Chương 210: Ellaheim
Sông Naga là con sông lớn nhất công quốc Sien, chảy qua tỉnh Sien. Đây cũng là con sông có lưu lượng lớn nhất và lưu vực rộng nhất nơi này.
Dòng sông vắt ngang công quốc Sien, nhận thêm hàng chục nhánh sông, được người dân Sien xem như dòng sông mẹ.
Thánh thành Sien được xây dựng ngay bên bờ sông Naga.
Còn nơi bắt nguồn của con sông ấy là núi tuyết Danton, ngọn chính của dãy núi Erwenlaya.
Dãy Erwenlaya là dãy núi cao nhất đại lục Nolan. Nó sừng sững giữa đất trời, ngăn cách những trận bão tuyết từ miền Bắc tràn xuống.
Trên mặt sông phẳng lặng, ánh ban mai vừa xé tan màn đêm. Lớp sương mỏng như tấm khăn voan chầm chậm quấn quanh dòng nước.
Một chiếc thuyền buồm chở lương thực đang nhọc nhằn ngược dòng đi lên phía Bắc.
Loại thuyền này dùng kết cấu ván ghép chồng, thân thuyền đóng bằng gỗ chắc và bền. Trên thuyền thường dựng một cột buồm, căng buồm vuông, phía đuôi lắp bánh lái để điều khiển hướng đi.
Nhờ khoang chứa được nhiều hàng hóa, thuyền buồm kiểu này rất thích hợp cho những chuyến buôn đường dài.
Thuyền được chia đại khái thành hai loại: kiểu Nordic và kiểu Aishamel.
Loại trước thích hợp vượt biển xa.
Loại sau kết hợp kết cấu ván ghép phẳng, đi trong vùng nước nông và những thủy vực phức tạp tốt hơn, thích hợp chạy trên sông hoặc vùng biển gần bờ.
Chiếc thuyền trước mắt chính là một chiếc thuyền buồm kiểu Aishamel điển hình.
Chỉ tiếc, nhìn qua cũng biết nó đã có tuổi. Dấu vết năm tháng hằn rõ trên từng tấm ván thân thuyền.
Phần thân dưới mực nước đã bị ngâm đến bạc màu sơn, để lộ sắc gỗ thô mộc vốn có.
Năm tháng chẳng buông tha con người, cũng chẳng buông tha thuyền bè.
Con thuyền già đã bước vào buổi xế chiều vẫn phải chở đầy một khoang lương thực, xem ra sức lực cũng chẳng còn được bao nhiêu.
Trên boong thuyền già.
- Thuyền trưởng, con Cá Trích này cũ quá rồi. Nó chạy hơn hai mươi năm, giờ đã không còn sức nữa. Đến lúc đổi thuyền mới rồi.
Người thủy thủ vừa than thở với một người đàn ông trung niên chừng bốn, năm mươi tuổi đang ngậm tẩu thuốc.
Gió sông và nắng gắt đã khắc lên người ông ta từng lớp dấu vết phong sương. Nghe thủy thủ nói, ông vỗ một bàn tay thô to lên đầu gã, bực bội quát:
- Đổi, đổi cái gì mà đổi! Thuyền kiểu Aishamel có thể phục vụ hơn ba mươi năm. Con Cá Trích mới chạy được hai mươi mốt năm, bảy mươi mốt ngày thôi. Sao lại bảo nó hết sức?
Với những người sống nhờ thuyền, họ có thể quên ngày mình chào đời, quên cả ngày cưới, nhưng tuyệt đối không thể quên ngày con thuyền của mình hạ thủy.
- Thuyền trưởng, đâu thể nói vậy. Bình thường chúng ta chăm sóc con Cá Trích rất kỹ, nhưng việc chúng ta làm là chở lương thực đến Ellaheim. Nơi đó chẳng khác nào một hầm băng, dòng ngầm lại cuồn cuộn. Thêm một, hai năm nữa, con Cá Trích e là không chịu nổi.
Đám thủy thủ vẫn kiên nhẫn khuyên nhủ, người nọ nối lời người kia.
Thuyền trưởng rít một hơi dài, mắt nhìn phần đuôi thuyền đã bong tróc sơn. Trong ánh mắt ông, dường như hiện lên hình ảnh một con thuyền buồm mới tinh, đẹp đẽ.
Lẽ nào ông không muốn đổi thuyền mới?
Năm ngoái ông đã định đổi rồi. Chẳng ngờ ông cụ ở nhà mắc bệnh nặng, số tiền dành dụm để mua thuyền phải đem ra chữa bệnh trước.
Nhưng năm nay việc làm ăn khá khẩm. Mới đến tháng Sương Mù thôi mà số tiền kiếm được đã ngang với cả năm ngoái.
Hơn nữa, từ khi Thánh Đế quốc đến, việc buôn bán càng phát đạt.
Thuyền trưởng cũng chẳng rõ nguyên do cụ thể. Dù sao, từ ngày công quốc Sien trở thành tỉnh Sien, đám thương nhân bỗng hoạt bát hơn hẳn, gan dạ cũng lớn hơn trước nhiều.
Nghĩ theo hướng ấy, được Thánh Đế quốc thu phục quả thật là chuyện tốt.
Tháng sau… tháng sau là ông sẽ gom đủ tiền. Khi ấy, ông có thể đi đặt một con thuyền mới.
- Thuyền trưởng, lương thực trong khoang tối qua lại bị chuột ăn mất một ít.
Một thủy thủ khác than vãn:
- Cũng tại con Cá Trích quá cũ, bên trong giấu cả ổ chuột mà mãi chẳng tìm ra.
- Chỉ có cậu là lắm lời. Đừng nói con Cá Trích, cho dù là thuyền mới hạ thủy cũng chẳng ngăn nổi mấy con chuột ranh ma ấy.
Thuyền trưởng nhổ một bãi nước bọt.
- Tóm lại, vẫn phải đổi thuyền thôi…
Gã thủy thủ lẩm bẩm, rồi bổ sung:
- Nhưng lũ chuột lần này ranh thật. Đồ ngon tôi giấu trong tủ mà nó cũng moi ra được. Đúng là giỏi hết phần thiên hạ.
Giữa tiếng ồn ào của thủy thủ và thuyền trưởng, con Cá Trích chở đầy lương thực tiếp tục xuôi về phía Bắc.
Đêm xuống.
Trên thuyền chẳng có mấy trò tiêu khiển. Ăn tối xong, mọi người thường nhanh chóng chìm vào im lặng.
Hôm nay cũng vậy.
Chỉ còn tiếng nước sông thỉnh thoảng vỗ vào mạn thuyền.
Giữa màn tĩnh lặng ấy, một tiếng nước vỡ tung vang lên. Bóng người vụt qua mặt sông, nhanh đến mức chẳng ai để ý.
Một bóng đen lặng lẽ nhô lên khỏi mặt nước.
Hắn đưa tay bám lấy đuôi thuyền. Thân hình linh hoạt chẳng khác nào một con mèo. Không có bất cứ vật gì làm điểm tựa, hắn vẫn dùng một cách leo trèo trái với lẽ thường, từng bước bám lên cao, cuối cùng lật người lên boong.
Sau đó, bóng đen quen đường quen lối đi vào nhà bếp kiêm phòng ăn của thuyền hàng. Hắn lục lọi một hồi, rồi đánh chén một bữa thật no.
Ăn xong, bóng đen rời khỏi nhà bếp, thành thạo đi về phía kho chứa lương thực.
Ban đêm, trên thuyền hầu như chẳng có ánh sáng. Nếu không thắp đèn thì đi lại cũng chẳng khác gì lần mò trong bóng tối.
Nhưng với Cao Đức, người đã tự thích nghi được năng lực nhìn rõ trong đêm, bóng tối lại trở thành chiếc áo che chở tốt nhất.
