Thái độ của Thẩm Nguyệt Nương khiến Ngô Thăng ngồi không được tự nhiên. Hắn ngẫm mãi trong bụng, chẳng lẽ mình từng đắc tội với nàng? Không đúng. Đây rõ ràng là lần đầu hai người gặp nhau. Hay vốn dĩ nàng đã có tính như vậy?
Tâm tư đàn bà vốn khó đoán. Hắn cũng chẳng rảnh mà đoán làm gì. Mục đích của hắn là theo học cách luyện đan Trường Thọ, xem mình có thể nắm được môn nghề hiếm có này hay không, để kiếm chút “thức ăn” cho khí hải đang đói khát cùng cực. Còn Thẩm Nguyệt Nương có thiện cảm hay ghét bỏ hắn, vốn chẳng quan trọng.
Được rồi, chính Ngô Thăng cũng phải thừa nhận, cô nàng này trông khá bắt mắt. Nhưng sau cái liếc mắt lạnh tanh ấy, hắn lập tức dẹp luôn ý nghĩ vẩn vơ. Hắn đâu phải hạng người cứ thấy kẻ ta lạnh nhạt mà vẫn mặt dày bám lấy.
Kim Vô Huyễn cũng nhận ra điều gì đó, bèn ngờ vực hỏi vợ:
- Nguyệt Nương không thích Ngô huynh sao? Ngô huynh tướng mạo sáng sủa, xét về vẻ ngoài thì gần như chẳng kém đệ. Còn xét về phẩm hạnh…
Thẩm phu nhân liếc gã một cái:
- Phu quân đẹp trai lắm sao? Thiếp không dám bàn về dung mạo, nhưng riêng dáng đi của phu quân đã đủ khiến người ta phải nhìn lại rồi.
Kim Vô Huyễn vội thôi nhảy nhót, đổi bước hai lần:
- Đa tạ nương tử nhắc nhở.
Bấy giờ Thẩm phu nhân mới đành giải thích:
- Nguyệt Nương là người chẳng giấu được tâm sự. Thích hay ghét đều hiện cả lên mặt. Nó chưa buông lời khó nghe đã là cố kiềm chế rồi. Nó không muốn dẫn theo người lạ.
Kim Vô Huyễn vội hỏi:
- Nàng chưa nói thân phận của Ngô huynh ra đấy chứ?
Thẩm phu nhân đáp:
- Dĩ nhiên là chưa. Vì thế Nguyệt Nương càng bực hơn. Cũng không thể trách nó, đổi lại là ai, e rằng cũng chẳng vui vẻ gì.
Tự ý luyện và uống đan Trường Thọ đều là việc bị học cung Tắc Hạ nghiêm cấm. Dẫn một người xa lạ tham gia vào chuyện này, chẳng khác nào phạm điều cấm kỵ. Nếu Kim Vô Huyễn không thề thốt bảo đảm rằng Ngô Thăng tuyệt đối không thể đi tố giác, hơn nữa việc luyện đan lại không thể thiếu hắn, Thẩm Nguyệt Nương chắc chắn chẳng đời nào chịu đồng ý.
Kim Vô Huyễn rất khó xử. Những lời ấy lại càng không tiện nói với Ngô Thăng, bởi nói ra chẳng khác nào ngầm đuổi khách. Gã chỉ có thể nói quanh co, đổ hết cho tính tình của Thẩm Nguyệt Nương.
Từ núi Giới Thủ đến Bình Dư, bốn người gấp rút lên đường. Mãi đến cuối ngày hôm sau mới tới nơi.
Bình Dư là một tòa thành nhỏ, thuộc địa phận nước Thái. Trên cổng thành không dán cáo thị truy nã Ngô Thăng của nước Sở. Dẫu bức họa trên cáo thị vốn chẳng giống hắn là bao, có treo lên cũng chẳng bắt được ai, nhưng sức ép trên đầu Ngô Thăng vẫn nhẹ đi trông thấy.
Còn lệnh treo thưởng của học cung Tắc Hạ chỉ lưu truyền trong giới tu hành, đến giờ hắn vẫn chưa tận mắt thấy.
Cảm giác ấy quả thật dễ chịu.
Tòa thành chưa đến một nghìn hộ dân, chỉ có một con đường lớn giao nhau thành ngã tư. Nhà họ Thẩm tuy nước mất, nền nếp và của cải tích lại vẫn còn. Tòa trạch viện rộng rãi chiếm đến một phần tư thành Bình Dư, có thể xem là dòng họ lớn nhất nơi này.
Sau khi cha qua đời, chi họ của Thẩm phu nhân đã tách ra từ lâu. Nhưng trên gia phả, Kim Vô Huyễn vẫn được đối đãi như con rể quý, được sắp xếp ở một khu nhà hai sân phía đông nam.
Thẩm phu nhân chậm rãi đi dạo trong nhà hồi lâu. Nàng đưa tay vuốt thân cây quế nơi góc sân, rồi ngồi xuống chiếc ghế đá dưới hành lang, khẽ nói:
- Đã lâu lắm rồi ta chưa trở về…
Kim Vô Huyễn nắm tay vợ, ngồi bên nàng suốt nửa ngày. Hai vợ chồng chỉ lặng lẽ nhìn nhau, chẳng ai nói gì.
