Xe dê dừng trước cổng phường Nam Hoa. Tề Huyền Tố xuống xe, bước vào trong.
Tuy kinh thành Ngọc Kinh noi theo lối phân chia phường thị của người xưa, triều đình không hề thi hành chế độ phường thị cũ. Vì vậy, các phường thông suốt với nhau, ban đêm cũng không cấm đường, cổng phường chẳng đặt trạm canh hay cửa ải gì cả.
Tề Huyền Tố vào phường Nam Hoa, vừa đi vừa hỏi thăm. Chẳng bao lâu sau, hắn tìm đến nơi ở của Tôn Vĩnh Phong.
Nam Hoa là một trong tám phường thượng hạng của Ngọc Kinh. Tấc đất tấc vàng, muốn có một căn nhà riêng ở đây, ít nhất cũng phải là đạo sĩ tam phẩm. Còn phủ đệ xây mấy lớp sân, mấy lớp nhà thì chỉ bậc chân nhân mới đủ tư cách sở hữu.
Tôn Vĩnh Phong chỉ là một đạo sĩ tế tửu tứ phẩm, nơi ở của hắn vì thế chỉ là căn lầu nhỏ hai tầng nằm sát mặt đường. Hai cánh cửa lớn phòng khách mở thẳng ra phố, phòng ngủ ở trên lầu.
Tề Huyền Tố lấy chiếc đồng hồ bỏ túi cũ ra khỏi ngực áo. Đây vốn là chiếc đồng hồ Thất Nương bán lại cho hắn đúng giá vốn. Hắn bật nắp, liếc nhìn giờ.
Đã sang giờ Thân, vừa qua khắc đầu. Vị chủ sự này hẳn đã từ Thiên Cương đường trở về.
Tề Huyền Tố cất đồng hồ, bước lên ba bậc thềm trước cửa rồi kéo sợi dây mảnh nối với chiếc chuông đồng.
Một lát sau, cánh cửa bên trong mở ra. Một thiếu nữ búi tóc hai bên xuất hiện trước mặt hắn. Nàng nhìn từ đầu xuống chân, ánh mắt đầy vẻ dò xét rồi hỏi:
- Các hạ là ai?
Tề Huyền Tố cung kính dâng danh thiếp lên, nói:
- Tại hạ là Tề Huyền Tố, đến bái kiến Tôn pháp sư. Chẳng hay cô nương có thể vào bẩm báo giúp được chăng?
Đạo sĩ tế tửu tứ phẩm được gọi là pháp sư, cũng như đạo sĩ Thái Ất nhị phẩm được tôn xưng là chân nhân.
Nữ tỳ liếc qua danh thiếp. Chất gỗ hòe rất đỗi bình thường, nàng bèn đứng nguyên tại chỗ.
Tề Huyền Tố hiểu ý, lại lấy ra một đồng tiền nhỏ đặt vào tay nàng.
- Xin các hạ chờ cho.
Lúc ấy nữ tỳ mới cầm danh thiếp đi vào trong bẩm báo.
Chẳng bao lâu, nàng quay lại, mở cả hai cánh cửa rồi nghiêng người sang bên.
- Pháp sư mời các hạ vào.
Tề Huyền Tố bước vào căn lầu hai tầng. Nữ tỳ khép cửa, dẫn hắn qua tiền sảnh rồi vào phòng khách.
Dẫu sao đây cũng là nơi ở của một đạo sĩ tứ phẩm, phòng khách tất nhiên không nhỏ. Trên bức tường phía bắc kê một chiếc bàn trà gỗ tử đàn mặt khảm đá cẩm thạch. Hai bên bàn đặt hai chiếc ghế vòng bằng tử đàn chạm hoa. Dọc hai phía đông tây, mỗi bên lại xếp bốn chiếc ghế tử đàn, trước mỗi ghế đều có một bàn trà nhỏ.
Đáng kể nhất là nền nhà. Toàn bộ đều lát đá cẩm thạch, trên từng phiến đá còn khảm những mảnh đá vân mây lấp lánh như sao vụn.
Đúng lúc ấy, một người đàn ông mặc thường phục đang từ trên lầu đi xuống.
Vị chủ sự Thiên Cương đường quanh năm sống trong nhung lụa, trông chỉ chừng bốn mươi tuổi. Trong tay hắn cầm một chiếc quạt xếp đã khép.