Hắn vào kho lương thực, tìm một chỗ vừa kín đáo vừa dễ chịu, nằm xuống chuẩn bị nghỉ ngơi.
- Pháp sư, chúng ta đang làm trộm phải không?
Một giọng nói trong trẻo vang lên, đầy vẻ nghi hoặc.
Cao Đức vội ra hiệu cho tiểu tổ tông im lặng, rồi khẽ giải thích:
- Suỵt. Chuyện này nên gọi là giao dịch, vì cuối cùng chúng ta sẽ trả tiền.
- Nhưng trước đó chúng ta đâu có báo với họ. Biết đâu người ta chẳng muốn làm cuộc giao dịch này thì sao?
- Đại nhân Flora thông minh thật.
Cao Đức khen một câu.
- Vậy là ta nói đúng, phải không?
Cao Đức nghĩ ngợi, rồi nói với Flora:
- Đại nhân Flora còn phải nhớ một câu nữa. Người trong giang hồ, thân mình chẳng thể tự quyết.
- Người trong giang hồ, thân mình chẳng thể tự quyết…
Flora suy nghĩ hồi lâu, nghiêm túc gật đầu.
- Ta nhớ rồi. Bây giờ chúng ta đang ở trên sông, nên có thể làm như vậy. Lên bờ thì không được nữa, đúng không?
- Đại nhân Flora cứ hiểu như vậy đi.
Cao Đức mặc kệ mọi chuyện.
Mười lăm ngày trước, sau khi đến phân hội Thánh thành Sien của Aokengli lấy được cấu trang phù văn “Hơi Thở Hoang Dã”, Cao Đức lập tức rời khỏi Thánh thành Sien.
Con người đi qua nơi nào cũng sẽ để lại dấu vết.
Vậy phải làm thế nào mới có thể bảo đảm không sơ hở, tuyệt đối không để ai lần theo?
Cao Đức suy nghĩ rất lâu, cuối cùng chọn một cách cực kỳ đặc biệt.
Hắn không đi bất cứ phương tiện nào, cũng chẳng bước lên đường lớn.
Thay vào đó, hắn đến bến cảng Thánh thành Sien, chọn một chiếc thuyền hàng đang chạy về phía Bắc, rồi nhân lúc thủy thủ không chú ý, lặn thẳng xuống dưới đáy thuyền.
Trước tiên, Cao Đức dùng [Phép Vuốt Mèo] đào cứng dưới đáy thuyền một hõm nhỏ. Sau đó hắn buộc dây thừng vào đó, rồi dùng [Phép Giải Trừ Ma Thuật] khôi phục phần lõm về nguyên trạng, nhờ vậy cố định được sợi dây dưới đáy thuyền.
Đầu dây còn lại được buộc vào người hắn.
Từ đó, hắn có thể lặng lẽ đi cùng con thuyền.
Xem như dùng một cách khác để đi thuyền.
Dĩ nhiên, việc này chỉ Cao Đức làm được.
Ít nhất trong số các pháp sư một vòng, hẳn chỉ mình hắn có thể làm vậy.
Dòng ngầm trong sông, lượng dưỡng khí ít ỏi, những thủy thú có thể ẩn dưới lòng nước, tất cả đều chưa phải vấn đề lớn.
Biết cách thuận theo dòng nước do con thuyền khuấy lên, tránh để bản thân bị thương, mới là một kỹ năng.
Khó chịu nhất là càng đi về phía Bắc, nước sông càng lạnh, cuối cùng còn hạ xuống dưới điểm đóng băng.
Ở nhiệt độ ấy, đừng nói ngâm mình dưới nước cả ngày, chỉ cần rơi xuống chừng nửa giờ cũng đủ khiến toàn thân đông cứng mà chết.
Nhưng Cao Đức có [Tự Thích Nghi].
Mà hoàn cảnh nhiệt độ giảm dần, biến đổi theo từng bước rõ rệt như thế, lại chính là môi trường thích hợp nhất để [Tự Thích Nghi] phát huy.
【Khả năng chịu lạnh tăng 53%, cảm nhận dòng nước tăng 36%, lượng dưỡng khí hấp thụ trong nước tăng 34%.】
【Khả năng nhìn rõ trong bóng tối tăng 36%.】
Đó là tiến độ thích nghi mà Cao Đức đã tích lũy được đến lúc này.
Sở dĩ khả năng chịu lạnh tiến bộ vượt xa hai phương diện còn lại là vì đến ngày thứ ba sau khi xuống nước, Cao Đức đã thành công dựng được mô hình pháp thuật [Chịu Đựng Môi Trường].
【Chịu Đựng Môi Trường】, hệ Bảo Hộ, vòng một:
Người được pháp thuật bảo vệ sẽ không bị thương tổn bởi môi trường quá lạnh hoặc quá nóng, có thể thoải mái ở trong môi trường từ âm 50 đến 140 độ Fahrenheit, tương đương âm 45,6 đến 60 độ C. Trang bị trên người cũng được bảo vệ.
Sau khi thi triển [Chịu Đựng Môi Trường] lên bản thân, hắn thường chủ động lặn xuống vùng nước sâu hơn, dùng môi trường rét buốt hơn để nhanh chóng nâng tiến độ thích nghi với giá lạnh.
Ban ngày, hắn ở dưới nước đi theo con thuyền, đồng thời tích lũy tiến độ [Tự Thích Nghi]. Đến đêm khuya vắng người, hắn mới lên thuyền ăn uống và nghỉ ngơi.
Chuyến đi đặc biệt này, với Cao Đức, vừa là lên đường vừa là tu luyện.
Không ai biết hắn đang đi đâu.
Bởi chính Cao Đức cũng chưa biết điểm đến cụ thể của mình.
Hắn chỉ có một hướng đi đại khái:
Miền Bắc.
Đúng vậy, chính là miền Bắc cách biệt với thế gian mà đạo sư Mosen từng nhắc đến trong tiết Địa lý.
Điều Cao Đức nhắm tới chính là sự cách biệt ấy.
Trước hết, nhờ vị trí tách biệt và môi trường khắc nghiệt, miền Bắc có rất nhiều ma thực cấp cao cùng tài nguyên sinh vật địa mạch hiếm thấy ở bên ngoài.
Theo Cao Đức, nơi đó chẳng khác nào bãi săn lý tưởng nhất để hắn thu thập bản nguyên.
Chỉ cần lấy được đủ bản nguyên, dùng Phong Linh Nguyệt Ảnh cộng điểm cho pháp thuật, Cao Đức tin mình sẽ kéo giãn khoảng cách với các pháp sư cùng cấp.
Một lý do khác là hắn và Flora đều cần tìm một nơi thật tốt để trồng cây.
Theo lời Flora, cây Yggdrasil không kén môi trường sinh trưởng.
Nó chẳng những không kén hoàn cảnh bên ngoài, mà còn có thể biến vùng đất xung quanh thành linh địa tràn đầy ma lực, từ đó trồng thêm nhiều cây cối.
Điều ấy có nghĩa, nơi càng hoang vắng, môi trường càng khắc nghiệt, thật ra càng thích hợp để trồng cây.
Nếu trồng cây ở chốn phồn hoa, chưa nói đến nguy cơ kẻ thù tìm tới theo kiểu “bắt giặc phải bắt tướng, chặt người trước hết chặt cây”, chỉ riêng linh địa được cây Yggdrasil cải tạo cũng đủ khiến bao kẻ bên ngoài nhòm ngó.
Hơn nữa, nơi thật sự phồn hoa thì lấy đâu ra đất cho hắn trồng cây?
Cao Đức không có tước vị, càng không có lãnh địa.
Dù có lãnh địa, hắn cũng chẳng dám tùy tiện trồng cây ở đó.
Một quốc gia còn có thể đổi chủ trong vòng một giờ, huống chi chỉ là một mảnh lãnh địa?
