Chương 129: Đôi khi gặp được chuyện lạ đời
Khí hậu Công quốc Sione nóng nực vô cùng.
Dù lúc này đã sang tháng Ám Dạ, hơn một tháng trôi qua kể từ tháng Nhật Diệu nóng nhất trong năm, không khí vẫn hừng hực oi nồng.
Cao Đức chậm rãi bước trên con đường trong Học viện Seris, vừa đi vừa ngắm những tòa nhà mang phong cách khác nhau ở hai bên.
Dường như từng viên gạch, hòn đá nơi đây đều ánh lên vẻ huy hoàng của học viện lâu đời, phảng phất hơi thở quyền lực.
Chẳng ai ngờ được, ngay cả Cao Đức cũng không thể ngờ, mới nửa năm trước hắn còn là một học đồ nhỏ nhoi ở thành Hogen, ngày ngày lo lắng cho mạng sống của mình. Vậy mà nửa năm sau, hắn đã đặt chân tới Thánh Sione, trung tâm của Công quốc Sione.
Hắn còn được vào học tại học viện pháp sư danh giá nhất toàn công quốc.
Đời người quả thật lắm chuyện kỳ diệu.
Cao Đức men theo đường chính của học viện, đi tới khu giảng đường.
Tòa nhà nhỏ nơi đặt khoa Phù Văn đã hiện ra trước mắt.
Đó là một tòa nhà đen sì, đồ sộ, trông lạnh lẽo và nghiêm nghị. Trước cửa có hai tấm biển, một tấm đề “Khoa Phù Văn”, tấm còn lại ghi “Tòa Gavin”.
Cao Đức đã tìm hiểu quy tắc đặt tên các tòa nhà trong học viện.
Tên Tòa Gavin có lẽ cho biết tòa nhà này được xây dưới thời Gavin Hogg làm viện trưởng, do chính ông đứng ra chủ trì.
Xem ra đây vẫn là một tòa nhà khá mới.
Hắn quét thẻ thân phận qua trận pháp ma pháp ở lối vào Tòa Gavin, dễ dàng đi vào bên trong.
Trong tòa nhà yên ắng như tờ.
Hắn thậm chí nghe rõ tiếng đế giày chạm sàn, đều đều vang lên.
Khoa Phù Văn vốn là khoa có ít người nhất trong học viện. Số đạo sư ít nhất, học đồ cũng ít nhất.
Nguyên nhân rất đơn giản: Phù Văn học quá khó, quá nhiều người còn chẳng nhập môn nổi!
Thế nhưng khoa Phù Văn ít người nhất lại được phân cho một tòa nhà mới tinh, riêng biệt như thế này.
Phải biết, trong cả học viện, số khoa có riêng một tòa nhà chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Điều đó đủ thấy Phù Văn học tuy khó, nhưng xứng đáng với độ khó ấy và được coi trọng đến mức nào.
Quả đúng là vậy. Phù Văn sư xưa nay vẫn được xem là đứng đầu trong ba nghề chế tạo ma pháp.
Cao Đức men theo hành lang đi tới, cuối cùng cũng gặp một học viên.
Hắn bước lại hỏi:
- Xin hỏi văn phòng đạo sư Hà Tây ở đâu?
Học viên kia trông đã lớn tuổi, hẳn là người nhập học từ nhiều năm trước. Thấy Cao Đức lạ mặt, gã thoáng cảnh giác:
- Ngươi tìm Chủ nhiệm Hà Tây có việc gì?
Cao Đức gật đầu, thành thật đáp:
- Tôi là học viên mới, được phân làm môn sinh của Chủ nhiệm Hà Tây. Hôm nay tôi tới trình diện.
- Ngươi được phân vào môn hạ của Chủ nhiệm Hà Tây ư? Sao có thể? Xưa nay Chủ nhiệm Hà Tây đâu có nhận học viên…
Gã học viên già ngạc nhiên ra mặt. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, gã hỏi:
- Ngươi là học viên mới nhập học nhờ thư tiến cử của Viện trưởng Gavin?
- Là tôi.
Cao Đức thản nhiên thừa nhận, chẳng lấy làm ngượng ngùng.
- Thảo nào. Theo quy định của học viện, học viên được nhận vào với đãi ngộ cao nhất thì dù được phân cho đạo sư nào, vị ấy cũng không thể từ chối.
Gã học viên già tỏ vẻ đã hiểu.
- Văn phòng Chủ nhiệm Hà Tây ở tầng trên cùng, nhưng ông ấy thường chẳng có mặt trong đó. Phần lớn thời gian ông ấy ở xưởng Phù Văn. Nếu muốn gặp thì ngươi đến phòng làm việc Phù Văn ở tầng ba.
Gã nghĩ một lát rồi chỉ đường cho Cao Đức.
- Cảm ơn.
Cao Đức nói lời cảm tạ, sau đó hai người chia nhau đi.