Đạo môn vốn có quy củ nghiêm ngặt về y phục, chủ yếu thể hiện ở mũ, áo và giày.
Áo thường là đạo bào kiểu hạc sưởng. Thuở xưa, hạc sưởng còn gọi là áo thần tiên đạo sĩ, may bằng lông hạc. Ngày nay, nó đã biến thành loại áo khoác rộng tay, cổ đối nhau, dùng dây buộc trước ngực. Áo không còn may bằng lông hạc mà đổi sang đủ loại vải thông thường. Vào ba mùa xuân, thu, đông, nó có tác dụng giữ ấm, cũng là thứ y phục được giới sĩ thân có địa vị ưa chuộng.
Hạc sưởng dài đến mắt cá chân, nên mũi giày vân lý phải hất cong lên thành mũi hếch, đỡ lấy vạt áo để người mặc khỏi vấp ngã. Giày nam có mũi vuông, giày nữ có mũi tròn.
Quan trọng nhất vẫn là mũ đội đầu. Sau khi Đạo môn hưng thịnh trở lại, những kiểu mũ truyền thống trước kia đều bị bãi bỏ, thay bằng quy định rõ ràng.
Đại chân nhân Toàn Chân đội mũ đuôi cá. Đại chân nhân Chính Nhất đội mũ phù dung. Đại chân nhân Thái Bình đội mũ như ý.
Các đại chân nhân và chân nhân khác đội mũ hoa sen, trông như một đóa sen đang nở.
Đạo sĩ tam phẩm đội mũ Ngũ Nhạc, còn gọi là mũ linh đồ Ngũ Nhạc, hình chóp cụt úp xuống, trên mặt khắc hình thật của năm ngọn núi thiêng.
Ngoài ra, đạo sĩ tứ phẩm đội khăn Thuần Dương; đạo sĩ ngũ phẩm đội khăn Hỗn Nguyên; đạo sĩ lục phẩm đội khăn Nam Hoa; đạo sĩ thất phẩm đội khăn Tiêu Dao; đạo sĩ bát phẩm đội khăn Hạo Nhiên; đạo sĩ cửu phẩm đội khăn Thái Cực. Đạo đồng thì đội khăn bao đầu.
Nhưng hôm nay không phải dịp trang trọng. Tôn Vĩnh Phong và Tề Huyền Tố đều không mặc hạc sưởng, cũng chẳng đội khăn mũ. Thậm chí Tề Huyền Tố còn đi đôi ủng mũi vuông.
- Kẻ hậu học là Tề Huyền Tố, xin bái kiến pháp sư.
Tề Huyền Tố chắp tay làm lễ.
Thời xưa, lễ khấu đầu là nghi lễ quỳ lạy long trọng nhất trong chín lạy. Nhưng trong Đạo môn, khấu đầu chỉ là một phép chào hỏi bình thường, không cần quỳ, cũng chẳng có gì long trọng.
Tôn Vĩnh Phong khẽ gật đầu, đi vào phòng khách rồi ngồi xuống chiếc ghế bên trái chính giữa. Rõ ràng đã biết từ trước, hắn vẫn giả vờ hỏi:
- Ngươi muốn vào Thiên Cương đường?
- Vâng.
Tề Huyền Tố đứng trả lời.
Tôn Vĩnh Phong tựa lưng vào ghế, chậm rãi mở chiếc quạt xếp trong tay, dáng vẻ hờ hững:
- Chuyện của ngươi, ta đã biết cả rồi. Tuổi tác hiện giờ của ngươi là lúc nguy cấp nhất. Sau này có thể đi được bao xa, đều phải trông vào hai năm tới.
Tề Huyền Tố từng trải qua đại biến, lên xuống mấy phen, đã sớm học được khi nào nên cứng, khi nào nên mềm. Lúc này hắn thu hết vẻ sắc sảo, nói:
- Lời pháp sư thật chí lý. Trước kia vãn bối ngu dốt, để thời gian trôi qua uổng phí.
Tôn Vĩnh Phong phe phẩy quạt:
- Đạo môn xưa nay coi trọng người trẻ. Nếu đến quá ba mươi tuổi mà ngươi vẫn chỉ là đạo sĩ thất phẩm, chín đường sẽ chẳng nhận ngươi đâu. Ngươi chỉ có thể kiếm một chức vụ ở đạo phủ địa phương mà sống qua ngày. Người cùng lứa với ngươi thì ở tổ đình được trọng dụng, danh tiếng lẫy lừng, còn ngươi cứ lầm lũi nơi đạo phủ địa phương. Ngươi chịu cam lòng sao?