Cao Đức suy xét kỹ càng, nhận ra nơi thích hợp nhất để trồng cây chỉ có hai chỗ:
Đại lục Tera, nơi phần lớn là sa mạc.
Và miền Bắc, quê hương của bão tuyết, bị thế gian ngăn cách, môi trường khắc nghiệt, đất đai lạnh lẽo vô tình.
Nơi trước không cần nói nhiều, chẳng khác sa mạc ở kiếp trước của hắn là bao.
Trong sa mạc, ngoại trừ những ốc đảo quanh nguồn nước, hầu hết các khu vực khác đều không có bóng người, chỉ trải dài những bãi cát rộng mênh mông chẳng dùng được vào việc gì.
Miền Bắc cũng tương tự. Đất rộng người thưa, từng mảng đất giá lạnh trải dài, gần như chưa có ai đặt chân tới.
Hai nơi có một điểm chung: môi trường cực đoan và khắc nghiệt. Chỉ dựa vào hoàn cảnh, chúng đã đủ ngăn cách phần lớn những kẻ có ý đồ xấu.
Hơn nữa, nếu trồng cây ở hai nơi ấy, Cao Đức không chủ động để lộ tung tích thì mấy ai tìm được chỗ hắn trồng cây?
Còn nên chọn nơi nào… câu trả lời cũng rất đơn giản. Nơi nào gần hơn thì chọn nơi đó.
Một phần lãnh thổ tỉnh Sien giáp với dãy núi Erwenlaya, nơi ngăn cách miền Bắc với những trận bão tuyết.
Còn từ công quốc Sien đến đại lục Tera, phải băng qua hơn nửa đại lục Nolan, hoàn toàn không thực tế.
Vì thế, Cao Đức chỉ có thể đến miền Bắc tìm nơi thích hợp để trồng cây.
Thông thường, muốn vào miền Bắc phải đi theo đường biển.
Nhưng trong lãnh thổ Sien không có bờ biển. Muốn ra biển, hắn phải đi về phía Tây, tiến vào Vương triều Kim Tước Hoa. Chuyến đi ấy không chỉ tốn rất nhiều thời gian, mà còn dễ để lại dấu vết.
Hơn nữa, cho dù đến được Vương triều Kim Tước Hoa, muốn tìm một con thuyền đi vào miền Bắc cũng chẳng phải việc dễ dàng.
Cao Đức lập tức gạt bỏ cách này.
Vậy chỉ còn một con đường: đi bộ vượt qua dãy Erwenlaya để tiến vào miền Bắc.
Với người khác, dãy Erwenlaya chính là một rãnh trời không thể vượt qua.
Giá rét, độ cao, dưỡng khí loãng…
Tóm lại là đủ thứ yếu tố khắc nghiệt.
Nhưng với Cao Đức, những điều kiện cực đoan ngăn người ngoài tiến vào dãy Erwenlaya đều có thể dần thích nghi nhờ [Tự Thích Nghi]. Khi ấy, rãnh trời cũng hóa đường bằng.
Không có bản đồ, cũng chẳng có ai để hỏi đường.
Vì vậy, Cao Đức không biết chính xác mình đã đi đến đâu.
Hắn chỉ có thể thỉnh thoảng thi triển [Thuật Chỉ Bắc], xác nhận con thuyền vẫn đang đi lên phía Bắc.
Tuy vậy, Cao Đức đoán chuyến đi sắp đến nơi rồi.
Bởi sau khi vượt qua một ranh giới nào đó, nhiệt độ nước sông và nhiệt độ trên mặt sông đều hạ xuống đột ngột, như bị chém đứt thành hai tầng khác biệt.
Dòng ngầm dưới nước cũng xuất hiện dày hơn, thậm chí còn có cả băng trôi.
Rõ ràng con thuyền đã đến gần dãy Erwenlaya.
May mà hắn đã học được [Chịu Đựng Môi Trường] từ trước. Nếu không, cho dù có năng lực [Tự Thích Nghi], hắn cũng chẳng thể lập tức thích ứng với nhiệt độ nước đột ngột giảm mạnh như vậy.
