Chương 107: Quân Sư, Nhĩ Đích Cẩm Nang Diệu Kế Ni? (Cầu Thu Tàng, Cầu Đề Cử) - Chôn Sống Đại Thanh Triều

Trang chủ › Chôn Sống Đại Thanh Triều › Chương 107

Chương 107 - Quân Sư, Nhĩ Đích Cẩm Nang Diệu Kế Ni? (Cầu Thu Tàng, Cầu Đề Cử)

☰ DS Chương 📖 1,812 chữ

Chức quân sư của Dương Khởi Long được trao rất đường hoàng!

Hắn đến phủ Giám quốc nhận ấn quân sư, quan phục kiểu Khổng Tử cùng chiếu lệnh của Giám quốc. Trong thành huyện Yết Dương, hắn còn được cấp một tòa phủ đệ và hưởng bổng lộc hẳn hoi, mỗi tháng năm mươi lạng bạc!

Năm mươi lạng một tháng nghe thì chẳng nhiều, nhưng ở triều đình Yết Dương lúc này, đó đã là mức bổng lộc cao nhất.

Định Vương Chu Từ Quýnh, người đang thay vua coi sóc triều chính, cùng Thế tử kiêm Trung thư lệnh Chu Hòa Thịnh hiện cũng chỉ lĩnh năm mươi lạng mỗi tháng, lại chẳng có khoản thu nhập nào khác!

Đây không phải lời nói suông. Sổ thu chi phải công khai, để mọi người cùng giám sát. Bây giờ thiên hạ là của chung! Vua Chu và Chu Hòa Thịnh, dẫu có làm vua thì cũng chỉ được làm “vua thanh bạch”. Dĩ nhiên, chút bổng lộc ấy vẫn đủ cho hai người ăn cá ăn thịt.

Dù sao ở Triều Châu bây giờ, người ít đất nhiều, lại gần biển nên hải sản dồi dào. Thức ngon vì thế cũng chẳng đắt đỏ.

Hơn nữa, hai người còn có chút của để dành. Chu Hòa Thịnh lại được hai phần của hồi môn, một phần của Khâu Thục Trinh, một phần của Đại Ba Linh. Hắn còn có thể dựa vào vợ mà sống, kể ra cũng khá dễ chịu!

Có điều, ba xưởng phía Nam, phía Tây và phía Bắc do Chu Hòa Thịnh một tay dựng nên, cùng xưởng phía Đông do thái giám Bàng góp sức lập ra, nay đều đã thành của chung. Muốn không thành của chung cũng chẳng được!

Triều đình Yết Dương hiện có hơn trăm quan văn võ, một nghìn năm trăm đến một nghìn sáu trăm quân thường trực, cùng hơn một nghìn thầy trò ở nhà học thiếu niên trong học cung, tất cả đều phải nuôi.

Mỗi tháng tiêu tới bảy, tám nghìn lạng bạc, trong khi khoản thu chỉ có một vạn lạng mỗi năm do phủ Diên Bình Vương cấp, hai vạn thạch gạo mỗi năm do Khâu Huy đưa, cộng thêm thuế ở chợ buôn cửa Bắc Yết Dương và trong thành huyện. Tính rộng rãi lắm, mỗi tháng cũng chỉ thu được bảy, tám trăm lạng.

Nói cách khác, thuế cống mỗi tháng của triều đình Yết Dương tính thế nào cũng chỉ vào khoảng hai, ba nghìn lạng, còn chi tiêu thì hơn bảy, tám nghìn. Mỗi tháng thâm hụt tới năm, sáu nghìn lạng!

Khoản thiếu hụt lớn ấy, ngoài việc ăn vào vốn liếng cũ, chỉ còn cách trông cậy vào năm xưởng Đông, Tây, Nam, Bắc và xưởng trong để bù đắp. Trong các mặt hàng của năm xưởng lúc này, thứ kiếm tiền nhanh nhất là diêm tiêu của xưởng Tây và thuốc súng của xưởng trong!

Sau khi vào huyện Yết Dương, Chu Hòa Thịnh lập tức ban hành lệnh thu phân. Dân cư sống trong thành, gia súc lớn nuôi trong thành đều phải đăng ký, mỗi ngày nộp một lượng phân và nước tiểu nhất định.