Tề Huyền Tố đáp:
- Dĩ nhiên là không cam lòng. Trước kia vãn bối cũng từng nghĩ đến chuyện tìm một chức vụ ở tổ đình, tiếc rằng cầm đầu heo đi tìm miếu, mãi vẫn chẳng thấy cửa đâu mà vào.
Tôn Vĩnh Phong khép phắt quạt lại, cười nhạt:
- Ruồi mất đầu cứ bay loạn khắp nơi thì đâm được vào đâu? Phải có người then chốt đứng ra, nói giúp ngươi một lời vào đúng lúc. Bằng không, dù ngươi có vác nguyên cả con heo đến, cũng đừng hòng bước qua cửa tổ đình.
Tề Huyền Tố biết màn chính đã tới. Hắn vội lấy hai tờ ngân phiếu đã chuẩn bị sẵn trong tay áo, bước lên đặt cạnh Tôn Vĩnh Phong trên chiếc bàn trà tử đàn mặt khảm đá cẩm thạch.
Sau đó, hắn hạ giọng nói:
- Vì thế vãn bối mới đến bái kiến vị thần thật sự là pháp sư.
Tôn Vĩnh Phong liếc qua hai tờ ngân phiếu trên bàn, khẽ gật đầu. Nụ cười hiện lên trên mặt hắn. Hắn đưa tay chỉ vào chiếc ghế phía dưới bên trái:
- Được rồi. Người trẻ tuổi, ngồi đi.
Tề Huyền Tố đứng suốt từ nãy giờ lúc này mới ngồi xuống chiếc ghế đầu hàng bên trái.
Tôn Vĩnh Phong dùng quạt xếp khẽ gõ vào lòng bàn tay, thong thả nói:
- Người trẻ tuổi, ta không dám nhận mình là nhân vật then chốt. Nhưng nếu ngay cả lời ta nói cũng không giải quyết được chuyện này, vậy ngươi chỉ còn cách tự nhận mình xui xẻo.
Tề Huyền Tố lập tức phụ họa:
- Vâng, vâng.
Tôn Vĩnh Phong nói tiếp:
- Lần này Thiên Cương đường lập thêm một phó đường chủ. Theo đó sẽ phải bổ sung hai chủ sự, sáu chấp sự cùng một số chức vụ khác. Người giữ chức phó đường chủ do đại chân nhân đích thân quyết định. Chủ sự do chưởng đường chân nhân lựa chọn. Chấp sự do phó đường chủ quyết định. Những chức vụ bên dưới thì có thể giao cho chủ sự sắp xếp. Đây là cơ hội của ngươi. Trước hết cứ chiếm lấy một vị trí. Sau này làm nội vụ hay ngoại vụ cũng đừng tính toán, rồi sẽ từ từ điều chỉnh.
Tề Huyền Tố ôm quyền:
- Vậy mọi việc xin trông cậy cả vào pháp sư Tôn.
- Ngươi đã đến cầu ta, những gì ta có thể giúp, đương nhiên sẽ giúp. Nhưng ta cũng không thể bảo đảm chắc chắn. Có vượt qua được cửa ải của phó đường chủ hay không, còn phải xem bản lĩnh của chính ngươi.
Tôn Vĩnh Phong không nói tuyệt đường, chỉ nhìn thẳng vào Tề Huyền Tố.
Tề Huyền Tố cố ý làm ra vẻ vừa mừng vừa sợ:
- Đó là lẽ đương nhiên, đó là lẽ đương nhiên.
Tôn Vĩnh Phong lấy từ trong tay áo ra một phong thư, đưa cho hắn:
- Đây là giấy báo của ngươi. Đến giờ Thìn ngày mười sáu tháng Tám, cầm nó đến Thiên Cương đường trình diện.
Tề Huyền Tố cung kính nhận lấy phong thư bằng hai tay, gật đầu vâng dạ.
Đúng lúc ấy, nữ tỳ nhẹ bước đến sau bàn trà, bày bộ ấm chén ra. Nàng xách một chiếc ấm đồng sáng loáng, mở nắp chén có nắp rồi nghiêng ấm. Dòng nước nóng bốc hơi rót xuống lòng chén.
