Trong phòng khách nhỏ, yên tĩnh của bà Navarre, Antonio ngả người trên ghế dài, ung dung ngắm những bức tranh treo trên tường, cứ như đang ở nhà mình.
Còn Winters thì ngồi ngay ngắn trên ghế, mắt nhìn xuống mũi, mũi nhìn xuống miệng, miệng nhìn vào lòng. Hắn cứng đờ như pho tượng.
- Đừng gò bó thế chứ. Antonio vui vẻ đưa đĩa hạt khô cho Winters. - Trông cậu chẳng khác nào tu sĩ khổ hạnh, chỉ thiếu mỗi cái roi có gai để tự quất vào lưng thôi.
- Còn trách ai được nữa? Winters thấy kẻ chịu trách nhiệm chính lại thản nhiên như không, trong bụng bực bội vô cùng.
Antonio thờ ơ nhấc một quả vả trên bàn nhỏ lên, thong thả bóc vỏ.
- Chẳng phải tôi đã đi cùng cậu rồi sao?
Vì sao Winters và Antonio lại tới trang viên Navarre? Chuyện này kể ra cũng lắm khúc quanh.
Mười mũi đinh thép mà thiếu tá Moritz đưa cho Winters chẳng thấm vào đâu. Hắn đành nhờ cậy Giovanni Serviati, ông chú nhỏ tuổi của mình, cũng là em trai Antonio.
Nhà Serviati ở thành Hải Lam chưa lâu. Mãi đến đời Cavallia, cha của Antonio và Giovanni, dòng họ này mới sinh cơ lập nghiệp tại đây.
Cavallia là người Venetia mũi to, nóng tính. Thuở trẻ, vì một vụ báo thù đẫm máu, ông buộc phải rời bỏ gia tộc.
Mẹ ông nhét hai đồng vàng vào tay con trai, hôn lên má ông rồi nghẹn ngào dặn dò:
- Con trai yêu quý, đừng tiêu hai đồng vàng này. Hãy mang chúng bên mình, nhưng tuyệt đối đừng tiêu. Những vệt đỏ trên hoa văn đồng tiền là máu của thánh Novellata. Mang theo chúng, thánh Novellata sẽ phù hộ con. Mẹ cũng sẽ ngày đêm cầu nguyện cho con.
Cha ông chỉ lặng lẽ trao cho ông một thanh kiếm sắc.
Cứ thế, Cavallia mang theo kiếm, hai đồng vàng và lời chúc phúc của mẹ, một mình rời thành Bách Hoa, đến thành Hải Lam.
Ông đem thanh kiếm tốt đi cầm trước, rồi tiêu nốt hai đồng vàng, sống những ngày tháng khá dễ chịu. Chưa được bao lâu, tiền đã hết. Đám “bạn bè” mới quen ở Hải Lam cũng nhanh chóng bỏ rơi ông, còn nhanh gấp đôi lúc chúng kéo đến làm thân.
Không nơi nương tựa, Cavallia trải qua một quãng đời khốn khó. Sau cùng, một người thợ kim hoàn tốt bụng nhận ông vào làm học việc. Vượt qua những tháng ngày khổ cực ấy, ông trở thành thợ chính thức của phường kim hoàn thành Hải Lam.
Khi con trai trưởng Antonio chào đời, Cavallia đã là một thợ kim hoàn có chút tiếng tăm trong thành, sở hữu một xưởng khá khang trang. Ông cũng chuộc lại thanh kiếm gia truyền cùng hai đồng vàng được đồn là dính máu thánh Novellata.
Antonio, con trai trưởng của Cavallia Serviati, thi đỗ trường sĩ quan lục quân, trở thành quân nhân. Cậu con út Giovanni lại nối nghiệp cha. Sau khi Cavallia qua đời, Giovanni thừa kế xưởng và trở thành thợ kim hoàn.
Trong lòng Winters, Antonio chẳng khác nào cha mình. Còn Giovanni tuy mang danh chú, thực ra lại thân thiết như anh trai.
Nhà Cavallia hiếm con. Năm đứa trẻ lần lượt chết yểu. Mãi nhiều năm sau khi sinh con trai trưởng, ông mới có thêm một đứa con khỏe mạnh sống đến lớn. Antonio hơn Giovanni mười bốn tuổi, còn Giovanni chỉ hơn Winters chín tuổi.
