Chương 10: Tất Nghiệp Bao Phân Phối, Hoàn Hữu Giá Hảo Sự? (Hạ) - Sắt Thép, Hỏa Dược Và Pháp Sư

Trang chủ › Sắt Thép, Hỏa Dược Và Pháp Sư › Chương 10

Chương 10 - Tất Nghiệp Bao Phân Phối, Hoàn Hữu Giá Hảo Sự? (Hạ)

☰ DS Chương 📖 1,697 chữ

Quả đúng như lời ông từng nói, chính phủ Liên minh chẳng có chút quyền uy nào. Năm nước thành viên tự cai quản lấy mình, nước nào cũng nắm quyền bổ nhiệm quan chức, thu chi ngân sách và quân đội riêng. Quyền lực chủ yếu duy nhất họ giao cho chính phủ Liên minh là đối ngoại. Ngoài ra, họ còn rộng rãi trao thêm vài quyền chẳng đau chẳng ngứa, như quyền chọn quốc ca hay quyền quyết định lá cờ của Liên minh.

Các cơ quan lớn của chính phủ Liên minh nghe tên thôi đã thấy oai phong lẫm liệt: Ủy ban Lục quân Liên minh, Ủy ban Tài chính Liên minh, Ủy ban Tư pháp Liên minh… Nhưng thực chất chỉ có cái danh, chẳng khác nào đồ trưng bày.

Tình trạng chia năm xẻ bảy ấy đã bắt đầu từ ngày người Liên tỉnh khởi binh làm phản. Ba mươi mấy năm trước, cuộc bạo loạn ở thành Khuê Thổ châm ngòi cho cuộc chiến giành chủ quyền. Mãi đến hai mươi sáu năm trước, khi chiến tranh buộc hoàng đế rút quân kết thúc, các đạo quân chống hoàng đế ở khắp vùng Vịnh vẫn chẳng ai chịu nghe lệnh ai.

Dân binh Liên tỉnh không chấp nhận để đám đầu cơ Hải Lam chỉ huy. Dân binh Hải Lam cũng chẳng đời nào nghe lệnh mấy gã nhà quê Liên tỉnh. Đám quý tộc chống hoàng đế suốt ngày chỉ chăm chăm đoạt quyền, muốn thu hết binh quyền về tay mình, nhưng chẳng đạo dân binh nào thèm để mắt đến họ.

Các đạo quân chống hoàng đế không lệ thuộc lẫn nhau, phần lớn thời gian đều tự đánh trận riêng. Mãi đến khi sức ép quân sự của hoàng đế cùng uy tín của lão nguyên soái khiến họ chịu ngồi lại, các đội quân mới hợp thành một mối, để lão nguyên soái thống lĩnh chống lại hoàng đế.

Chiến tranh vừa kết thúc, mọi người lại tan đàn xẻ nghé. Quân đội của Cộng hòa Liên tỉnh, Cộng hòa Hải Lam và Cộng hòa Cao Địa trở về quê nhà, đổi thân phận thành lục quân chính quy của từng nước. Còn Cộng hòa Mông Tháp và Cộng hòa Ngõa Ân, hai nước giành được độc lập sau cuộc chiến chủ quyền, cũng lập nên bộ lục quân riêng.

Lão nguyên soái hiểu rõ việc quân đội thuộc quyền từng nước thành viên là mối nguy cho hòa bình trong Liên minh. Nhưng ông không sao thay đổi được cảnh mỗi nước đều ôm một dạ riêng. Ông nghĩ, nếu lúc này chưa thể thống nhất quân đội các nước, vậy chỉ còn cách trông cậy vào tương lai.

Muốn vậy, sĩ quan các nước phải tăng cường giao lưu và hiểu biết lẫn nhau. Giao tiếp không thông sẽ sinh hiểu lầm, hiểu lầm có thể dẫn đến đổ máu. Quan trọng hơn cả là phải bồi dưỡng lớp trẻ, để những sĩ quan trẻ đời sau không còn thù địch nhau như tiền bối, để họ kết tình bằng hữu.

