Chương 13: Huyện nha, phòng Hình - Trẫm

Trang chủ › Trẫm › Chương 13

Chương 13 - Huyện nha, phòng Hình

☰ DS Chương 📖 2,501 chữ

Một viên thư lại già bưng quyển sách tới, giọng hơi nịnh nọt:

- Tiểu công tử, đây là bộ Đại Minh luật.

- Đa tạ tiên sinh.

Triệu Hãn đón lấy bằng hai tay.

Viên thư lại cười đáp:

- Không dám nhận.

Suốt ngày nhàn rỗi đến phát chán, Triệu Hãn bèn nghĩ cách kiếm bộ Đại Minh luật đọc cho khuây khỏa.

Một là để giết thời gian, hai là ôn lại mặt chữ phồn thể, ba là tìm hiểu đôi chút luật lệ triều Minh.

Đám thư lại trong huyện nha chẳng rõ lai lịch của Triệu Hãn. Kẻ cho rằng hắn là bậc hậu bối của Phí Ánh Hoàn, người lại tưởng hắn là hậu bối của Vương Dụng Sĩ. Dù nghĩ thế nào, họ cũng đối đãi với hắn khá cung kính, mặc nhiên để hắn ra vào các phòng trong huyện nha tùy ý.

Mượn uy người khác để dọa người, Triệu Hãn đã nắm được cái khéo bên trong!

Còn chuyện làm thư đồng, đương nhiên hắn chưa bàn với em gái. Triệu Trinh Phương chắc chắn sẽ nói: “Mọi chuyện nghe theo nhị ca.”

Làm người ở cho nhà khác, miễn không bị ngược đãi, thật ra hắn chẳng thấy nặng lòng.

Ít ra còn hơn làm ăn mày. Hai ba tháng nữa là vào đông. Gặp thời tiểu băng hà, mùa đông miền Nam e cũng chẳng dễ chịu gì. Lỡ em gái lại ốm sốt thì sao?

Chỉ cần hắn lớn khôn, đến lúc ấy muốn đi thì đi.

Trốn khỏi nhà chủ sẽ thành dân không hộ tịch ư?

Hắn vốn đã là dân lưu lạc, có mất mát gì đâu.

Huống hồ Đại Minh sắp tàn rồi. Đến lúc ấy, dân lưu lạc sẽ đầy đường. Biết đâu hắn còn làm nên nghiệp lớn.

Bắt hắn cúi đầu làm dân lành dưới ách người Mãn, Triệu Hãn tự thấy mình không có phúc ấy. Kiểu tóc đuôi chuột đồng tiền xấu đến phát khiếp. Thế nào hắn cũng phải chống lại một phen. Thành công thì tốt, thất bại thì đi tu, hoặc đưa em gái vượt biển lưu vong.

Sở dĩ hắn chưa nhận lời Phí Ánh Hoàn ngay, chỉ vì muốn đợi Vương Dụng Sĩ trở về. Biết đâu Vương tri huyện có thể đưa ra điều kiện tốt hơn?

…

Ngồi trong phòng Hình, Triệu Hãn mở bộ Đại Minh luật ra đọc.

Đầu sách là lời tựa do đích thân Chu Nguyên Chương viết, nói rõ ý định và ý nghĩa khi ban hành bộ luật. Tiếp đó là quy định để tang bậc trưởng bối.

Tang phục có năm bậc: trảm thôi, tề thôi, đại công, tiểu công và ti ma.

Nói cho dễ hiểu, tùy mức độ thân sơ với người đã khuất mà mặc đồ tang khác nhau. Kiểu áo tang mỗi bậc cũng chẳng giống nhau.

Triệu Hãn vừa đoán vừa đọc, nhìn chung không khó hiểu. Chỉ có vài thuật ngữ khiến hắn chịu, đành hỏi viên thư lại già trong phòng Hình:

- Tiên sinh, mẹ kế, mẹ nuôi, mẹ cả, mẹ ruột, mẹ kế sau khi cha tái giá, những cách gọi này ta đều hiểu. Vậy “từ mẫu” chỉ ai?

Viên thư lại kiên nhẫn giải thích:

- Mẹ cả hoặc mẹ ruột qua đời, đứa trẻ được thiếp của cha nuôi nấng, người thiếp ấy chính là từ mẫu của nó.

- Ra là vậy.

Triệu Hãn chợt hiểu.

Thuật ngữ pháp luật quả nhiên khác lời ăn tiếng nói thường ngày. Muốn hiểu cho đúng, phải nhờ người trong nghề giảng giải.

Đọc xong thiên “Phục chế”, Triệu Hãn không khỏi than thầm lễ giáo thật rườm rà.

Chẳng hạn, một người thiếp nếu sinh được con trai thì những người con khác của chồng phải gọi bà ta là “thứ mẫu”. Nếu không sinh con trai, bà ta chẳng được xem là “thứ mẫu”, cũng chẳng có địa vị xứng đáng trong nhà. Quả thật sinh được con thì địa vị người mẹ mới cao lên!

Đọc tiếp xuống dưới, Triệu Hãn bỗng tỉnh cả người.

Ghê thật, đến cả hình phạt lăng trì cũng có hẳn một thiên!

Mà điều khoản xử lăng trì không ít, đâu chỉ dành cho những tội lớn như mưu phản.

Nếu vô cớ giết từ ba người trong cùng một nhà trở lên, quan chủ thẩm có thể phán lăng trì. Con cháu đánh chết bậc trưởng bối cũng có thể chịu hình phạt ấy.

Trưởng bối chết mà chiếm lấy vợ thiếp của người ấy, chém đầu!

Anh em chết mà lấy chị dâu hoặc em dâu, xử giảo hình!

Triệu Hãn hỏi viên thư lại:

- Tiên sinh, chuyện lấy chị dâu hay em dâu, e là không thật sự bị xử giảo hình chứ?

Viên thư lại cười:

- Luật là luật, người sống còn phải xét tình cảnh. Nhà nghèo, anh chết để lại người vợ góa nuôi con vất vả, em trai lại chẳng có tiền cưới vợ. Vậy em lấy chị dâu thì có sao? Mọi người đều vui vẻ cả. Dân không kiện, quan chẳng xét.

Nghe ngược lại cũng hiểu được: em lấy chị dâu là trái lễ giáo. Dân mà kiện thì quan ắt xử!

Đọc tiếp, Triệu Hãn bắt đầu thấy lạnh gáy.

Đánh anh chị hoặc bậc trưởng bối trong vòng bốn đời, khiến họ bị thương nặng, bất kể nguyên do đều bị xử giảo hình!

Đại Minh luật quả nhiên hà khắc.

Cả ngày hôm ấy, Triệu Hãn chỉ đọc xong ba thiên trong phòng Hình. Hắn ôm sách luật, định mang vào nhà trong của huyện nha đọc tiếp.

Trước khi đi, hắn chợt hỏi:

- Xin hỏi tiên sinh, con nuôi nam, tức người hầu, thì vào sổ hộ tịch nào?

Viên thư lại ngẩn ra, rồi giải thích tường tận:

- Hộ tịch chia làm hộ chính và hộ phụ. Con nuôi nam sống chung với chủ thì ghi vào hộ chính của nhà chủ, được xem như con cháu trong nhà. Nếu có ruộng đất và sống riêng thì ghi vào hộ phụ của nhà chủ, được xem như người làm thuê. Ngoài ra, con nuôi nam, con nuôi nữ mới được nhận nuôi chưa lâu cũng chỉ được xem như người làm thuê.

Triệu Hãn cau mày:

- Người làm thuê là thế nào?

Viên thư lại giải thích:

- Chuyện này khó nói cho rõ. Người làm thuê ở giữa hạng lương dân và tiện dân, chẳng hẳn là lương dân, cũng chẳng hẳn là tiện dân. Trong thời gian làm thuê, họ bị xem là tiện dân, phải dựa vào nhà chủ, địa vị còn kém cả gia nô. Nhưng khi khế ước thuê mướn chấm dứt, họ có thể trở lại làm lương dân, con cháu cũng được dự thi khoa cử.

Hay thật, Triệu Hãn được mở mang tầm mắt.

“Người làm thuê” ở đây không giống người đi làm thuê thông thường, mà là một thuật ngữ pháp luật thời Minh. Dân gian gọi họ là “nô làm thuê”, chẳng phải người lao động bình thường.

Nhà chủ không xem họ là người nhà nên thường đối xử khắc nghiệt, đến gia nô cũng có thể bắt nạt họ. Nhưng ít ra họ vẫn còn chút hy vọng. Họ không phải đổi họ tổ tiên, con cháu vẫn được dự thi khoa cử!

Theo lý, hết hạn thuê mướn thì người làm thuê có thể tự do rời đi.

Nhưng ngoài đời, họ thường bị chủ nhân bạc đãi, chẳng tích cóp nổi đồng nào. Không có tiền thì lấy gì dựng nhà riêng? Chi bằng cứ yên phận làm gia nô còn hơn.

- Đa tạ tiên sinh chỉ giáo.

Triệu Hãn ôm bộ Đại Minh luật, bước về phía nhà trong của huyện nha.

…

Vương Dụng Sĩ đã về huyện thành, nhưng hiếm khi trở lại huyện nha.

Gan ông lớn thật. Thuế lương mùa hè đã thu được mà ông vẫn giữ lại, nhất quyết không nộp lên phủ Hà Gian. Thay vào đó, ông đem tiền lương ấy cứu tế dân đói trong huyện, rồi dâng sớ xin hoàng đế giảm thuế.

Không nộp thuế lên trên, việc xét thành tích quan lại ắt khó mà đạt yêu cầu.

Vương Dụng Sĩ đang đem tiền đồ của mình ra cứu mạng vô số dân đói!

Chưa hết, ông còn dựa vào uy thế sau khi chém chủ bộ, dẹp giặc cướp để ép các lái buôn lương thực hạ giá, buộc nhà giàu quyên tiền quyên thóc. Trong phút chốc, đám thân sĩ dậy sóng, oán thán khắp nơi.

Có tiền, có lương, có người, Vương Dụng Sĩ dựng kho quan, cho dân đói vay giống lúa.

Những người không có ruộng cày thì được huy động làm việc để nhận cứu tế. Họ sửa sang huyện thành, nạo vét kênh rạch, dựng lại trạm dịch Đường Quan Đồn đã bỏ hoang.

Bận đến tối tăm mặt mũi, Vương tri huyện đã quên bẵng Triệu Hãn.

Mãi nửa tháng sau, Phí Ánh Hoàn mới gặp lại Vương Dụng Sĩ.

Vương Dụng Sĩ mệt mỏi, tiều tụy, trông già đi hẳn. Ông cười nói:

- Đại Chiêu huynh đúng là số hưởng như công tử nhà giàu, ngày tháng trôi qua nhàn nhã sung sướng nhỉ.

Phí Ánh Hoàn thở dài:

- Ôi, Kỳ Triệu huynh, hà tất phải làm đến nông nỗi ấy? E chiếc mũ ô sa của huynh chẳng đội nổi sang năm.

Vương Dụng Sĩ tuy bất đắc dĩ, nhưng vẫn cười được. Ông làm ra vẻ nhẹ nhõm:

- Ta vốn chẳng có số làm quan. Bãi chức về quê sớm cũng hay. Một người mất chức còn hơn muôn dân mất mạng, tính ra món này đáng lắm. Nhà Phật có câu, cứu một mạng người còn hơn xây bảy ngọn tháp. Phen này ta xây được mười vạn tầng tháp, biết đâu con cháu cũng được hưởng chút phúc ấm.

Phí Ánh Hoàn không biết đáp sao, đành sửa lại áo mũ, cúi mình vái ông thật sâu.

Vương Dụng Sĩ mỉm cười:

- Ta đã sai người phụ tá đến phủ Hà Gian, xoay xở với tri phủ và quan ngự sử. Chỉ mong chiếc mũ quan này đội được qua mùa xuân năm sau, để dân chúng khỏi lúc hết thóc giống mà chưa có lúa mới, rồi lại đói thêm một trận khốn kiếp.

Lòng Phí Ánh Hoàn nặng trĩu, hổ thẹn nói:

- Kỳ Triệu huynh một lòng lo cho muôn dân, ta chẳng bằng được.

Vương Dụng Sĩ bỗng cười lớn:

- Dù sao chức tri huyện này của ta cũng nhờ bạc mở đường mà có. Mất thì mất, cùng lắm thiệt ít tiền, coi như đem ném cho kỹ nữ trong lầu xanh.

Cuối cùng Phí Ánh Hoàn cũng bị chọc cười, mỉm cười đáp:

- Quan ở Bộ Lại quả chẳng khác gì kỹ nữ, đưa đủ bạc thì ai đến cũng tiếp.

Vương Dụng Sĩ càng cười sảng khoái:

- Nói thế thì Bộ Lại chính là lầu xanh lớn nhất thiên hạ!

Phí Ánh Hoàn góp vui:

- Thượng thư là tú bà, thị lang là cò mồi.

