phật Sơn và những nơi khác, chắc chỉ có dân binh cùng đoàn đinh trấn giữ.

- Ngoài ra, ở cửa Hổ Môn, nơi khống chế đường thủy ra vào Quảng Châu, còn có một đạo tinh binh do tâm phúc của Thượng Khả Hỷ là Tằng Chiêu Khởi thống lĩnh. Đạo quân ấy xưa nay chưa từng điều động. Cửa Hổ Môn lại xây pháo đài, đặt đại bác Tây dương, quả là nơi dễ thủ khó công!

Xem ra tình hình hơi rắc rối rồi.

Vầng trán của quân sư Gia Cát càng lúc càng nhăn tít.

Những nơi béo bở trong phủ Quảng Châu hiện giờ chẳng ngoài thành phủ Quảng Châu, huyện thành Hương Sơn, trấn Phật Sơn, Thuận Đức và Đông Hoản.

Trước hết, thành phủ Quảng Châu đành gác sang một bên. Một mặt, nơi đó có đám quân già yếu, đàn bà trẻ con của phiên phủ Bình Nam Vương trấn giữ. Mặt khác, cửa Hổ Môn còn có trọng binh. Nếu chưa phá được cửa Hổ Môn, quân của cha con Chu Tam cũng chẳng thể theo đường thủy qua biển Linh Đinh để tới Quảng Châu.

Phật Sơn lại ở rất gần thành Quảng Châu. Phía nam còn có hai vùng trọng yếu là Hương Sơn và Thuận Đức đều đã bố trí quân phòng thủ. Nếu chưa hạ được một trong ba nơi Quảng Châu, Hương Sơn hoặc Thuận Đức, căn bản không thể chạm tới Phật Sơn.

Còn lại là ba huyện Tân Ninh, Tân An và Tân Hội.

Tân Ninh chính là huyện có thành Văn An, nằm ven biển phía nam, chẳng phải nơi trọng yếu.

Tân Hội thì năm xưa đại quân của Lý Định Quốc còn không đánh hạ được. Lần này nếu lại kéo quân tới, lỡ đám dân Tân Hội vẫn một lòng trung thành với Đại Thanh thì biết làm sao?

Còn Tân An chính là vùng Thâm Quyến, Hồng Kông ngày nay. Nhưng vào thời buổi này, nơi ấy gần như chẳng có người ở. Vì lệnh dời dân ven biển, dân chúng đã bị đưa đi hết, chỉ còn huyện thành Tân An đứng trơ trọi bên bờ biển, bên trong chẳng có bao nhiêu người. Đánh chiếm nơi ấy cũng chẳng được lợi lộc gì, thà sang Ma Cao, phía bên kia biển Linh Đinh, cướp một phen còn hơn!

Đúng rồi, Ma Cao!

Nghĩ đến Ma Cao, mắt quân sư Gia Cát lập tức sáng lên.

Trong các cứ điểm ven biển Quảng Đông lúc này, nơi đáng giá nhất không nghi ngờ gì chính là Ma Cao, vùng đất người Bồ Đào Nha đang chiếm giữ. Do triều đình Đại Thanh thực hiện chính sách cấm biển, dọc bờ biển Quảng Đông hiện nay chỉ còn Ma Cao và Đạt Hào là hai cảng buôn bán đúng nghĩa. Những thuyền lớn vượt biển sang Nam Dương, Tây Dương đều phải ghé hai nơi ấy, ngay cả thuyền buôn chạy dọc bờ biển Trung Hoa cũng chỉ có thể làm ăn ở Ma Cao và Đạt Hào.

So với Đạt Hào, việc buôn bán tự do giữa Ma Cao và Hương Sơn được Bình Nam Vương Thượng Khả Hỷ ra sức che chở, nên phồn thịnh hơn gấp mười lần là ít. Bởi vậy, trong những năm Đại Thanh cấm biển, Ma Cao chẳng những không suy yếu mà ngày càng trở nên giàu có, nhộn nhịp.

Nhưng muốn đánh chiếm Ma Cao đang ngày một phồn hoa ấy cũng chẳng dễ dàng. Người Bồ Đào Nha đã xây ở đó một tòa thành hình sao vô cùng kiên cố, dựa vào một ngọn đồi thấp. Tòa thành ấy gọi là pháo đài Thánh Phaolô, nơi đóng quân của viên chỉ huy quân Bồ Đào Nha ở Ma Cao, cũng là nền móng để người Bồ cai trị vùng đất này.

Khoảng năm mươi năm trước, Công ty Đông Ấn Hà Lan vừa gây dựng được một vùng thế lực trên đảo Java đã nhòm ngó cứ điểm buôn bán của người phương Tây nằm trên đất Đại Minh này. Chúng gom được mười ba thuyền buôn vũ trang cùng một nghìn ba trăm người, kéo tới tấn công Ma Cao.

Kết quả, quân Bồ Đào Nha ở Ma Cao chưa đầy ba trăm người, dựa vào pháo đài và đại bác để phòng thủ, đã đánh cho quân Hà Lan đại bại. Bọn chúng tổn thất chừng ba trăm người rồi hốt hoảng tháo chạy. Đó hẳn là một trong số rất ít lần những kẻ thực dân Hà Lan vốn đang hăng hái tung hoành ở phương Đông phải nếm mùi thất trận thảm hại như vậy.

Năm năm sau trận chiến Ma Cao, người Hà Lan quay lại báo thù, đánh thêm một trận nữa. Nhưng lần này chúng vẫn bị người Bồ Đào Nha dựa vào pháo đài Thánh Phaolô đánh bật ra ngoài.