Những búp trà xanh biếc chậm rãi nổi lên mặt nước, thân trà dựng đứng, trôi lặng lẽ trong chén.
Tôn Vĩnh Phong đặt chiếc quạt xếp xuống, nâng chén trà lên nhưng không uống.
Đó là ngầm báo đã đến lúc tiễn khách.
Tề Huyền Tố đứng dậy cáo từ:
- Vậy xin làm phiền pháp sư Tôn. Vãn bối xin phép cáo lui.
Tôn Vĩnh Phong vẫn ngồi trên ghế, không đứng lên, chỉ khẽ gật đầu.
Những quy củ bất thành văn ấy, dĩ nhiên Tề Huyền Tố không tự nhiên mà biết. Tất cả đều do Thất Nương dạy cho hắn. Tuy chẳng phải chuyện gì tốt đẹp, nhưng quả thực rất hữu dụng, giúp hắn khỏi va đầu vào tường ở khắp nơi.
Tề Huyền Tố rời khỏi nơi ở của Tôn Vĩnh Phong, mở phong thư ra, rút bên trong một tấm bìa cứng. Trên đó viết tên hắn cùng những thông tin liên quan. Rõ ràng Tôn chủ sự đã chuẩn bị từ trước.
Có những kẻ chưa chắc giúp được ngươi thành việc, nhưng muốn phá hỏng chuyện của ngươi thì dễ như trở bàn tay. Bởi vậy, hai trăm đồng Thái Bình này là khoản không thể không đưa. Chẳng lẽ hắn muốn đem số tiền mồ hôi xương máu phải liều mạng mới kiếm được dâng cho hạng người ấy hay sao?
Nhưng lời Thất Nương nói quả có lý. Hiện giờ hắn đang ở thế yếu, chống lại chẳng bằng thuận theo. Dẫu nhìn thế nào cũng chướng mắt, hắn vẫn chỉ có thể nhẫn nhịn.
Hơn nữa, mấu chốt của chuyện lần này không nằm ở Tề Huyền Tố, mà nằm ở Hội Thanh Bình. Với một đạo sĩ thất phẩm, hai trăm đồng Thái Bình tuy không phải món tiền lớn đến mức không chịu nổi, nhưng vấn đề là làm sao để một vị chủ sự tứ phẩm yên tâm nhận lấy số tiền ấy, lại còn chịu cầm tiền mà làm việc. Đó chính là tác dụng của Hội Thanh Bình.
Hội Thanh Bình đã giúp hắn gõ được cánh cửa ngôi miếu. Nhờ vậy, Tề Huyền Tố mới có cơ hội bước vào dâng hương khấn thần. Xét từ điểm này, phần thưởng thứ hai quả thực vượt xa khẩu súng ngắn Thần Long, thứ được tặng kèm hai mươi viên đạn đã khắc sẵn phù lục.
Nhìn từ một việc nhỏ mà suy ra việc lớn, thế lực của Hội Thanh Bình thật sự rộng đến mức nào?
Tề Huyền Tố quả nhiên muốn thoát khỏi Hội Thanh Bình. Nhưng hắn cũng phải thừa nhận, hội này đã làm chỗ dựa cho hắn, giúp hắn có được sự tự tin mà một đạo sĩ thất phẩm bình thường không thể có.
Giờ đây, Tề Huyền Tố lại phải nghĩ đến một vấn đề rất thực tế.
Còn đúng một tháng nữa mới đến ngày mười sáu tháng Tám. Giá đi phi thuyền đắt đỏ, hắn không thể rời khỏi Ngọc Kinh. Nhưng chi tiêu trong thành cũng chẳng hề rẻ. Nếu hắn nhớ không lầm, tiền trọ ở Ngọc Kinh mỗi ngày đã là một đồng Thái Bình. Đó mới chỉ là tiền phòng, chưa tính các khoản ăn uống đi lại khác. Nếu ở khách điếm suốt một tháng, với số tiền chưa đầy hai trăm đồng Thái Bình còn lại, quả thực quá tốn kém.
Tề Huyền Tố đứng bên đường trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng, hắn hạ quyết tâm đến phường Hải Thiềm, nơi hắn từng ở trước kia.