Bởi vậy, so với người anh hơn mình mười bốn tuổi, Giovanni ham chơi lại gần gũi với Winters hơn. Phần lớn chuyện xấu Winters làm từ nhỏ đến lớn đều do Giovanni dẫn dắt.
Nếu Winters đốt cháy nhà, hắn sẽ không kể Antonio hay Cosa, nhưng nhất định sẽ nói với Giovanni. Còn nếu Giovanni giết người, anh ta cũng chẳng kể với anh trai, mà sẽ tìm Winters giúp khiêng xác.
Trong mười mũi đinh thép Moritz đưa cho Winters, chỉ có năm mũi nhọn dùng được khi giao chiến, đương nhiên chẳng đủ. Winters muốn nhờ người làm thêm một mẻ giống hệt những chiếc thiếu tá đã đưa.
Đã là chuyện liên quan đến kim loại, Winters lập tức nghĩ đến ông chú Giovanni. Dù Giovanni là thợ kim hoàn, Winters tin rằng anh ta hẳn quen biết vài thợ rèn tay nghề cao.
Ngoài việc đặt làm thêm đinh thép, Winters còn có một mục đích khác: làm vỏ dao cho lưỡi dao găm của Elizabeth.
Con dao mà Elizabeth mè nheo đòi được từ tay Winters vốn đã trả lại cho Sophia. Chẳng biết Elizabeth dùng cách thuyết phục nào, Sophia lại đưa con dao cho cô.
Cái vỏ da Elizabeth tự khâu chẳng dùng được bao lâu, chẳng mấy chốc đã bị mũi dao chọc thủng lỗ chỗ. Thế là Winters có thêm một việc phải làm: nhờ Giovanni chế cho Elizabeth một chiếc vỏ dao bằng bạc. Tất nhiên, chỉ lớp ngoài là bạc, bên trong phải lót bần mềm để lưỡi dao không bị cùn.
Ban đầu Winters tưởng làm vài trăm mũi đinh thép giống hệt nhau chẳng khó khăn gì. Nhưng sau khi trò chuyện với thợ rèn thật sự, hắn mới hiểu việc ấy gian nan đến mức nào.
Chỉ rèn thủ công thì khó lòng giữ cho hình dáng và trọng lượng từng chiếc giống nhau. Đinh thép thiếu tá Moritz đưa cho Winters có dạng trụ tròn. Rèn tay không thể tạo ra hình trụ, chỉ có thể rèn thành khối lăng trụ, rồi dùng giũa gọt từng cạnh cho tròn, cuối cùng đánh bóng cho nhẵn. Nếu còn phải dùng thép, công đoạn giũa lại càng tốn sức, tốn thời gian.
Chưa kể trọng lượng mỗi chiếc cũng phải bằng nhau. Độ khó vì thế tăng lên gấp bội.
Ngay cả chiếc cân chính xác nhất trong xưởng Giovanni, vốn dùng để cân vàng, cũng không phân biệt nổi trọng lượng mười chiếc đinh thép của thiếu tá Moritz.
Người bạn thợ rèn của Giovanni xem mười chiếc đinh mà xuýt xoa mãi, thẳng thắn bảo mình không đủ tay nghề. Cho dù dốc sức làm, giá mỗi chiếc cũng hơn một đồng bạc.
Theo lời Giovanni:
- Vật liệu chẳng đáng bao nhiêu, nhưng công sức người thợ bỏ vào còn đắt hơn bản thân vật liệu nhiều. Người ta coi nhẹ giá trị lao động của thợ thủ công, nên chẳng mấy ai chịu tốn công như thế lên một món kim loại rẻ tiền. Mấy thứ nhỏ xíu này đúng là chạm hoa lên sắt.
Lúc ấy Winters mới hiểu phần nào vì sao thiếu tá Moritz dùng đồng bạc làm vật dẫn phép. Mấy chiếc đinh thép đặc chế này hóa ra còn đắt hơn cả một đồng bạc.
Đã vậy, chi bằng dùng thẳng đồng bạc làm mũi tên. Ít ra tiền bạc do xưởng đúc Venetia thống nhất sản xuất, vừa dễ kiếm, vừa có trọng lượng bằng nhau, hình dáng cũng gần giống.
So với cảnh bế tắc khi đặt làm đinh thép, việc chế vỏ dao cho Elizabeth lại dễ dàng hơn nhiều.
Winters mang cả con dao tới. Giovanni đo kích thước, đổ khuôn sáp. Elizabeth chỉ việc ở nhà chờ chú Giovanni mang vỏ dao đến tận nơi.
