Chương 35: Ngã Thị Chứng Cứ Bất Túc, Đãn Đối Phương Tự Nguyện Nhận Tài Ngã Hữu Thập Ma Biện Pháp - Trùng Sinh: Ta Muốn Tất Cả

Trang chủ › Trùng Sinh: Ta Muốn Tất Cả › Chương 35

Chương 35 - Ngã Thị Chứng Cứ Bất Túc, Đãn Đối Phương Tự Nguyện Nhận Tài Ngã Hữu Thập Ma Biện Pháp

☰ DS Chương 📖 2,658 chữ

Thấy Phan Tiểu Đình đã làm tròn trách nhiệm nhắc nhở, còn Cố Triệt lại ngạo nghễ đến thế, cô chỉ lạnh mặt gật đầu, rồi quay sang Tần Noãn:

- Thư ký ghi lại những lời vừa rồi. Trước khi nguyên đơn chính thức đưa ra chứng cứ, hãy yêu cầu anh ta ký xác nhận phần này.

Tần Noãn thầm thương hại Cố Triệt. Chàng trai trẻ này bốc đồng quá, phen này e là phải chịu thiệt. Làm gì có thứ chứng cứ quyết định nào khiến đối phương vừa nhìn thấy đã lập tức chịu thua? Không thể nào!

Đã vậy, sao hắn không cẩn thận hơn một chút? Cứ khăng khăng cho đối thủ thêm mười lăm ngày để nghiên cứu chứng cứ của mình làm gì?

Dẫu nghĩ thế, Tần Noãn vẫn làm việc theo đúng thủ tục. Cô rút mấy trang thông báo về quyền lợi trong hồ sơ, đi đến trước mặt Cố Triệt rồi đặt lên bàn nguyên đơn.

Cố Triệt chẳng chần chừ, cầm bút ký ngay. Hắn làm vậy cũng là để tiết kiệm thời gian cho mọi người.

Khoảnh khắc hắn đặt bút ký xong, buổi hòa giải sơ bộ xem như tạm thời không thành, vụ việc chuyển sang giai đoạn một bên chủ động trao đổi chứng cứ trước.

Chuyện ấy cũng chẳng có gì ghê gớm. Thủ tục hòa giải vốn có thể bắt đầu bất cứ lúc nào, tạm dừng lúc nào cũng được.

Nếu hòa giải ban đầu không thành, đến giữa phiên xử mà bên kia đổi ý, muốn khởi động lại hòa giải thì vẫn được. Chỉ khi hai bên hòa giải thành công và tòa lập biên bản hòa giải, văn bản ấy mới có hiệu lực pháp lý, khi đó mới không thể đổi ý.

Sau đó, Cố Triệt đưa ra một bản liệt kê chứng cứ, mời Phan Tiểu Đình xem qua rồi chuyển cho phía bên kia. Phiên xử còn chưa bắt đầu, đối phương chỉ cần xem là được, chưa phải ứng phó ngay. Đợi ba mươi ngày sau trả lời cũng không muộn.

Thế nhưng, điều khiến Phan Tiểu Đình và Tần Noãn kinh ngạc là phía bên kia vốn không cần lập tức phản ứng, vậy mà chỉ vừa liếc qua mấy dòng, mặt họ đã toát mồ hôi lạnh.

Được Phan Tiểu Đình cho phép, Cố Triệt giải thích sơ qua nội dung chứng cứ:

- Chứng cứ này chủ yếu nhằm chứng minh hành vi định chiếm đoạt công sức của Đồng Song Khánh không phải hành động bộc phát, nhất thời của cá nhân, mà là thói quen đã kéo dài nhiều năm, cũng là hành vi trong quá trình thực hiện công việc.

- Vì vậy, tôi đã tra cứu các bằng sáng chế được cấp trong nhiều năm trước đây, có Đồng Song Khánh đứng tên người nộp đơn hoặc là một trong những người nộp đơn. Trong đó gồm cả bằng sáng chế phát minh lẫn bằng sáng chế cải tiến. Tôi phát hiện một số bằng có vấn đề về tính mới và tính sáng tạo, nội dung trùng lặp đáng kể với những đơn nộp trước đó của các chủ sở hữu khác.