Ngô Thăng tìm một gian phòng thu xếp chỗ ở. Chờ lúc thuận tiện, hắn hỏi Kim Vô Huyễn:
- Nhìn quy mô tòa nhà này, nhà họ Thẩm quả thật có khí thế. Chẳng lẽ Kim lão đệ còn phải tự bỏ tiền ra sao?
Kim Vô Huyễn đáp:
- Bề ngoài thì rộng lớn, bên trong đã rỗng không. Chẳng qua chỉ còn cái vỏ. Hầu nước Thái không cho nhà họ Thẩm kinh doanh ruộng đất, núi rừng, sông hồ. Cả tộc ngồi ăn của cải suốt ba mươi năm, sớm đã suy kiệt từ lâu, nay chỉ cố giữ lấy thể diện mà thôi. Năm xưa, nhạc phụ muốn cầu một viên đan Trường Thọ, cả chi họ chính của nhà họ Thẩm dốc sức giúp đỡ. Họ vốn mong trong nhà có thể xuất hiện một vị cao nhân Luyện Thần. Nào ngờ đan luyện thành, tuổi thọ cũng kéo dài, nhưng nhạc phụ bế quan vẫn không thể phá cảnh, cuối cùng còn qua đời. Bao nhiêu công sức tiêu tan sạch. Người trong tộc oán trách ngập trời, nương tử vì thế mới giận dữ bỏ đi. Lần này trở về, thật ra cũng có ý bù đắp phần nào.
Ngô Thăng gật đầu, hiểu ra mọi chuyện. Hắn hỏi:
- Luyện một viên đan Trường Thọ cần bao nhiêu tiền?
Kim Vô Huyễn theo bản năng nhìn quanh bốn phía, rồi hạ giọng dặn hắn:
- Ở chỗ người nhà, nói đan Trường Thọ thì được. Nhưng đến đây rồi, tuyệt đối không được nhắc chuyện đan Trường Thọ. Thứ chúng ta luyện là Thanh Linh đan, có công dụng an định tâm thần, giúp người ta phá cảnh, chỉ vậy thôi.
Ngô Thăng bật cười:
- Ta hiểu rồi.
Kim Vô Huyễn nói:
- Luyện một viên Thanh Linh đan cần hai vị thuốc chính và mười ba vị thuốc phụ. Mỗi phần nguyên liệu pha đủ, ước chừng tốn sáu, bảy nghìn đồng. Khi luyện, ba phần nguyên liệu có thể thành công một viên đã là vận may lớn. Thường phải chuẩn bị năm, sáu phần mới yên tâm. Một viên đan thành, ít thì hai vạn đồng, nhiều thì ba, bốn vạn.
Đó là khoản tiền đủ nuôi một gia đình năm người suốt mười năm. Nếu đem đổi sang pháp khí, số tiền ấy có thể mua vài chục món hạ phẩm, hơn mười món trung phẩm, hoặc hai ba món thượng phẩm.
Chẳng trách Kim Vô Huyễn phải vét sạch gia sản, mang theo bốn dật vàng đến đây. Muốn luyện một viên đan Trường Thọ, chừng ấy vẫn còn xa mới đủ.
Nước Sở và học cung Tắc Hạ treo thưởng bắt thích khách Ngô Thăng, tổng cộng hai mươi dật vàng, tương đương hai vạn đồng. Đem số tiền ấy đổi lấy cái gọi là Thanh Linh đan còn chưa đủ.
Nhưng chỉ cần trong nhà xuất hiện một tu sĩ Luyện Thần, khoản chi này xem như thu hồi vốn. Nếu may mắn có thêm một vị cao nhân Phản Hư, vậy thì món lời còn lớn hơn nhiều. Bởi thế, người đời mới đua nhau tìm kiếm đan Trường Thọ.
Đáng tiếc, loại đan này nằm trong tay học cung Tắc Hạ. Mỗi năm số đan luyện thành có hạn, không phải cứ có tiền là mua được. Muốn cho ai, không muốn cho ai, còn phải xem sắc mặt học cung Tắc Hạ.
Ngô Thăng vốn đã nghĩ xấu cho người khác, nay càng tin chắc việc học cung Tắc Hạ đối phó Mộc đạo nhân có liên quan rất lớn đến chuyện này.
Tiền bạc tuy tốn kém, nhưng theo Ngô Thăng thấy thì chẳng đáng kể. Đan luyện thành, chỉ cần sang tay là có thể kiếm gấp đôi. Thị trường đan Trường Thọ rộng đến mức khiến hắn đã bắt đầu rục rịch tính chuyện làm ăn.
Nhưng Kim Vô Huyễn lập tức dội cho hắn một gáo nước lạnh:
- Đâu có dễ như vậy? Hai vị thuốc chính là hoàng linh chi và thanh vũ xanh, trong thiên hạ vốn đã hiếm thấy. