【Pháp Thiên Nhãn】
【Cao giai: Nhất Chuyển】
【Công hiệu: Hồn phách thông suốt sức mạnh đất trời, có thể trông thấy quỷ thần, nhìn thấu lớp ngụy trang của pháp thuật.】
“Mệnh hồn trú trong bào thai, thân xác phàm tục khiến nó không thể mở mắt nhìn thế gian.”
“Nhưng giờ đây ta đã mở được Thiên Nhãn, chẳng khác nào sở hữu thần thức, thần niệm bản suy yếu.” Triệu Hưng quan sát thức hải của mình.
Mệnh hồn trong thức hải giống hệt hắn. Thân hình vẫn còn mờ nhạt, riêng đôi mắt ánh lên sắc vàng nhạt, rắn chắc hơn hẳn những bộ phận khác.
Pháp Thiên Nhãn Cao giai, nếu tiếp tục tiến cấp, sẽ hình thành một môn thần thông gọi là Thiên Thị Địa Thính.
Môn thần thông ấy lợi hại đến mức, dù cách xa nghìn dặm, vẫn có thể giám sát từng cử động của kẻ địch.
Có điều, thần thông phải đợi đến thời đại linh khí khôi phục mới xuất hiện được.
Trước mắt, pháp Thiên Nhãn nhiều lắm chỉ có thể tu luyện đến cấp cao nhất.
“Lục Phẩm Thiên Cương, Ngũ Phẩm Thuần Nguyên, Tứ Phẩm Nguyên Phách, Tam Phẩm Nguyên Hồn.”
“Từng bước tiến lên Tam Phẩm, mệnh hồn cũng sẽ mạnh theo. Khi ấy nó không còn bị thân xác trói buộc, có thể tạm thời rời khỏi cơ thể.”
“Nhưng muốn hồn du thái hư thì cần thêm nhiều chỗ dựa nữa.” Triệu Hưng nhớ tới Huyết Linh Tôn Giả từng gặp ở Cốc Thành.
Như Huyết Linh Tôn Giả, không những có thể để hồn phách lang thang giữa khoảng không mênh mông, mà còn có thể phân tách mệnh hồn.
Có điều, pháp môn của nó phải nhờ vào việc tín đồ hiến tế máu thịt, lấy tín ngưỡng, khí huyết và linh hồn của người khác làm chỗ dựa, nhờ vậy mới có thể tồn tại rải rác khắp nơi trên thế gian.
Cách làm của Huyết Linh Tôn Giả giúp nó đi được rất xa, nhưng thực lực của từng thân thể lại khá yếu.
Khi ấy, tại xưởng bỏ hoang ở Cốc Thành, một vị âm thần như Đông Hồ Bá cũng có thể quấn lấy nó hồi lâu.
Nhưng với Huyết Linh Tôn Giả, mất đi một phần mệnh hồn chẳng đáng kể gì. Chỉ cần bản thể không bị thương, chuyện ấy cũng giống như cắt mất móng tay, rồi sau đó vẫn mọc lại được.
Nếu bản thể mệnh hồn bị tổn thương thì lại là chuyện khác. Những bảo vật có thể chữa trị hồn phách, phần lớn đều từ Thất Giai trở lên.
“Mệnh hồn đạt tới Tam Phẩm là có thể hồn du thái hư. Đến lúc ấy mới thật sự mạnh.” Triệu Hưng thầm nghĩ.
Thái hư ở đây chính là khoảng không rộng lớn vô cùng.
Mệnh hồn rời khỏi cơ thể vốn là chuyện nguy hiểm, vậy vì sao vẫn có người thích làm như thế?
Dĩ nhiên là bởi nó đem lại lợi ích.
“Đợi ta đạt cảnh giới Tam Phẩm Nguyên Hồn, mệnh hồn có thể đi vào Âm Giới, tìm những loài cây quý hiếm nơi đó rồi mang về tự trồng.”
“Các giống cây bản địa của Âm Giới, gần như đều từ Thất Giai trở lên. Cây Phệ Hồn, cây Bạch Cốt, dây Ma Quỷ… loài nào cũng là binh chủng lợi hại khi giao chiến.”
Mệnh hồn càng mạnh, lợi ích đem lại càng nhiều.
Huống chi hắn còn dùng thứ kỳ vật như đan Mệnh Hồn, hiệu quả lại càng kinh người.
Nếu một võ giả Thất Phẩm dùng đan này, mệnh hồn đạt tới Lục Phẩm thì khả năng điều khiển thân thể sẽ tăng vọt. Chẳng hạn trước kia chỉ có thể sử dụng một thanh đao, sau khi uống đan liền có thể múa được song đao.
Chẳng khác nào nâng cao thiên phú của võ giả.
Nếu là kiếm tu như Long Tiêu, sau khi dùng đan Mệnh Hồn, biết đâu hắn có thể điều khiển thêm một thanh phi kiếm.
Sức chiến đấu được tăng cường ra sao, nhìn là hiểu ngay.
Đối với Triệu Hưng, mệnh hồn đạt tới Lục Phẩm sơ kỳ khiến khả năng điều khiển nguyên khí và pháp thuật của hắn mạnh lên rõ rệt.
Ngay sau đó, hai môn pháp thuật cũng lần lượt đột phá.
Thế nhưng Triệu Hưng cảm thấy thu hoạch lớn nhất lần này lại không phải pháp Thuốc Ngủ Cao Giai hay pháp Thiên Nhãn.
Mà là pháp Người Cỏ.
Triệu Hưng còn chưa thử nghiệm, song hắn có cảm giác, nếu bây giờ thử hợp nhất bốn pháp, thậm chí năm pháp, chắc chắn sẽ nhẹ nhàng hơn trước rất nhiều.
Số lượng người cỏ có thể đồng thời điều khiển cũng sẽ tăng lên.
“Uống đan Mệnh Hồn rồi, biết đâu ta có thể giống lão Liễu, sớm nắm giữ được người cỏ bản ngã, dùng nó diễn hóa vạn pháp.”
Người cỏ bản ngã, Triệu Hưng nhất định phải học.
Dùng người cỏ bản ngã diễn hóa vạn pháp cũng giống như thử sai với cái giá cực thấp. Những pháp thuật nguy hiểm, những pháp thuật có tác dụng phụ, cứ để người cỏ bản ngã thử trước một lượt.
Như vậy, dù gặp phải thương thế khó cứu vãn, bản thể cũng không bị liên lụy.
Người cỏ bản ngã chẳng khác nào một “bảng điều khiển hình người”. Nó có thể liên tục thử nghiệm, giúp tìm ra con đường chính xác nhất.
Liễu Thiên Ninh lợi hại như vậy, dĩ nhiên là có nguyên do.
Trong Vạn Pháp Cung của hắn có rất nhiều người cỏ bản ngã, gần như lúc nào cũng diễn luyện pháp thuật. Thật khó tưởng tượng chiến lực chân chính của Liễu Thiên Ninh mạnh đến mức nào.
Lần Triệu Hưng xông qua Đài Vấn Tâm, trong ảo cảnh hình thành từ tiềm thức, cuối cùng hắn cũng phải tìm đến Liễu Thiên Ninh giúp đỡ mới thoát khỏi sự quấy nhiễu dữ dội của ảo cảnh.
Nói đúng hơn, Triệu Hưng đã nghĩ tới Liễu Thiên Ninh, nhớ lại từng cảnh tượng trong Vạn Pháp Cung. Sau khi chứng thực bản thân, hắn mới thoát được khỏi ảo cảnh.
Nếu không, hắn sẽ chẳng thể ngưng tụ suy nghĩ, cũng không thể tập trung tinh thần. Cứ thế, hắn sẽ mãi luân hồi trong ảo cảnh.
“Bây giờ ta biết mười một môn pháp cao giai, chẳng lẽ Liễu Thiên Ninh biết hơn một trăm môn?” Triệu Hưng không khỏi cảm khái. “Hắn đã gia nhập Bộ Giám Sát Binh Giới rồi. Cánh cửa ấy đâu dễ bước qua.”
Lần trước đoàn điều tra xuất hiện, Đàm Đài Minh và Phàn Chiếu Lê đều được xem là những người già đời, ít nhất cũng đã sống ba, bốn trăm năm. Vậy mà Liễu Thiên Ninh vẫn trẻ hơn họ rất nhiều.
Sau khi dùng đan Mệnh Hồn, tinh thần Triệu Hưng phấn chấn hẳn lên. Hắn làm quen với tình trạng cơ thể một lượt, rồi lại tiến vào Đại Mộng Học Cung.
Hắn nhớ trong học cung vẫn còn Thiên Cơ Các chưa đến xem.
Khi nãy, vì xông qua Đài Vấn Tâm tiêu hao quá nhiều sức lực, hắn bị đá thẳng ra ngoài.
“Vù…”
Lần này vừa tiến vào, Triệu Hưng đã bay xuyên qua mây mù, đi thẳng tới trước một tòa lầu các.
Thiên Cơ Các được xây theo kiểu tháp lầu. Triệu Hưng ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy tòa lầu vươn thẳng tận mây xanh, không sao trông thấy đỉnh.
Những gì hắn nhìn thấy chỉ là năm tầng đầu tiên của Thiên Cơ Các.
“Đây là kiến trúc mới. Đại Mộng Học Cung thời Võ Đế vốn không có Thiên Cơ Các.”
Triệu Hưng thầm đoán nguyên nhân Võ Đế xóa bỏ Thiên Cơ Các.
Bởi trong Binh Giới của Đại Chu có một cơ cấu thần bí tên là Thiên Cơ Điện.
Nơi đó nuôi dưỡng toàn những quan mệnh của triều đình.
Thái Tổ Đại Chu đã giáng cho các nghề bói toán, âm dương sư và những nghề xem mệnh khác một đòn rất nặng. Thế nhưng hoàng thất lại học lấy sở trường ấy để dùng cho mình. Mỗi năm, hoàng tộc đều tuyển ra những người xuất chúng, đưa vào Thiên Cơ Điện.
Chức năng của Thiên Cơ Điện là dự đoán tương lai, nhìn trộm biến hóa vận mệnh của Đại Chu, đoán trước hướng đi của chiến tranh, thiên tai, biến động của động thiên và nhiều chuyện khác.
Thần khí trấn điện nổi tiếng nhất của nơi đó chính là Bàn Tạo Hóa.
Thiên Cơ Các trong Đại Mộng Học Cung hẳn có tính chất tương tự Thiên Cơ Điện của Đại Chu, vì vậy mới bị Võ Đế xóa bỏ.
“Cách làm của mỗi triều đại mỗi khác. Xem ra Thiên Cơ Các của Đại Lệ không chỉ phục vụ hoàng thất.”
Triệu Hưng hít sâu một hơi rồi bước vào lầu các.
Vừa đặt chân vào trong, bên tai hắn liền vang lên một giọng nói xa xưa, cổ kính:
- Tính suy cùng tận, lần tìm cội nguồn tạo hóa. Xem mệnh, xét tướng, bói quẻ, đoạt lấy biến hóa của thiên cơ.
Triệu Hưng ngẩng đầu nhìn quanh. Lần theo giọng nói, hắn phát hiện một con chim nhỏ đang đứng trên chiếc tủ cao, cất tiếng ngâm nga.
Mỏ nó ngậm một quyển sách, cái đầu lắc lư theo từng nhịp.
Nhìn rõ hình dáng con chim, Triệu Hưng giật mình.
- Huyền Điểu Thiên Mệnh?
- Đây là thú cơ quan hay chim thật vậy?
Huyền Điểu Thiên Mệnh có tuổi thọ rất dài, sống hơn mười nghìn năm cũng chẳng phải chuyện lạ. Chẳng lẽ con chim trước mắt là một sinh linh còn sống?
Đang ngẩn người, Huyền Điểu Thiên Mệnh đã mở quyển sách ra, dùng móng vuốt lật một trang.
Ngay sau đó, màn sương phủ kín tầng thứ nhất chậm rãi tan đi.
- Học viên Triệu Hưng, ta là người bảo hộ Huyền Điểu. Ngươi có thể tùy ý đọc sách trong năm tầng đầu của Thiên Cơ Các. Học được bao nhiêu thì tính bấy nhiêu. Nếu không học nổi thì chớ cưỡng cầu.
Triệu Hưng hơi sững lại, chắp tay cúi chào người bảo hộ Huyền Điểu.
- Xin hỏi người bảo hộ, ta không cần vượt qua khảo nghiệm nào sao?
Huyền Điểu liếc hắn một cái.
- Sách bói, sách mệnh, sách tướng, sách quẻ, sách trời, mỗi loại có hàng nghìn quyển, nghĩa lý thì mênh mông vô tận. Cánh cửa học tập chính là khảo nghiệm lớn nhất.
- Ra là vậy.
Triệu Hưng đã hiểu. Hắn không hỏi thêm, cúi chào người bảo hộ lần nữa rồi vượt qua Huyền Điểu, đi sâu vào bên trong.
Tầng thứ nhất có từng dãy tủ lớn nối tiếp nhau, trên tủ chất đầy sách.
Mỗi dãy tủ cao bốn, năm mươi mét, khiến người ta có cảm giác vừa bước vào một thư viện cổ xưa.
“Đúng là một kho báu.”
Triệu Hưng thầm nghĩ, tiện tay lấy một quyển sách đang tỏa ánh sáng lấp lánh, tên là Kinh Thái Huyền.
Hắn vừa mở ra xem, chưa đầy mấy giây đã thấy cơn buồn ngủ kéo tới, đành đặt nó về chỗ cũ.
Tên sách quả nhiên không sai. Nội dung huyền ảo đến mức hắn chẳng thể hiểu nổi.
Triệu Hưng lại lấy quyển Kinh Giải Thái Huyền, thiên Vật Sinh ở ngăn kế bên. Lần này hắn cuối cùng cũng hiểu được đôi phần.
“Vạn vật sinh ra đều có hình tượng, hình tượng sinh ra sẽ có số đếm. Từ những con số mà suy xét, lần tìm tận cùng nguồn gốc tạo hóa… Quyển này nói về việc dùng thuật số để tính toán, suy diễn đạo lý đất trời.”
Triệu Hưng đọc một hồi rồi đặt sách về chỗ cũ.
Kinh Thái Huyền chỉ là cương lĩnh tổng quát, không có pháp thuật cụ thể.
Kinh thường nói về lý luận và tư tưởng.
Pháp thuật mới là cách đem chúng ra ứng dụng.
Triệu Hưng đọc sơ qua đã biết Kinh Thái Huyền không phải thứ mình cần. Muốn học huyền pháp trong đó, phải hiểu hàng vạn quyển kinh thư. Cả dãy tủ này đều là các nội dung liên quan đến Kinh Thái Huyền, cuối cùng mới có khả năng lĩnh ngộ được pháp thuật của nó.
Hắn cũng không định học hết mọi thứ. Hiện giờ thời gian của Triệu lão gia quý giá vô cùng, phải sắp xếp cho hợp lý. Hơn nữa, loại huyền học này rất dễ khiến người ta sa vào. Hắn chỉ cần ghi nhớ sơ lược, đạt đến mức hiểu đại khái là được.
Đến dãy thứ hai, Triệu Hưng lại nhìn thấy một quyển sách tên là Sách Kinh Thế Hoàng Cực.
Đó là một quyển sách nghiên cứu nguồn gốc đất trời, biến đổi của tự nhiên, lịch sử xã hội.
“Xem trời đất thịnh suy, suy nhật nguyệt đầy vơi, xét độ số âm dương, nhìn hình thể cứng mềm. Vì vậy lấy nguyên làm kinh, lấy hội làm kỷ, lấy vận làm khởi đầu, lấy thế làm kết thúc. Lấy đạo trời làm gốc, lấy việc người làm chứng, mọi chuyện hưng phế, trị loạn đều không bỏ sót.”
Triệu Hưng khá hứng thú với quyển sách này, bởi nó chuyên suy tính chuyện quá khứ, lấy quá khứ làm gương để cai trị hiện tại và tương lai.
Chẳng hạn, trong sách có ghi một đoạn:
“Vào năm Giáp Thìn, Kỷ thứ 2158, nước lũ ngập trời, thế gian đại loạn.”
Một kỷ ở đây tương đương một trăm hai mươi năm.
Nói cách khác, tính ngược từ triều Đại Lệ về trước hai trăm năm mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi năm, từng xuất hiện một trận đại hồng thủy ngập tận trời, gần như xé toạc cả vòm trời, khiến thế gian chìm vào đại loạn.
Trong sách còn dự đoán:
“Đến năm Quý Sửu, Kỷ thứ 3247, biển băng cực tây tan giá, tai họa loạn lạc kéo dài vô tận.”
Con số quá lớn, căn bản không thể biết lời tiên đoán ấy có đúng hay không, bởi chẳng ai có cách kiểm chứng.
“Biển băng cực tây quả thật từng tan vào thời hậu thế, nhưng thời gian lại không khớp.”
“Đại Lệ và Đại Chu cách nhau khoảng năm mươi nghìn năm. Quyển sách này lại nói sau ba trăm tám mươi chín nghìn năm, biển băng cực tây mới tan. Đúng là nói nhăng nói cuội.”
“Chỉ hơn hai nghìn năm nữa là linh khí khôi phục, biển băng cực tây tan giá cũng chẳng thể cách xa đến vậy.”
“Còn bảo sau năm đầu Đại Lệ ba kỷ sẽ có linh khí khôi phục, lại càng là chuyện bịa đặt.”
Triệu Hưng bĩu môi, đặt quyển sách về lại giá.
Những phương pháp suy diễn kiểu này có độ chính xác hữu hạn. Đụng đến thời đại linh khí khôi phục thì lại càng sai xa.
Có điều, đối với người xưa, thời đại linh khí chẳng khác nào truyền thuyết. Đoán sai cũng không ảnh hưởng gì.
Đại Lệ suy cho cùng chỉ là vương triều được khí vận của thời đại nguyên khí nâng đỡ, nên phương pháp suy diễn của nó tất nhiên có giới hạn.
Triệu Hưng tiếp tục lật xem. Chẳng bao lâu sau, hắn đã tìm được một quyển sách hữu dụng ở tầng thứ hai.
Kinh Đại Diễn.
“Đại đạo có năm mươi đường, trời diễn hóa bốn mươi chín đường, con người lánh đi một đường. Trời đất gom cả vào vận số, vận mệnh mỗi người lại chẳng giống nhau.”
Nhìn thấy Kinh Đại Diễn, trên mặt Triệu Hưng hiện lên nụ cười.
Cuối cùng cũng gặp được một quyển hữu dụng.
Kinh Đại Diễn chuyên giải thích về khí vận. Trong dãy tủ này, Triệu Hưng tìm thấy một môn pháp tên là Pháp Vọng Khí Đại Diễn.
“Pháp Vọng Khí có thể nhìn ra khí vận của sinh linh, không chỉ riêng con người.”
“Môn bí pháp này thực dụng hơn nhiều.”
Nhìn ra khí vận của người khác, nếu gặp người mang đại khí vận thì cứ áp sát, đi theo hắn kiếm lợi.
Gặp kẻ đang vận rủi đeo bám thì cũng có thể tránh xa.
“Trong này còn nhắc đến cách làm khí vận tăng trưởng. Một trong số đó là đoạt lấy tinh hoa linh tú của đất trời để bồi đắp cho mình.”
“Nhưng sách không nói cách đoạt khí vận của người khác. Cũng phải thôi. Đại Lệ dù thế nào vẫn là một vương triều khí vận đường đường chính chính, sao có thể dạy thứ pháp môn ấy? Muốn tìm phương pháp đó, e rằng phải đến các tông phái ngoài thế tục.”
Pháp Vọng Khí rất dễ học, bởi điều kiện căn bản của nó là mệnh hồn và pháp Minh Mâu.
Cũng nhờ đạt đủ điều kiện, Triệu Hưng mới có thể tiến vào nơi này.
Pháp Vọng Khí là một môn pháp cao giai. Nó chẳng có sức tấn công, nhưng hiệu quả hỗ trợ lại cực kỳ mạnh.
Học xong môn pháp ấy, Triệu Hưng tiếp tục đi dạo trong lầu các.
Hắn tìm kiếm giữa các giá sách. Rất nhiều quyển hắn từng gặp qua, nhưng phần lớn quả đúng như người bảo hộ Huyền Điểu đã nói, hắn không thể học nổi.
Cho dù có thể học, cũng phải xem đang ở thời đại nào. Những sách về mệnh, về tướng và các loại thuật bói toán, tại Đại Chu gần như không thể luyện ra trò trống gì. Thời đại hiện tại chưa thích hợp để tu luyện chúng.
Triệu Hưng nhìn trúng một số quyển sách. Hắn muốn học, nhưng cảnh giới bây giờ chưa đủ, vừa đọc đã buồn ngủ, chẳng hạn như Kinh Thái Huyền, Sách Kinh Thế Hoàng Cực, Kinh Táng, Kinh Lục Hào và những quyển tương tự. Hắn định chờ cảnh giới tăng lên rồi quay lại học.
Những kinh thư ấy quá sâu, hiện giờ bỏ công nghiên cứu cũng chẳng thu được lợi ích gì. Đại Chu chưa sụp đổ, các nghề xem mệnh vẫn chỉ có thể sống lay lắt dưới đáy xã hội, không tài nào ngóc đầu lên được.
Thế nhưng có ba quyển, học ngay bây giờ sẽ đem lại lợi ích. Hơn nữa, chúng có thể tránh được “lời nguyện lập đạo” của Thái Tổ. Dù không phải quan mệnh, người học vẫn có thể phát huy một phần uy lực.
Triệu Hưng chọn ra ba quyển sách có thể học, quyết tâm nghiền ngẫm thật kỹ.
Quyển thứ nhất là Quẻ Rùa Tiền, cần mượn vật bên ngoài để thi triển.
Một thứ là linh quy trong biển, sinh linh dưới đáy biển, không chịu sự khống chế của lời nguyện lập đạo từ Thái Tổ, cũng giống như rất nhiều dị thú chưa được đưa vào hệ thống của vương triều khí vận.
Linh quy có thể gánh chịu cái giá của việc xem mệnh, đồng thời giúp pháp thuật phát huy hiệu quả.
Thứ hai là những đồng tiền đặc biệt, chẳng hạn tiền cổ Tử Kim, tiền Hồng Vận. Đây là những đồng tiền cổ xưa lưu truyền từ Thần đình thượng cổ, có công dụng kỳ lạ. Triệu Hưng biết nơi nào có thể tìm được chúng.
Quyển thứ hai là Sách Chiêm Hậu.
Phương pháp bói toán trong sách này còn liên quan đến nghề Tư Nông.
Bởi nó có thể dự đoán biến đổi khí hậu của đất trời, chẳng hạn nơi nào sẽ xuất hiện biến đổi khí hậu trăm năm, nơi nào sẽ xuất hiện biến đổi khí hậu nghìn năm, và còn bao lâu nữa những biến đổi ấy mới xảy ra.
Sách Chiêm Hậu chia thành hai phần thượng, hạ. Một là Sách Chiêm Hậu trên đất liền, hai là Sách Chiêm Hậu ngoài biển.
Sau khi đại chiến kết thúc, Triệu Hưng chắc chắn sẽ chuyển sang làm Tư Nông văn chức.
Đến lúc ấy, dù là nuôi ngựa hay trồng trọt, môn pháp này đều có chỗ dùng.
Quyển thứ ba là Năm Ngón Định Thiên Mệnh.
Đây là một phương pháp xem mệnh không cần mượn vật ngoài.
Nói theo cách dân gian, chính là bấm ngón tay tính toán.
Năm Ngón Định Thiên Mệnh là bí pháp đỉnh cấp. Dù không làm quan mệnh, người tu luyện vẫn có thể luyện thành pháp thuật này tại Đại Chu. Đây cũng là pháp môn suy diễn vận mệnh được Triệu Hưng coi trọng nhất.
“Mọi phương pháp suy diễn vận mệnh đều bắt đầu từ việc suy xét biến hóa của đất trời.”
“Pháp Năm Ngón Định Thiên Mệnh có thể vòng qua lời nguyện lập đạo của Thái Tổ, bởi nó bắt đầu từ ngũ hành bên trong cơ thể.”
“Ta bói ngũ hành trong tiểu thiên địa của thân thể người. Như vậy đã cách một tầng. Sau đó lại dựa vào kết quả của ngũ hành bên trong để đối chiếu với biến đổi của đất trời bên ngoài. Đây chính là pháp Năm Ngón Định Thiên Mệnh.”
Tính cả pháp Vọng Khí Đại Diễn, Triệu Hưng đã thu được tổng cộng bốn môn pháp thuật có thể lập tức tu luyện, hơn nữa còn vô cùng hữu dụng.
Hắn chắp tay với người bảo hộ Huyền Điểu, hài lòng rời khỏi Thiên Cơ Các.
Tiến vào Đại Mộng Học Cung, quả nhiên thu hoạch rất phong phú.
Triệu Hưng ngồi dưới lòng đất, nghiền ngẫm rồi tu luyện những bí pháp mới đạt được.
Chẳng bao lâu sau, hắn bỗng mở mắt, trên mặt hiện lên nụ cười.
“Mệnh hồn đạt tới Lục Phẩm sơ kỳ, thiên thứ nhất Đại Mộng Xuân Thu được khắc trên giáp hồn cũng có thêm cảm ngộ mới.”
“Ngoài khả năng mệnh hồn cảm ứng nguy cơ và pháp Thuốc Ngủ, ta đã có thể tu luyện trong mộng.”
Thiên thứ nhất Nhập Mộng, chỉ khi làm được tu luyện trong mộng mới xem như thật sự nhập môn.
Sau này cảnh giới tăng lên, hiểu biết sâu hơn, hắn sẽ có thể thực hiện Mộng Hành chân chính.
Khiến người khác chìm vào giấc mộng, rồi nhảy vào trong mộng của họ và giết chết họ.
Đúng lúc Triệu Hưng đang tu luyện dưới lòng đất, Trần Thời Tiết bước vào Điện Hành Quân.
- Triệu Hưng đâu rồi?
Hàn Băng đứng canh bên ngoài chỉ xuống mặt đất.
- Hắn bảo ta là xuống dưới nghỉ ngơi.
Trần Thời Tiết ngẩn ra.
- Hắn mắc chứng gì vậy? Lại đi ngủ dưới lòng đất?
Hàn Băng lắc đầu.
- Ta cũng không biết. Có lẽ thiên tài đều có vài thói quen kỳ quặc. Cũng có người thích nằm trong quan tài ngủ mà.
Trần Thời Tiết cứng họng.
Đúng là chẳng hiểu nổi đám người trẻ tuổi các ngươi.
- Ngươi chắc là vị trí này chứ?
- Ừ.
Trần Thời Tiết đi tới nơi Triệu Hưng đã chìm xuống, rồi bất ngờ giậm mạnh chân.
Nguyên khí men theo lòng đất tràn xuống, làm rung chuyển địa mạch. Chấn động lan ra bốn phía, truyền đi một lời nhắn:
- Triệu Hưng, dậy đi. Ta có việc tìm ngươi.