- Có bằng lại lấy cái gọi là “điểm sáng tạo so với kỹ thuật đã có vào thời điểm ấy” làm căn cứ, nhưng thực chất, người làm nghề bình thường chỉ cần dựa trên kỹ thuật sẵn có, suy luận hợp lý hoặc thử nghiệm giới hạn là có thể nghĩ ra. Theo Hướng dẫn thẩm định bằng sáng chế, đây là trường hợp “hiển nhiên”, không thể xem là có đặc điểm thực chất nổi bật. Vì thế, tôi đã gửi lên Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia đơn yêu cầu hủy hiệu lực một bằng sáng chế cải tiến có vấn đề đặc biệt rõ ràng. Một số bằng khác liên quan, tôi vẫn đang tiếp tục xác minh.

- Nếu cuối cùng chứng minh được tình trạng này lặp đi lặp lại trong hoạt động nghiên cứu và phát triển thường ngày của công ty bị đơn, phía chúng tôi đề nghị xác định việc có tổ chức, kéo dài nhiều năm, chuyên đi ăn cắp ý tưởng của đối thủ và lách luật ấy là hành vi đã được công ty bị đơn tính toán từ lâu. Hành vi của Đồng Song Khánh cũng phải được xem là hành vi trong quá trình làm việc.

Người ngoài ngành nghe những lời ấy có lẽ chưa hiểu ngay. Nói nôm na, Cố Triệt đang lấy những bằng sáng chế khác trong hoạt động nghiên cứu thường ngày của công ty bị đơn, vốn chẳng liên quan đến vụ án này, để lập luận suy rộng.

Năm 2002, hoạt động nghiên cứu của phần lớn doanh nghiệp trong nước còn yếu kém. Họ vẫn đang trong giai đoạn đuổi theo người khác, chuyện làm nhái rất phổ biến, chất lượng kho bằng sáng chế cũng đáng lo.

Theo Điều 45 Luật Sáng chế, kể từ ngày cơ quan hữu quan công bố việc cấp bằng, bất kỳ cơ quan hay cá nhân nào cho rằng việc cấp bằng trái với quy định của luật đều có quyền yêu cầu cơ quan ấy tuyên bố bằng sáng chế vô hiệu.

Cần chú ý đến hai chữ “bất kỳ”. Nói cách khác, muốn yêu cầu hủy hiệu lực bằng sáng chế thì không cần phải là bên có quyền lợi liên quan. Ai cũng có thể đứng ra “trừ gian diệt bạo”.

Cố Triệt nói rõ với đối phương: Anh đã đắc tội với tôi. Cho dù tôi buông vụ này, tôi vẫn có cách tìm những bằng sáng chế khác trong kho của công ty anh, chẳng liên quan gì đến vụ án nhưng chất lượng lại chẳng ra sao, rồi lần lượt gửi đơn yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia hủy hiệu lực. Cứ chờ xem ai chịu đựng nổi.

Chỉ cần hủy thành công một bằng, tổn thất của công ty bị đơn cũng có thể lớn gấp mấy chục lần thiệt hại trong vụ này. Đó là đòn đánh ngoài mặt trận mà Cố Triệt đã tính sẵn: anh đánh phần anh, tôi đánh phần tôi. Tôi không cần bước vào chiến trường mà anh đã khoanh sẵn.

Thông thường, doanh nghiệp chẳng ai muốn gây thù đến mức ấy, trừ khi chính mình khiêu khích đối thủ hoặc xâm phạm quyền của họ. Bằng sáng chế của bên nào ít nhiều cũng có chỗ đáng ngờ, có những thứ làm cho đủ số mà chẳng vững vàng. Nếu chủ động châm ngòi cuộc đối đầu này rồi bị trả đũa, chính mình cũng sẽ thiệt hại nặng.

Chẳng khác nào hai bên trở mặt, lần lượt làm vô hiệu mấy bằng sáng chế làm cho có của nhau, cuối cùng lại để bên thứ ba, thứ tư hưởng lợi.

Phần lớn luật sư sở hữu trí tuệ và người làm nghề đăng ký bằng sáng chế cũng không dám tùy tiện nhận việc như vậy. Họ còn phải lo sau này mình sẽ tiếp nhận nhiều khách hàng. Ai biết được kho bằng sáng chế của những khách hàng ấy có vững vàng hay không?

Nếu tùy tiện đắc tội người khác, mai sau gặp phải khách hàng của mình có vấn đề, họ sẽ bị trả đũa. Những khách hàng có bằng sáng chế nhiều sơ hở, thiếu cơ sở sẽ chẳng muốn tìm đến văn phòng luật từng gây thù khắp nơi, công việc làm ăn của văn phòng cũng bị ảnh hưởng.