- À phải rồi, cô bé có nói muốn trang trí vỏ dao bằng hoa văn gì không?
Giovanni trả dao lại cho Winters rồi thuận miệng hỏi.
Winters cứng họng. Hắn không dám tự ý quyết định thay Elizabeth, đành vất vả cưỡi con ngựa May Mắn về nhà hỏi cô.
Elizabeth không trả lời ngay. Cô vào phòng vẽ một chuyến, rồi đưa cho Winters hai bức tranh.
Hai bức tranh ấy khác hẳn lối vẽ tôn giáo thường thấy, thiên về lối vẽ phóng khoáng, không câu nệ phép phối cảnh. Những nét bút tỉ mỉ, tinh tế vẽ nên cảnh hoa lá chen nhau rực rỡ. Tuy nhiều chi tiết nhưng không rối mắt, khoảng trống được chừa lại rất khéo.
Giovanni vừa nhìn thấy hai bức tranh đã kinh ngạc không thôi. Hôm sau, anh lập tức mang chiếc vỏ dao đã làm xong đến. Anh dùng kỹ thuật dập nổi, chép hoa văn trong tranh Elizabeth lên mặt vỏ.
Dập nổi là cách dùng những chiếc đục nhỏ gõ từ mặt sau tấm kim loại mỏng, tạo thành hoa văn đối xứng. Nhờ vậy, mặt trước hiện lên những đường nét chạm nổi nông. Sau đó, người thợ tỉ mỉ khắc thêm chi tiết để các đường nổi rõ hơn. Cuối cùng, trên mặt kim loại sẽ hiện ra hoa văn chạm nổi tuyệt đẹp.
Những đường nổi trên vỏ dao không chỉ để trang trí, mà còn giúp người cầm nắm chắc tay hơn.
Elizabeth nhận được vỏ dao thì thích mê, lập tức hào hứng đi khoe với Cosa và Antonio.
Nhưng thật ra Giovanni tìm cậu cháu nhỏ còn vì một chuyện khác. Anh cười ha hả, vòng tay ghì cổ Winters:
- Hai bức tranh ấy ở đâu ra? Còn bức nào nữa không?
Hóa ra Giovanni đem hai bức tranh cho một phu nhân nhà buôn giàu có xem. Bà lập tức đặt làm hai chiếc hộp bạc đựng muối thơm.
So với thợ làm đồ kim loại thường, tay nghề của thợ kim hoàn được định giá cao hơn. Dẫu bỏ bao công sức, sắt cũng khó bán được giá bạc. Nhưng đồ vàng bạc qua bàn tay chạm trổ tinh xảo của thợ kim hoàn lại có thể đáng giá hơn vật liệu ban đầu rất nhiều.
Vì vậy, khác với những người thợ làm đồ kim loại thường chuyên sản xuất số lượng lớn, thợ kim hoàn chọn một con đường khác: dồn công sức làm ít món tinh xảo để kiếm lời.
Giovanni nhạy bén nhận ra các nữ khách hàng giàu có đều rất ưa kiểu hoa văn này. Những mẫu vẽ mang phong cách mới chẳng khác nào một mạch quặng mới lộ ra trước mắt anh, khiến anh nóng lòng muốn có thêm.
Winters giải thích:
- Mẫu vẽ là Ella đưa cho tôi. Chẳng phải cô ấy thường đến phòng vẽ của phu nhân Anguissola sao? Có lẽ chính tay cô ấy vẽ đấy.
Giovanni nghe vậy, tiếc rẻ nói:
- Con bé Ella này, nếu anh hỏi xin, nó thế nào cũng nhân dịp vòi vĩnh anh.
- Vậy thì hết cách rồi.
Winters xòe tay.
- Nhưng Ella chẳng phải từ nhỏ đã nghe lời cậu lắm sao?
Giovanni dường như đã tính sẵn:
- Cậu giúp anh xin thêm vài mẫu vẽ đi. Anh sẽ giúp cậu giải quyết vụ đinh thép. Sao nào?
Giải pháp Giovanni đưa ra cho số đinh thép Winters muốn đặt làm như sau: hình trụ tốn quá nhiều công sức, không làm. Vậy thì dùng loại lăng trụ tam giác, có thể rèn thẳng thành hình trên chiếc đe có rãnh chữ V. Thợ rèn làm xong phôi có trọng lượng gần bằng nhau sẽ gửi đến xưởng Giovanni, rồi anh dùng kỹ thuật mài tinh của thợ kim hoàn gia công lần nữa. Dù không thể giống nhau đến mức sai lệch nhỏ nhất như mười chiếc đinh thép Winters đang có, cách này vẫn giữ cho hình dáng và trọng lượng gần bằng nhau hết sức có thể.