Số ấy do xưởng Tây thu gom, trộn với đất theo một tỷ lệ nhất định rồi chất vào những bể gom diêm tiêu mới xây ở ngoài cửa Đông thành. Đây là tổng xưởng Tây. Còn các bể gom ở thôn Cổ Trình nay do chi nhánh Cổ Trình của xưởng Tây quản lý. Dù là tổng xưởng hay chi nhánh, suốt hai tháng qua cả hai đều liên tục mở rộng sản xuất.

Theo thiết kế của Chu Hòa Thịnh, khi nguyên liệu đầy đủ, mỗi bể gom mỗi tháng có thể tạo ra khoảng một nghìn năm trăm đến hai nghìn cân đất diêm tiêu, tinh luyện được mười lăm đến hai mươi cân diêm tiêu thành phẩm. Đổi lại, mỗi bể phải dùng một trăm năm mươi đến hai trăm cân “nguyên liệu”.

Hiện giờ chi nhánh Cổ Trình đã có sáu mươi bể, mỗi tháng sản xuất tới một nghìn cân diêm tiêu. Nguồn nguyên liệu ở tổng xưởng Yết Dương cũng dồi dào, lại được cấp miễn phí, nên số bể đã xây xong và dự tính xây lên tới hai trăm.

Nếu xây đủ, sản lượng hàng tháng của toàn xưởng Tây sẽ vững vàng vượt bốn nghìn cân!

Quân thường trực của Chu Hòa Thịnh chỉ có một nghìn năm trăm người, dĩ nhiên chẳng dùng hết ngần ấy diêm tiêu hay thuốc súng. Bởi vậy, chưa đợi xây xong toàn bộ bể gom, hắn đã bắt đầu nhận đơn hàng của Khâu Huy và Lưu Quốc Hiên!

Diêm tiêu và thuốc súng dạng hạt chất lượng cao là mặt hàng đắt giá ở Quảng Đông. Nhà giàu nào cũng muốn mua. Mua về, họ có thể dùng khi tranh chấp với dòng họ ở làng bên, hoặc đem ra dọa đám quan lại, nha dịch khốn nạn đến ép dời nhà hay thu thuế.

Nhà nào không có, đến ngủ cũng chẳng yên!

Chỉ cần xưởng Tây và xưởng trong bán được ba, bốn nghìn cân thuốc súng mỗi tháng, họ đã có thể kiếm khoảng năm nghìn lạng bạc, góp vào ngân khố. Tuy vẫn chưa thu đủ bù chi, nhưng ít ra tốc độ hao hụt bạc tiền sẽ giảm đi đáng kể, giúp triều đình Yết Dương cầm cự đến khi hai mặt hàng chủ lực là “Rượu xuân Đại Minh” và “Hương xưởng Đông” bắt đầu sinh lời lớn.

Đến lúc ấy, tài chính triều đình Yết Dương sẽ vững vàng.

Chứng kiến triều đình Yết Dương lúc này trên dưới cần kiệm, hết lòng vì việc chung, Dương Khởi Long, người vừa tạm mang tên Dương Tú Thanh, cũng cảm nhận được khí tượng mới đầy sức sống.

So với triều đình nghèo túng ở Yết Dương, triều đình Mãn Thanh tại Bắc Kinh xa hoa hơn hẳn, lại sực mùi mục ruỗng. Ngửi thấy mùi ấy là biết nhà Thanh sắp tàn!

Dương Khởi Long mặc bộ áo Khổng Tử trông đã biết là tiết kiệm, thắt ngang lưng một dải vải thô, bên hông đeo trường kiếm. Lúc này hắn ngồi trên ghế trong đại điện phủ Giám quốc, nhìn khắp triều đình, thấy các quan đều mặc áo vải, bỗng cảm giác bản thân cũng thêm phần phấn chấn.

Ngày mai hắn sẽ lên đường tới huyện Hải Dương, tìm cách lôi kéo Lưu Tiến Trung. Không phải thay Chu Hòa Thịnh chiêu mộ người, mà là thay Ngô Tam Quế lôi kéo hắn. Hôm nay Chu Hòa Thịnh không sắp xếp cho hắn ăn chơi ở huyện Yết Dương, mà kéo hắn vào triều.

Mục đích là để hắn tận mắt cảm nhận một triều đình thiên hạ là của chung ra sao!

Có thế mới khiến hắn thấy mình thuộc về nơi này.