Vì thế, trong giới, chuyện đắc tội người khác như vậy thường chỉ được làm khi đối phương quả thật xâm phạm quyền trước, còn bên phản kích có lý lẽ đầy đủ để những văn phòng khác tâm phục. Họ phải biết người ra tay không cắn bừa, mà có nguyên do rõ ràng.

Trớ trêu thay, chỉ có kẻ như Cố Triệt, vốn đủ sức trở thành một luật sư hàng đầu nhưng đời này chẳng định làm luật sư toàn thời gian, mới dám lật bàn, chẳng sợ đắc tội ai. Hắn chẳng khác nào những kẻ chuyên đi bắt lỗi để kiện tụng.

Có những chuyện Cố Triệt đã nghĩ thấu: Đời này chỉ cần làm một lần, kiếm được món vốn đầu tiên rồi về sau không dựa vào nghề này để kiếm sống nữa.

Những bằng sáng chế sau này hắn nộp cũng sẽ được chuẩn bị cho vững vàng trước. Còn kiểu gom góp những cải tiến kỹ thuật thông thường, ai cũng nhìn ra là hiển nhiên, rồi tìm cách lách luật để tăng số lượng bằng, hắn không định làm nữa sau lần này. Bởi thế, hắn chẳng sợ người ta trả đũa theo cách tương tự.

Hơn nữa, trong chuyện này, hắn vẫn giữ nguyên suy nghĩ từ đầu đến cuối: Có những việc đời này làm một lần là đủ. Chỉ cần chứng minh mình có bản lĩnh làm được, đủ thông minh để bày ra một nước cờ hiểm hóc đến thế, vậy là xong.

Nếu không, người ta sẽ bảo hắn chẳng qua là không làm được chứ không phải không muốn làm. Đến chút uy thế cũng không dựng lên nổi, sau này người trong giới còn ai sợ hắn?

Bị đơn lần này chính là kẻ được Cố Triệt chọn để thị uy, để làm dày thêm thành tích của mình. Tiền bạc ngược lại chỉ là thứ yếu.

…

Cố Triệt hiểu rõ những lẽ ấy. Trần Thanh Phong và Phùng Vân bên phía bị đơn cũng hiểu. Nhưng Phan Tiểu Đình đang đứng ở vị trí người điều giải thì tạm thời chưa biết.

Không phải vì cô kém nghiệp vụ, mà vì cô chưa điều tra, chưa rõ kho bằng sáng chế của chính công ty bị đơn có bao nhiêu thứ làm cho đủ số, chất lượng có thật sự vững vàng hay không.

Chỉ bị đơn mới biết rõ trong lòng.

Bởi vậy, vừa xem xong chứng cứ, Phan Tiểu Đình đã thiện ý nhắc nhở:

- Nguyên đơn, tôi buộc phải nhắc anh rằng pháp luật coi trọng chứng cứ trực tiếp, xác thực. Tối thiểu cũng phải có một chuỗi chứng cứ hoàn chỉnh. Chứng cứ anh vừa đưa ra chỉ là chứng cứ gián tiếp, không tạo thành một chuỗi hoàn chỉnh. Đến phiên xử, khả năng cao tòa sẽ không chấp nhận lối suy rộng ác ý như vậy. Pháp luật không thể căn cứ vào nề nếp hay tác phong thường ngày của bị đơn để phán đoán sự thật trong một vụ việc cụ thể.

Chỉ cần nêu một ví dụ là có thể hiểu ý cô.

Trong vụ án hình sự liên quan đến tội xâm hại tình dục, tòa tuyệt đối không thể xét “nếp sống thường ngày của nạn nhân”. Các hướng dẫn tư pháp đã nhiều lần nhấn mạnh điều ấy. Dù nạn nhân làm nghề trao đổi tình dục, khi cô ấy trình báo bị cưỡng hiếp, tòa vẫn phải điều tra cẩn thận để làm rõ sự thật.

Vụ kiện bằng sáng chế dân sự lại càng phải như vậy. Sao có thể chỉ vì một người, một công ty “xưa nay có tổ chức ăn cắp ý tưởng”, mà kết luận lần này họ cũng “có tổ chức ăn cắp ý tưởng” được?

Lập luận ấy tuyệt đối không thể đứng vững!