Quan trọng hơn, giá cả cũng nằm trong khả năng của Winters.
Hắn chẳng thể nào từ chối đề nghị ấy. Nhưng Winters không ngờ ông chú nhỏ tuổi lại thay đổi, còn đem chuyện này ra mặc cả với mình.
Thấy vẻ hậm hực của Winters, Giovanni đành hứa tặng thêm một chốt yên ngựa bằng bạc để trả công cho những mẫu vẽ. Dù Winters có kiếm được thêm mẫu hay không, anh vẫn sẽ giúp hắn giải quyết vụ đinh thép.
Nhưng trái với dự tính của cả Winters lẫn Giovanni, Elizabeth nói với Winters rằng những mẫu vẽ ấy không phải do cô vẽ.
Cái tên cô đưa ra là người Winters đang không muốn nghe nhất: Anna Navarre.
Elizabeth không chỉ quen Anna, mà còn rất thân với nàng. Anna, Elizabeth và mấy người bạn nữ khác cùng học vẽ ở phòng tranh của phu nhân Anguissola. Hai mẫu vẽ ấy là do Elizabeth nhờ Anna vẽ.
Lòng tự trọng là thứ rất đỗi kỳ lạ. Nó khiến người ta làm những việc cao thượng, nhưng đôi khi cũng ngăn người ta mở lời với nhau.
Vì lòng tự trọng, thiếu tướng Leighton đã thực hiện lời hứa xông lên tàu địch đầu tiên. Winters cũng bất chấp vết dao trên cánh tay, xông vào khoang thuyền của đối phương.
Cũng vì lòng tự trọng, Winters lười giải thích với cô Navarre, càng chẳng muốn gặp lại nàng. Dù sao cái tát bất ngờ ấy vẫn đau điếng.
Nhưng Elizabeth cười ranh mãnh, nhất quyết không chịu giúp Winters tìm Anna xin tranh. Rõ ràng cô đã biết chuyện Winters bị Anna tát một cái qua nguồn tin riêng của mình. Đó hẳn là trò vui hiếm hoi trong cuộc sống bình lặng của Elizabeth, cô chẳng đời nào dễ dàng bỏ qua.
- Cô bạn của cậu có ấn tượng rất xấu về tôi. Tránh được thì tôi tránh, sao phải gặp? Cậu muốn thấy tôi bị tát thêm lần nữa à?
Winters giữ Elizabeth lại, không cho cô chạy mất.
- Winters, em làm thế là vì tốt cho anh thôi.
Elizabeth cố làm ra vẻ nghiêm trang, nhưng lý lẽ vẫn méo mó như thường:
- Anh chọc Anna tức đến phát điên rồi. Giờ mấy cô bạn của em đều nghĩ anh là kẻ trăng hoa. Anh xin lỗi Anna đi, nàng sẽ tha thứ cho anh.
- Sao tôi phải xin lỗi chứ?
Winters dở khóc dở cười. Hắn đã nhìn thấu bụng dạ Elizabeth:
- Thấy tôi bị tát thêm lần nữa, cô vui lắm phải không?
Elizabeth rốt cuộc không nhịn nổi nữa, cười phá lên. Đúng lúc Antonio vừa về tới nhà, cô vội chạy đi cầu cứu cha.
Antonio tỏ ra rất thoải mái:
- Trước đây cha cứ tưởng mấy cô bé chỉ đến phòng vẽ của phu nhân Anguissola chơi cho vui. Hóa ra các con vẽ giỏi đến thế sao? Nếu Johnny cần nhờ cô Navarre giúp đỡ, cha sẽ đưa con đến phủ Navarre.
- Vậy cha tự đến gặp bà Navarre, xin vài bức tranh của con gái bà ấy, không được sao?
- Johnny nhờ con giúp, chứ đâu nhờ cha. Đáng lẽ con phải tự đi. Còn cha đến phủ Navarre là để xin lỗi cô Navarre vì hành vi thất lễ của mình.
Nụ cười của Antonio chẳng khác gì Elizabeth. Winters lại càng tin chắc tính thích trêu chọc người khác của Ella là di truyền từ cha.