Đợi đến khi lớp trẻ ấy trở thành trụ cột, thành người lãnh đạo quân đội các nước, mâu thuẫn ắt sẽ được hóa giải. Quân đội các nước hòa làm một cũng sẽ thành chuyện thuận theo lẽ tự nhiên.

Thế là lão nguyên soái chủ động từ bỏ chức vụ quân đội, dốc sức xây dựng Học viện Sĩ quan Lục quân. Quyền quản lý học viện được đặt dưới Bộ Chỉ huy Lục quân Liên minh, cơ quan chỉ còn cái danh. Lão nguyên soái tự mình đảm nhiệm chức hiệu trưởng đầu tiên, như vậy mới giữ được sự công bằng, không vì học viện đặt tại thành Khuê Thổ mà ưu ái Cộng hòa Liên tỉnh.

Kế hoạch ban đầu của ông là mỗi năm, mỗi khóa, mỗi nước thành viên tuyển mười học viên. Mỗi khóa học sẽ có 150 người, tốt nghiệp xong thì phân bổ về quân đội các nước.

Chủ trương “trộn cát” ấy vấp phải sự phản đối dữ dội của quân đội các nước. Phía Hải Lam là bên đầu tiên đứng ra chống đối. Họ nhất quyết không chịu đưa những hạt giống tốt của mình sang nước khác, cũng không chấp nhận sĩ quan xuất thân từ nước thành viên khác gia nhập quân đội Hải Lam. Hiếm hoi lắm, quân đội các nước mới nhất trí với nhau một phen.

Bất đắc dĩ, lão nguyên soái đành gác lại ý định “trong anh có tôi, trong tôi có anh”. Ông chỉ giữ trong điều lệ nhà trường một điều khoản: khi điều kiện cho phép, việc phân công nơi công tác cho học viên tốt nghiệp không nên căn cứ cứng nhắc vào quê quán. Ông hy vọng một ngày nào đó, các nước thành viên có thể hòa thuận với nhau và thực hiện điều khoản ấy.

Vì thế, học viên tốt nghiệp Học viện Sĩ quan Lục quân thường trở về nơi mình xuất thân. Chẳng hạn như Ôn Đặc Tư và những học viên quê ở Cộng hòa Hải Lam, sau khi tốt nghiệp đều sẽ trở lại phục vụ trong lục quân Hải Lam.

Đó là kế hoạch của lão nguyên soái. Xét cho cùng, nó không mấy hiệu quả. Ít nhất đến hôm nay, hai mươi sáu năm sau, quân đội các nước thành viên vẫn mạnh ai nấy lo.

Dẫu vậy, kế hoạch ấy cũng có tác dụng phần nào. Học viên sĩ quan được hun đúc trong tư tưởng đại liên minh suốt mấy năm trời. Dù không ủng hộ chủ nghĩa đại liên minh, ít ra họ cũng có phần cảm thông với nó. Ôn Đặc Tư chẳng hạn, hắn là người ủng hộ chủ nghĩa đại liên minh theo kiểu tài tử nghiệp dư.

Nhưng như người ta vẫn nói, kế hoạch chẳng theo kịp biến chuyển. Sau khi lão nguyên soái lui về, tình hình bắt đầu thay đổi. Thế lực Liên minh vươn ra đại dương, lợi ích ở hải ngoại cũng ngày một nhiều.

Các thương điếm ở nước ngoài cần được bảo vệ, quân đội ngoài hải ngoại cũng cần những người đại diện đáng tin cậy. Bởi vậy, việc điều động học viên tốt nghiệp lại có thêm một hướng mới: phái ra nước ngoài.