Cố Triệt lập tức khiêm nhường tiếp thu lời nhắc nhở của Phan Tiểu Đình:

- Cảm ơn thẩm phán đã chỉ dẫn. Nhưng tôi muốn nói rõ rằng hiện giờ vẫn đang ở giai đoạn trao đổi chứng cứ một chiều trước phiên xử. Chứng cứ có sức thuyết phục hay không là việc hai bên cần xem xét tại phiên chất vấn sau khi phiên xử bắt đầu. Bất kể chứng cứ của tôi có đầy đủ hay không, tôi đều có quyền nộp trước. Có lẽ thẩm phán có thể hỏi phía bị đơn xem họ có sẵn lòng tự thừa nhận chứng cứ này hay không.

Phan Tiểu Đình nghĩ lại, thấy cũng có lý. Đầu óc cô xoay chuyển đôi chút, lập tức hiểu ra màn đấu trí phía sau là thế nào.

“Cậu trai trẻ này sao lại lợi hại đến vậy? Tôi xử án hơn hai năm rồi, chưa từng thấy thủ đoạn nào hiểm hóc thế này. Lẽ nào cậu ta thật sự có thể…”

Trong lòng khẽ rúng động, cô lập tức quay sang bị đơn:

- Bị đơn, hôm nay trong buổi trao đổi chứng cứ một chiều, các anh chị còn gì cần trình bày thêm không? Nếu không, tôi sẽ tuyên bố thủ tục liên quan hôm nay kết thúc. Mười lăm ngày nữa sẽ thông báo để hai bên chính thức trao đổi chứng cứ, mười lăm ngày sau đó mở phiên xử.

Lời cô như ném xuống biển, chẳng ai đáp lại. Trần Thanh Phong và Phùng Vân căng thẳng thì thầm với nhau hồi lâu, cuối cùng mới khó nhọc lên tiếng:

- Thưa thẩm phán, có thể cho chúng tôi kéo dài thời gian nghỉ một chút không? Chúng tôi muốn lập tức xin ý kiến lãnh đạo công ty, báo cáo tình hình mới nhất. Có lẽ chúng tôi sẽ đồng ý hòa giải và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ánh mắt Phan Tiểu Đình thoáng trầm xuống. Cô đã hiểu ra vài điều.

Còn thư ký Tần Noãn vẫn ngơ ngác, hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra. Trong lòng cô chấn động dữ dội:

“Trời đất! Nguyên đơn này làm cách nào vậy? Dọa bị đơn sợ đến mức chịu thua luôn sao? Thẩm phán đã nhắc chứng cứ của hắn chưa đủ, thế mà hắn vẫn chủ động nhận phần thiệt?”

Cô không nhịn được, chăm chú nhìn Cố Triệt thêm mấy lần. Cậu đàn em khóa dưới này quả thật điềm tĩnh, phong thái chẳng khác nào một vị tướng cầm quân.

Phan Tiểu Đình thở dài, lần cuối cùng làm tròn trách nhiệm nhắc nhở:

- Các anh chị đã chắc chắn chưa?

Cô không thể nói thêm. Nói nữa sẽ thành thiên vị một bên, mà thẩm phán phải giữ trung lập.

Phùng Vân gần như sắp khóc:

- Chúng tôi chắc chắn…

Phan Tiểu Đình đáp:

- Được. Mười lăm phút nữa, tôi sẽ cho các anh chị thêm một cơ hội hòa giải.

Buổi hòa giải trước đó vốn đã tạm dừng, vậy nghỉ thêm một lát cũng chẳng sao. Hôm nay cô đã thu xếp sẵn thời gian, thủ tục trước đó lại diễn ra khá nhanh, không ảnh hưởng đến vụ án buổi chiều.

Phùng Vân và Trần Thanh Phong lập tức ra ngoài gọi điện, sau đó còn xin được nói riêng với Cố Triệt mấy câu. Phan Tiểu Đình không ngăn cản. Trong giờ nghỉ, hai bên có thể tự do thương lượng, chỉ là những lời ấy sẽ không được ghi vào biên bản phiên tòa.

Phan Tiểu Đình hiểu rõ, thầm nghĩ:

“Chắc họ đang bàn cách đầu hàng sao cho cả hai bên đều yên tâm, không còn thấp thỏm. Chỉ cần nguyên đơn khiến bị đơn tin rằng sau khi vụ án khép lại, hắn sẽ không truy đuổi họ trên những mặt trận khác, có lẽ họ sẽ chịu thua hẳn.

Từ đầu đến cuối chẳng hề nói một câu đe dọa, nhưng hiệu quả còn hơn cả lời đe dọa cay độc nhất. Đáng sợ thật. Mà lại chẳng để ai nắm được chút sơ hở nào.”