Từ đó, tòa thành Ma Cao hai lần đẩy lui quân Hà Lan vang danh khắp nơi. Mãi đến hôm nay, chẳng còn ai dám nhòm ngó nó nữa.

Có điều, kỷ lục ấy xem ra sắp bị quân sư Gia Cát phá vỡ.

- Đại vương.

Quân sư Gia Cát phe phẩy quạt lông ngỗng. Trên gương mặt béo tròn nom hơi giống Bàng Thống, hắn nở nụ cười sâu xa khó đoán.

- Thần xin đề nghị liên kết với đại ca Huy, mượn vài nghìn quân của hắn. Nhân lúc đại quân của Thượng Khả Hỷ đang tập trung ở Yết Dương, phủ Quảng Châu bỏ trống, ta lập tức tiến quân về phía tây. Trước hết đánh úp Ma Cao, sau đó chuyển quân tới Tân An, áp sát cửa Hổ Môn.

- Ma Cao và Hương Sơn là túi tiền của Thượng Khả Hỷ, còn cửa Hổ Môn lại nắm yết hầu của lão. Chúng ta móc sạch túi tiền, bóp chặt yết hầu, chẳng lo Thượng Khả Hỷ không chịu rút khỏi thành Yết Dương!

Vua Chu vừa nghe vị quân sư hiến cái kế chẳng mấy đáng tin ấy đã biết ngay có chuyện.

Năm xưa, lúc theo Đường vương cuối cùng làm việc ở thành Văn An, hắn từng vài lần tới Ma Cao. Hắn biết nơi đó có thành cao, pháo đài vững, dễ thủ khó công. Muốn sang “trộm” một phen đâu phải chuyện đơn giản.

Nhưng vua Chu còn chưa kịp lên tiếng, Chu Hòa Thịnh đã vỗ tay reo lên:

- Hay lắm, hay lắm! Quân sư quả nhiên mưu hay, đủ sức dẹp yên thiên hạ! Hóa ra yết hầu của Thượng Khả Hỷ không nằm ở phủ Quảng Châu, mà nằm tại Ma Cao và Hương Sơn!

- Chỉ cần chúng ta chiếm được Ma Cao và Hương Sơn, Thượng Khả Hỷ chẳng những mất đi nguồn tiền bạc cuồn cuộn, mà ta còn thu được mấy vạn dân phu nghèo khổ đang tụ tập kiếm sống ở chợ thông thương Quan Táp, Hương Sơn. Có được số dân phu ấy gia nhập dưới trướng, phủ Quảng Châu còn khó đánh ở chỗ nào?

Chiếm ư?

Lần này, không chỉ vua Chu sững người, đến chính quân sư Gia Cát cũng ngẩn ra.

Ý của quân sư Gia Cát là “trộm”, nhiều nhất cũng chỉ “cướp” một phen rồi rút. Hắn chưa từng nghĩ tới chuyện chiếm luôn pháo đài Đại Pháo ở Ma Cao.

Tòa thành ấy còn kiên cố hơn thành Zeelandia ở Đài Loan rất nhiều. Dẫu Quốc tính gia đích thân kéo quân tới đánh, không vây hãm một hai năm thì cũng đừng mong hạ được thành. Cho dù Chu Hòa Thịnh có thể bao vây pháo đài, hắn cũng chẳng có thời gian vây một hai năm, mà một hai tháng còn chưa chắc có!

Thế nhưng Chu Hòa Thịnh lại vỗ ngực, giọng đầy quả quyết:

- Cái pháo đài Đại Pháo gì đó ở Ma Cao cứ giao cho ta! Ta mang theo một nghìn hai trăm người, rồi mượn nhạc phụ thêm ba nghìn đại quân. Nhất định ta sẽ đánh hạ được Ma Cao.

- Chúng ta vốn là nho sinh, nay thay trời hành đạo, tuyệt đối không thể để người Tây dương mãi chiếm đất đai của Đại Minh ta!

Quân sư Gia Cát thấy Chu Hòa Thịnh dường như đã nắm chắc phần thắng, bèn lại phe phẩy quạt lông ngỗng, nói:

- Đại vương, trận đánh Ma Cao cứ giao cho thần và thế tử gia. Thần tự có diệu kế phá thành.

Vua Chu thấy quân sư sắp rời đi thì lập tức cuống lên:

- Quân sư mà đi rồi, bên thành Yết Dương này còn ai bày mưu tính kế cho trẫm? Nếu Thượng Khả Hỷ đánh tới, trẫm phải lui địch thế nào?

Quân sư Gia Cát mỉm cười:

- Đại vương chớ lo. Thần sẽ để lại túi gấm hiến kế, giúp đại vương phá địch!

Vị quân sư Gia Cát này quả thật có túi gấm hiến kế!

Dương Khởi Long thấy người đồng liêu của mình tài giỏi như vậy, cũng quyết định thể hiện bản lĩnh một phen. Hắn vỗ ngực nói với vua Chu:

- Đại vương, thần tuy không có túi gấm hiến kế, nhưng có ba tấc lưỡi không ai bẻ nổi. Thần nhất định sẽ thuyết phục các tướng quân Lục doanh như Lưu Tiến Trung, Triệu Đắc Thắng, Miêu Chi Tú, Trương Quốc Huân, Vương Quốc Đống và những người khác án binh bất động, chỉ để Thượng Khả Hỷ một mình đối địch!