Trở lại phòng khách nhỏ của bà Navarre, Antonio và Winters chờ mẹ con bà đến.
Antonio vốn là bạn cũ của bà Navarre. Ông chỉ nói đôi lời đã giải thích rõ mục đích chuyến thăm, mong xin vài tác phẩm của cô Navarre thay cho em trai Giovanni. Anna còn chưa kịp lên tiếng, bà Navarre đã thay con gái nhận lời.
Sau đó, Antonio vui vẻ bắt chuyện với Anna bằng tiếng cổ. Nói được vài câu, ông lại chuyển sang thứ tiếng thượng cổ.
Anna đối đáp trôi chảy, khiến bà Navarre bị gạt sang một bên, ngồi ngẩn ra chẳng biết làm gì.
Winters thì nghe hiểu cả hai thứ tiếng. Có điều, Antonio và Anna chỉ chào hỏi những chuyện thường ngày, không bàn gì quan trọng.
Xác nhận Anna quả thật biết dùng tiếng cổ lẫn tiếng thượng cổ, Antonio đứng dậy, trịnh trọng cúi mình thật sâu trước nàng rồi chân thành nói bằng tiếng cổ:
- Cô Anna, trước đây tôi đã nhiều lần thất lễ. Tôi từng lầm tưởng cô chỉ là một cô gái bình thường. Xin cô nhận lời xin lỗi của tôi.
Anna, bà Navarre và Winters đều sững sờ.
Dẫu thế nào, trong thời đại này, địa vị đàn ông vẫn cao hơn phụ nữ rất nhiều. Huống hồ, cho dù Anna là đàn ông, địa vị xã hội của Antonio Serviati, thiếu tướng lục quân kiêm chỉ huy quân đoàn thường trực, cũng vượt xa nàng.
Kẻ ở địa vị cao lại nhận sai, xin lỗi người ở địa vị thấp, thời nào, nước nào cũng là chuyện hiếm thấy. Phần đông người quyền thế, dù biết mình nên xin lỗi, cũng chỉ làm như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Trông thấy cảnh ấy, Winters bắt đầu khâm phục khí độ của dượng mình. Antonio không hề miễn cưỡng, mà thật lòng xin lỗi Anna vì hành vi khi trước.
Thấy Antonio cúi mình thật sâu, Anna cũng hoảng hốt. Nàng vội đứng lên, luống cuống nhún gối đáp lễ.
Antonio không nói thêm, quay sang bà Navarre, mỉm cười:
- Vậy phiền cô Navarre lấy vài bức tranh ra đây.
Bà Navarre vẫn chẳng hiểu đầu đuôi ra sao. Bà không biết vừa rồi đã xảy ra chuyện gì, càng không nghe hiểu lấy một câu trong cuộc trò chuyện giữa Antonio và Anna.
Cuối cùng Antonio cũng trở lại nói tiếng thông dụng. Bà Navarre duyên dáng tựa vào chiếc ghế trường kỷ, mỉm cười đáp:
- Cứ để hai đứa nhỏ cùng đi đi. Còn tôi với ông đây, e là có khối chuyện để nói.
Winters đi theo sau Anna. Suốt dọc đường, cả hai không nói với nhau câu nào, cứ thế đi thẳng đến phòng vẽ của nàng.
Trong phòng đặt mấy giá vẽ. Trên bàn chất đầy vải vẽ và giấy vẽ. Nhiều tấm bảng được phủ vải trắng, dựa vào tường, xem chừng đều là tranh đã hoàn thành. Dưới đất còn vương vãi những tờ giấy trắng chi chít nét phác.
- Hừ!
Anna quay lưng về phía Winters, đứng trước bàn lục tìm tranh. Nàng bực bội lên tiếng trước:
- Ngài Serviati quả nhiên vẫn khinh thường phụ nữ từ tận đáy lòng. “Tôi từng lầm tưởng cô chỉ là một cô gái bình thường.” Vậy chẳng lẽ đối xử với những cô gái bình thường thì có thể khinh bạc như thế hay sao?
Winters cứng họng.
Càng nghĩ càng tức, Anna quay phắt lại hỏi:
- Ngài thấy thế nào, ngài Montagne?
Winters ngẫm nghĩ rồi chậm rãi đáp:
- Tôi thấy mình là khách, lẽ ra không nên bị đối xử như vậy.
Hai cuộn giấy vẽ bay thẳng về phía Winters. Anna không ném mạnh, giấy vẽ cũng chẳng phải giáo dài, nên hắn dễ dàng đưa tay đón lấy.