Dương Khởi Long đang ngắm nhìn khí tượng mới, chợt nghe có người gọi:

- Quân sư!

Hắn nghĩ bụng: “Ta chính là quân sư, họ gọi ta đấy!”

Thế là hắn vội đứng dậy. Hắn vừa mới nhổm lên, đã nghe Chu Hòa Thịnh nói:

- Quân sư Dương cứ ngồi yên. Chúng ta là người theo đạo Nho, noi gương hiền nhân thuở xưa, vua tôi cứ ngồi mà bàn việc nước cũng được.

Đúng là quan hệ vua tôi hòa thuận biết bao!

Dương Khởi Long vội ngồi xuống, chắp tay hướng về phía Vua Chu, hỏi:

- Giám quốc gọi chúng tôi có việc gì?

Vua Chu hiện giờ cũng mặc áo vải, đội khăn vuông, dáng vẻ giản dị. Thấy Dương Khởi Long mặt mày phấn chấn, trong lòng ông vừa buồn cười vừa khó xử. Thật ra ông muốn hỏi Gia Cát Tam Hòa chuyện tuyển phi, nhưng nhìn vẻ mặt của vị quân sư hữu mới nhậm chức, ông lại ngại mở lời.

Vì vậy, ông đành đổi đề tài, cau mày nói:

- Thám tử chúng ta cài trong trại Miên Hồ vừa báo tin, Thượng Khả Hỷ đã tới nơi từ hôm qua. Đi theo hắn có chừng hai vạn quân, nhưng họ không định tiến đánh ngay. Hiện chúng đang dựng lũy, xem ra muốn đánh lâu dài. Hai vị quân sư có diệu kế nào phá địch không?

Dương Khởi Long ngẩn ra, bụng nghĩ: “Ta làm gì có diệu kế! Chẳng ai đưa túi gấm cho ta, mà ta hình như cũng chẳng nghĩ ra kế nào.”

Thật ra Gia Cát Tam Hòa cũng chẳng có diệu kế. Hắn tuy có rất nhiều túi gấm, nhưng chưa có kế sẵn để bỏ vào, vì căn bản hắn đâu được Gia Cát Lượng truyền nghề. Mọi chuyện đều phải tự động não nghĩ cách, làm quân sư quả chẳng dễ dàng gì!

Nhưng lúc này Gia Cát quân sư cũng không thể nói mình không có cách phá địch.

Nghề quân sư nay cũng cạnh tranh khốc liệt. Đã có tới hai quân sư! Hắn mà nói mình bó tay, nhỡ quân sư Dương có cách thì sau này trong phủ quân sư, ai sẽ làm đầu?

Nghĩ vậy, Gia Cát quân sư phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng gắn đầu ngỗng sư tử, lên tiếng:

- Đại vương, thần đã có diệu kế phá địch!

Thật sự có kế ư?

Vua Chu vội hỏi:

- Mau nói nghe xem!

Còn phải nói ngay nữa à?

Mồ hôi trên trán Gia Cát quân sư sắp túa ra, nhưng hắn vẫn phải cố giữ vẻ bình tĩnh, cuống quýt động não nghĩ kế.

- Đại vương, thần xin dùng kế không thành, kết hợp với kế vây Ngụy cứu Triệu để phá địch!

Lần trước cũng là hai kế ấy, lần này lại đem ra dùng! Xem chừng Gia Cát quân sư chẳng còn kế nào khác.

Vua Chu hỏi tiếp:

- Kế không thành dùng thế nào?

Gia Cát quân sư đáp:

- Đại vương, kế không thành đương nhiên là mở toang cửa, để đại quân Thượng Khả Hỷ tiến về phía đông. Phía tây thành Yết Dương không bố trí phòng bị, khiến hắn nghi ngờ chúng ta cố ý nhử địch, sinh lòng e dè, không dám tiến sâu.

Một kế không thành mà cũng biến hóa ra lắm trò!

Vua Chu lại hỏi:

- Còn kế vây Ngụy cứu Triệu thì sao?

Chu Hòa Thịnh lập tức tiếp lời:

- Đương nhiên là điều quân đi đường biển đánh phủ Quảng Châu! Phủ Quảng Châu là sào huyệt của Thượng Khả Hỷ. Hắn đã bỏ trống nhà mà kéo quân ra, ta sẽ nhân cơ hội đánh úp sào huyệt của hắn!