Hắn không hề hay biết, sau khi hắn rời khỏi, gã học viên già đã ngoái nhìn theo bóng lưng hắn.
Trong mắt gã thoáng hiện vẻ thương hại.
Cao Đức lên tầng ba, đi tới trước phòng làm việc Phù Văn, nơi chiếm gần hết diện tích tầng này.
Cửa phòng mở rộng, không có ai đứng ngăn lối.
Cao Đức do dự một chút, cuối cùng vẫn bước vào.
Trước mắt hắn là một gian phòng làm việc rộng lớn, trông chẳng khác nào phòng thí nghiệm trong phim giả tưởng.
Ánh sáng bên trong vừa rực rỡ vừa dịu mắt, hẳn đã được tính toán cẩn thận để tiện thao tác những việc tinh vi.
Trên tường treo kín các bản vẽ phù văn cùng sơ đồ phân tích tương ứng.
Giữa phòng đặt một bàn làm việc rộng rãi, sáng sủa, làm từ vật liệu đặc biệt, trên mặt khắc đủ loại phù văn ma pháp rắc rối.
Giấy nháp và đủ thứ dụng cụ nằm ngổn ngang trên bàn. Có dao khắc bằng vàng tinh luyện, dao nạo hình nêm, bút làm từ những vật liệu ma pháp quý giá…
Sát bên bàn là khu chuyên dùng để khắc vẽ phù văn. Xung quanh dựng kết giới phòng hộ, đề phòng xảy ra sự cố.
Ngoài ra còn có ba giá sách cao ngất, trên đó chất đầy sách, trục cuốn và bản thảo.
Đấy chỉ là những gì nhìn thấy được. Thực ra, bên trong phòng làm việc Phù Văn còn có nhiều thiết kế mà Cao Đức không thể trông thấy.
Chẳng hạn như hệ thống cung cấp năng lượng mạnh mẽ, trận pháp điều khiển nguyên tố tiên tiến, những phù văn cảnh giới và trận pháp giám sát giấu kín. Chúng có thể theo dõi mọi tình huống bất thường, kịp thời phát cảnh báo rồi khởi động biện pháp phòng vệ tương ứng.
Bên trong phòng làm việc còn có một căn phòng nhỏ, lúc này cửa đóng kín.
Cao Đức nhìn quanh nhưng không thấy bóng người.
Hoặc Chủ nhiệm Hà Tây không có mặt ở đây, hoặc ông đang ở trong căn phòng nhỏ bên trong.
Cao Đức nghĩ ngợi rồi gõ lên cánh cửa đang mở. Tiếng gõ vang lên trong phòng yên tĩnh, nghe rõ mồn một. Hắn cất giọng nói với khoảng không:
- Học viên mới Cao Đức đến trình diện đạo sư Hà Tây Oliken.
Tiếng hắn vang vọng trong phòng một chốc.
Ngay sau đó, từ căn phòng nhỏ đóng kín cửa vọng ra giọng một ông lão. Giọng nói già nua nhưng điềm đạm, ung dung, chẳng lộ chút cảm xúc nào.
- Trước đây ngươi từng tiếp xúc với Phù Văn học chưa?
- Chưa từng, thưa ngài.
Cao Đức thành thật đáp.
- Đọc tài liệu trên bàn đi. Đọc xong thì có thể rời khỏi.
Giọng nói ấy lập tức giao việc cho Cao Đức, chẳng buồn chào hỏi xã giao.
Thậm chí ông còn chẳng bước ra gặp mặt hắn.
Cách đối đãi ấy có phần lạnh nhạt, nhưng Cao Đức không thấy khó chịu.
Thật ra, hắn cũng chẳng thích mấy lời khách sáo.
Cách nói thẳng vào việc, giao nhiệm vụ ngay như thế này không những không khiến hắn chán ghét, trái lại còn khá hợp ý.
Cao Đức gật đầu, rồi mới sực nhớ cách một cánh cửa, người bên kia đâu nhìn thấy hắn gật.
Hắn bật cười, không nói thêm gì, lặng lẽ bước tới bàn làm việc giữa phòng.
Nhưng vừa thấy tài liệu và giấy nháp rải bừa bộn trên đó, Cao Đức vẫn khựng lại.
Rốt cuộc đâu mới là tài liệu Hà Tây Oliken muốn hắn đọc?
Ánh mắt Cao Đức lướt nhanh qua đống giấy tờ.
Trước hết, hắn gạt sang một bên những bản vẽ phù văn phức tạp cùng sơ đồ phân tích đi kèm.
Một người chưa từng học Phù Văn như hắn hoàn toàn chẳng hiểu gì. Hà Tây là Chủ nhiệm khoa Phù Văn, cũng không thể bắt một kẻ ngoài ngành vừa vào đã đọc những thứ ấy.
Tiếp đến là những tài liệu phân tích nguyên lý thâm sâu. Lý do cũng vậy.
Thứ Hà Tây muốn hắn xem hẳn phải là tài liệu đơn giản, vừa nhìn đã hiểu.
Cao Đức không hỏi Hà Tây Oliken xem cụ thể nên đọc thứ nào.
Hắn thấy hỏi vậy thật ngốc nghếch.
Hắn dựa vào kinh nghiệm của mình để chọn lựa.
Chẳng bao lâu, một cuốn sổ nhỏ đang mở thu hút ánh mắt hắn.
Đây hẳn là sổ ghi chép viết tay, từng dòng chữ bên trong đều do người viết bằng tay.
Giấy đã cũ, ngả vàng, mép giấy quăn lại. Rõ ràng cuốn sổ này có tuổi đời khá lâu.
Lý do khiến Cao Đức chú ý đến nó cũng rất đơn giản: những dòng ghi trong sổ hắn có thể hiểu được.
“Phù văn trông phức tạp, nhưng thực ra có quy luật. Chỉ cần đặt ra những quy tắc căn bản nhất ngay từ đầu, vạn vật sẽ dần tự vận hành và tính toán.”
Đọc câu tổng quát ấy, Cao Đức liền nhận ra cuốn sổ ghi chép nói về gì.
Đây chắc chắn là lý thuyết và khái niệm nhập môn của Phù Văn học!
Đúng thứ dành cho kẻ ngoài ngành như hắn.
Tài liệu Hà Tây Oliken muốn hắn đọc hẳn là cuốn này.
Cao Đức tiếp tục đọc.
“Sáu quy tắc cơ bản của phù văn:
“Quy tắc thứ nhất: Trong mọi trường hợp, phải bảo đảm giá trị chống nhiễu thực tế do tất cả phù văn trong trận pháp tạo ra nhỏ hơn giá trị chống nhiễu tối đa trên lý thuyết mà trận pháp ấy có thể chịu đựng. Nếu không, trận pháp chắc chắn sẽ thất bại.
“Quy tắc thứ hai: Nhiều phù văn cơ sở liên kết với nhau sẽ tạo thành phù văn tổ hợp; nhiều phù văn tổ hợp liên kết sẽ tạo thành trận pháp ma pháp.
“Trong một phù văn tổ hợp, mỗi phù văn cơ sở phải có đôi có cặp. Tỉ lệ năng lượng giữa mỗi phù văn cơ sở bậc thấp và phù văn cơ sở bậc cao là một so với bốn phẩy sáu mươi tư.
“Nhưng nếu hai phù văn cơ sở bậc thấp giống nhau liên kết với nhau, thì năng lượng do cặp phù văn bậc thấp ấy tạo ra sẽ bằng năng lượng của phù văn bậc cao, tức bốn phẩy sáu mươi tư, chứ không phải hai.
“Quy ước năng lượng của phù văn bậc không là một. Cộng năng lượng của tất cả phù văn tổ hợp trong trận pháp ma pháp sẽ ra tổng năng lượng của trận pháp.
“Quy tắc thứ ba: Một phù văn cơ sở bất kỳ không được liên kết với quá tám phù văn cơ sở cùng bậc; số phù văn cơ sở giống hệt nó được liên kết không được vượt quá hai. Nếu có hai phù văn như vậy, hướng sắp xếp của chúng phải ngược nhau, nếu không phù văn tổ hợp sẽ không thể phát huy tác dụng.
“Quy tắc thứ tư: Phù văn phải được khắc trên vật liệu dẫn ma. Vật liệu dẫn ma có chỉ số cản ma, dùng để đo khả năng dẫn ma tốt hay kém.
“Chỉ số cản ma cho biết vật liệu dẫn ma cản trở ma lực đến mức nào, đó là đặc tính vốn có của vật liệu. Chỉ số càng thấp, vật liệu càng ít cản trở ma lực, khả năng dẫn ma càng tốt. Ngược lại, chỉ số càng cao, vật liệu càng cản trở ma lực, khả năng dẫn ma càng kém.
“Có thể đo chỉ số cản ma bằng phép thử ma lực.
“Quy tắc thứ năm: Trong một trận pháp ma pháp, cứ hai phù văn bất kỳ nằm cạnh nhau thì hợp thành một cặp phù văn.
“Một phù văn có thể ghép thành nhiều cặp với những phù văn kề bên. Chỉ cần một phù văn trong cặp thay đổi, cặp ấy sẽ được xem là một cặp phù văn mới.
“Nhưng nếu hai phù văn trong một cặp giống nhau, cặp ấy sẽ trở thành cặp gây nhiễu.
“Quy tắc thứ sáu: Giá trị chống nhiễu trên lý thuyết của trận pháp ma pháp bằng số phù văn trên vật liệu dẫn ma nhân với số cặp phù văn, rồi nhân với (1 trừ chỉ số cản ma). Giá trị chống nhiễu thực tế bằng tổng năng lượng của trận pháp ma pháp nhân với số cặp gây nhiễu.”