- Sau khi sỉ nhục tôi, ông ta vẫn còn mặt mũi đòi tranh của tôi sao?
Anna ôm thêm mấy cuộn giấy lớn đi tới, nhét cả vào tay Winters:
- Cho anh hết đấy!
- Người khác không thể thay tôi nói chuyện. Trước nay tôi chưa từng có ý khinh bạc cô. Trái lại, cô mới là người hết sức vô lễ với tôi.
Winters bình thản đáp:
- Nếu cô không muốn tặng tranh cho tôi, tôi có thể mua. Nhưng nói thật, so với trước kia, bây giờ tôi chẳng còn tôn trọng cô được như trước nữa.
Lần này Anna thật sự tức đến phát điên.
- Hay là cô tát tôi thêm cái nữa đi?
Winters buông một câu, giọng đều đều mà đầy vẻ châm chọc.
Anna hoàn toàn phát điên. Rồi nàng… khóc.
Đúng vậy, Anna bị hắn chọc cho phát khóc.
Nàng ngồi xổm xuống đất, vùi đầu khóc nức nở.
Winters ngây người.
Hắn trố mắt, tay chân luống cuống.
- Ơ? Cô khóc gì vậy?
- Cô không giả vờ khóc đấy chứ?
Anna càng khóc to hơn.
- Chuyện này là thế nào? Tôi có làm gì sai đâu.
- Để người hầu nhà cô nghe thấy, tôi có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không rửa sạch được tiếng oan… mà cô cũng chẳng thanh minh nổi đâu.
Vẫn chẳng ích gì.
Winters cũng ngồi xổm xuống, dò hỏi:
- Hay là… tôi cũng tát cô một cái, thế là huề nhé?
Anna ngẩng đầu lên. Nàng sụt sịt, trông vừa yếu ớt, vừa đáng thương, lại vẫn hung hăng như cũ:
- Anh đánh đi!
Cuối cùng cũng có tác dụng.
- Tôi không đánh… thục nữ.
Ban đầu Winters định nói “không đánh phụ nữ”, nhưng nhớ tới Sophia. Trong số phụ nữ cũng chẳng thiếu những kẻ hung dữ như nữ sát thủ ấy, nên hắn đổi lời.
Anna nín khóc. Mắt nàng vẫn đỏ hoe, hoàn toàn chẳng còn dáng vẻ thục nữ, vừa hít mũi vừa hỏi:
- Anh nói muốn mua tranh của tôi, phải không?
- Tôi có thể mua. Cô cứ ra giá đi.
Winters thầm nghĩ, mong nàng đừng hét giá trên trời. Hắn còn phải tìm chú Giovanni thanh toán lại.
- Rồi anh sẽ biết giá thôi.
Anna trừng hắn một cái, sau đó đẩy Winters ra khỏi phòng vẽ.
Trên đường về nhà, Antonio cảm khái nói với Winters:
- Cô Navarre quả thật rất tài giỏi. Nếu cô ấy không phải phụ nữ, chắc chắn còn làm nên chuyện lớn hơn.
Winters lập tức phản bác:
- Chẳng phải mấy hôm trước ông vừa bảo cháu rằng các góa phụ đã chống đỡ nửa xứ Veneta hay sao?
- Đúng mà, tôi nói là góa phụ.
Antonio nở nụ cười đầy ẩn ý:
- Nếu cô Navarre trở thành góa phụ, hẳn cũng sẽ làm nên chuyện lớn hơn.
Tại trang viên Navarre, Anna vùi đầu vào lòng bà Navarre. Trên mặt nàng đã chẳng còn dấu vết gì cho thấy ban nãy từng khóc.
Bà Navarre thuận miệng hỏi:
- Con thân với cậu thanh niên tên Winters ấy lắm sao?
Anna lơ đãng đáp:
- Không thân. Hôm nay mới là lần thứ hai gặp mặt.
- Con thấy cậu ta thế nào?
- Dở tệ!
Bà Navarre nghiêm túc nói với Anna:
- Ta quen mẹ cậu ta, cũng từng gặp cha cậu ta. Trong người cậu ta có dòng máu phương Bắc. Nhà ta không kết thông gia với người phương Bắc. Con hiểu chưa?
- Ôi mẹ này! Mẹ nói gì vậy? Con đâu phải Caitlin, suốt ngày chỉ nghĩ đến chuyện lấy chồng!