Từ đó, mỗi năm tuyển đều đặn 150 học viên chẳng còn đủ nữa. Quân đội nước nào cũng không chịu để con em mình bị đưa ra hải ngoại. Học viện Sĩ quan Lục quân đành mở rộng chỉ tiêu, mỗi ngành tăng thêm từ năm đến mười học viên trên mức ban đầu là năm mươi người. Vì thế, khóa của Ôn Đặc Tư có đến 172 học viên.

Lúc này, quyền kiểm soát thực tế của Học viện Sĩ quan Lục quân đã rơi vào tay Bộ Lục quân Cộng hòa Liên tỉnh. Quân đội Liên tỉnh dĩ nhiên chẳng công bằng vô tư như lão nguyên soái, vậy nên toàn bộ chỉ tiêu tăng thêm đều dành cho học viên Liên tỉnh.

Lấy cớ mở rộng tuyển sinh, quân đội Liên tỉnh còn thay đổi chính sách phân công sau tốt nghiệp. Mỗi năm, các nước thành viên khác vẫn chỉ cử đến ba mươi học viên, nhưng khi trở về, số người lại thành ba mươi hai hoặc ba mươi ba. Quân đội Liên tỉnh nhân dịp này đưa người của mình vào quân đội các nước khác.

Rõ ràng, học viên quê Liên tỉnh bị đưa sang nước thành viên khác hẳn sẽ chẳng được đối xử tử tế. Nhưng so với bị phái ra hải ngoại, sang một nước thành viên khác vẫn là lựa chọn tốt hơn nhiều.

Ít ra sang nước thành viên khác vẫn còn ở lại đất Liên minh. Còn ra hải ngoại, người đi đứng thẳng lưng, lúc về chỉ còn nằm trong quan tài. Vào thời buổi một trận cảm sốt cũng đủ lấy mạng người, đặt chân đến vùng đất đầy những bệnh truyền nhiễm xa lạ là một chuyến đi đầy hiểm nguy.

Vì thế, cứ đến mùa thực tập, học viên Liên tỉnh lại thấp thỏm lo chuyện phân công của mình: về Cộng hòa Liên tỉnh, sang nước thành viên khác, hay bị phái ra hải ngoại?

Học viên xuất thân từ các nước thành viên khác không phải lo, bởi họ sẽ trở về nơi mình đến.

Những học viên Liên tỉnh có gia thế vững vàng cũng chẳng lo. Trưởng bối trong nhà tuyệt đối không để họ bị đưa sang nước thành viên khác hay ra hải ngoại.

Còn học viên Liên tỉnh xuất thân bình dân, không quyền không thế, chỉ còn cách chạy vạy khắp nơi, cầu ông cầu bà, mong được ở lại quê nhà. Cùng lắm thì sang một nước thành viên khác cũng được. Tuyệt đối không thể ra hải ngoại, đi rồi khó mong ngày về.

Cha mẹ Bá Đức đều là tá điền, chuyện lớn có thể định đoạt cả cuộc đời này, họ chẳng giúp được gì cho hắn. Ôn Đặc Tư giấu Bá Đức, viết thư nhờ ông cậu giúp đỡ. Cậu hắn đang làm việc trong lục quân Hải Lam, Ôn Đặc Tư mong cậu tìm cách lo liệu cho bạn.

Nhưng chuyện phân công học viên của quân đội Liên tỉnh, quân đội Hải Lam sao chen tay vào được. Trong thư hồi âm, cậu Ôn Đặc Tư bảo rằng với quan hệ giữa lục quân Liên tỉnh và lục quân Hải Lam lúc này, nếu ông mở miệng xin người, quân đội Liên tỉnh có khi chẳng ngần ngại gì mà phái Bá Đức ra hải ngoại.

Chuyện này, Bá Đức chỉ còn biết chờ người khác định đoạt số phận mình. Ôn Đặc Tư đứng bên nhìn, ruột gan nóng như lửa đốt mà cũng đành chịu.

Tốt nghiệp là được bố trí việc làm, nghe thì hay, nhưng chưa chắc đã là chuyện tốt.