Thế nhưng, bằng mắt thường cũng thấy được khả năng chịu lạnh vốn gần như đã ngừng tăng lại bắt đầu vọt lên với tốc độ cực nhanh.
Đến ngày thứ tư kể từ lúc nhiệt độ nước giảm mạnh, con thuyền buồm già hai mươi mốt tuổi cuối cùng cũng tiến vào một bến cảng nhỏ, nơi san sát những chiếc thuyền đánh cá.
Bình an đến nơi, đám thủy thủ trên con thuyền già đều thở phào nhẹ nhõm, rồi bắt tay vào việc dỡ hàng.
Bận rộn mấy giờ liền, hàng hóa được dỡ hết. Con thuyền tạm neo lại bến cảng, thủy thủ lần lượt rời thuyền.
Bọn họ định vào quán rượu trong thành uống vài cốc bia đen, sau đó nghỉ ngơi thật say một đêm.
Ban ngày ở nơi này rất ngắn.
Đám thủy thủ vừa rời đi chưa bao lâu, trời đã hoàn toàn tối đen.
Người trên bến cảng cũng thưa dần, chẳng mấy chốc nơi đây chìm vào yên tĩnh.
Đúng lúc ấy, Cao Đức lại chui lên khỏi mặt nước, bước lên con thuyền buồm già vắng tanh.
Hắn vào khoang thủy thủ tìm một bộ quần áo giữ ấm, nhanh chóng thay vào. Sau đó, hắn đặt lên bàn năm đồng vàng Sien sáng bóng. Trong số tiền ấy có tiền mua quần áo, đồng thời trả luôn chi phí ăn uống mấy ngày qua trên thuyền.
Suốt quá trình Cao Đức thay đồ, Flora mở to “đôi mắt lớn” nhìn hắn không chớp.
- Đại nhân Flora không thấy lạnh sao?
Cao Đức vừa thay quần áo vừa tò mò hỏi.
- Không lạnh. Yggdrasil không sợ lạnh, nên đại nhân Flora cũng không sợ lạnh.
Cô bé nhìn bộ quần áo mới.
- Nhưng quần áo mới thì ta thích.
Bề ngoài Cao Đức vẫn thản nhiên, chẳng dám đáp lời.
Đừng thấy Flora nhỏ bé, làm một bộ quần áo cho cô bé chẳng tốn bao nhiêu vải.
Nhưng người am hiểu đều biết, quần áo cho “búp bê” thường đắt hơn quần áo bình thường rất nhiều.
Chủ yếu là vì chẳng dễ tìm được thợ may loại quần áo ấy.
- Hừ!
Nhờ năng lực nhìn rõ trong bóng tối, Cao Đức thấy rõ trong tay Flora lại xuất hiện một chiếc lá xanh nhỏ xíu. Cô bé bắt đầu vung vẩy nó thật nhanh.
- Đại nhân Flora hừ cái gì vậy?
Cao Đức hơi chột dạ.
- Hừ, pháp sư cứ giả vờ không hiểu đi. Mối thù này, đại nhân Flora ghi nhớ rồi.
Thay quần áo xong, Cao Đức xuống thuyền lên bờ, tiến vào thành phố thuộc bến cảng.
Đây là một thành phố nhỏ có môi trường khá giống Iceland ở kiếp trước của hắn. Ánh sáng trên đường phố yếu ớt, người qua lại thưa thớt. Hơn nửa thời gian trong năm, ban ngày ở đây chỉ kéo dài từ bốn đến sáu giờ.
Nhà cửa trong thành cũng tương đối thấp, gần như đều xây bằng đá thô sơ, chẳng có mấy đồ trang trí. Chúng nặng nề, mộc mạc nhưng đủ sức chống chọi gió rét.
Đây là một thành phố nằm dưới chân núi tuyết Danton thuộc dãy Erwenlaya.
Nơi này tên là:
Ellaheim.