- Ha ha ha ha!

Vương Dụng Sĩ cười đến ứa nước mắt, chợt nghiến răng hỏi:

- Đại Chiêu huynh, chúng ta vùi đầu đèn sách bao năm, rốt cuộc là phường kỹ nữ hay khách làng chơi?

Phí Ánh Hoàn lẩm bẩm:

- Chắc là phường kỹ nữ.

Vương Dụng Sĩ nói:

- Dẫu là phường kỹ nữ, ta cũng phải làm Lương Hồng Ngọc.

Phí Ánh Hoàn bĩu môi:

- Ta giỏi lắm cũng chỉ làm được Tô Tiểu Tiểu.

- Làm Tô Tiểu Tiểu đã đủ rồi.

Vương Dụng Sĩ đau xót nói:

- Quan lại thiên hạ, kẻ chẳng bằng phường kỹ nữ nhiều không kể xiết. Được làm danh kỹ một thời đã là chuyện khó.

Hai người ngồi chuyện trò bên nhau hồi lâu, sau cùng dứt khoát lên lầu thành uống rượu.

Mặt trời lặn xuống.

Phí Ánh Hoàn phủi mông đứng dậy, chắp tay nói:

- Kỳ Triệu huynh, ngu huynh đến để từ biệt.

- Bao giờ đi?

Vương Dụng Sĩ hỏi.

Phí Ánh Hoàn đáp:

- Ngày mai đi.

- Chúc huynh thượng lộ bình an.

Phí Ánh Hoàn nói:

- Đứa trẻ dâng kế phá giặc, ta định nhận làm thư đồng cho con trai. Nó chưa trả lời, chắc vẫn đợi gặp huynh.

Vương Dụng Sĩ cau mày:

- Sao lại thừa lúc người ta sa cơ mà ép nó?

Phí Ánh Hoàn đáp:

- Quả là ta đã lợi dụng lúc nó khốn khó. Nhưng nhà họ Phí sa sút đến mức này, con trai ta lại bẩm sinh khờ khạo. Lỡ ngày nào ta chết, nó chắc chắn không giữ nổi cơ nghiệp nhà họ Phí ở Nga Hồ, sớm muộn cũng bị các chi khác nuốt sạch. Ta phải để lại cho con một người có thể phò tá nó.

- Đại Chiêu huynh quả đã nhọc lòng tính toán.

Vương Dụng Sĩ tỏ vẻ thông cảm.

Phí Ánh Hoàn nói:

- Đứa trẻ ấy lanh lợi hơn người, sau này ắt chẳng chịu bó mình trong ao cạn. Nếu thật sự có tài kinh bang tế thế, ta sẽ giúp nó thăng tiến, để nó thành chỗ dựa vững chắc cho nhà họ Phí ở Nga Hồ. Nếu chỉ có tài cán bậc trung trở lên, nó cũng đủ sức giúp con ta giữ gia nghiệp. Tính thế nào cũng chẳng thiệt.

Vương Dụng Sĩ cười:

- Huynh tính toán khéo thật. Thôi được, ta sẽ sai người gửi cho nó hai mươi lạng bạc trắng, cũng giúp Đại Chiêu huynh dập tắt mơ tưởng của nó. Chăm bồi dưỡng cho tốt, biết đâu sau này nó được vào Nội các làm tể tướng. Đến lúc ấy hãy gả con gái cho nó, nhà họ Phí ở Thiếc Sơn chẳng phải lại hưng thịnh hay sao?

Phí Ánh Hoàn dở khóc dở cười:

- Kỳ Triệu huynh, sao còn phải châm chọc ta?

Vương Dụng Sĩ phỉ nhổ:

- Huynh đúng là đồ khốn. Hai ông cử nhân lại tính kế một đứa trẻ. Mặt dày vô liêm sỉ hết chỗ nói!

Phí Ánh Hoàn phân bua:

- Tính kế thì có tính kế, nhưng ta đâu làm chuyện thương thiên hại lý. Hơn nữa, ta còn cứu mạng hai anh em chúng nó.

- Không phải vì thế thì lão đây chẳng đời nào giúp huynh!

Vương Dụng Sĩ lại buột miệng chửi thề:

- Đồ chó chết nhà huynh tuy khéo lươn lẹo, nhưng vẫn còn chút lương tâm. Chứ đám thú đội lốt người trong triều, lương tâm đã bị chó tha mất rồi!

‹ ☰ ›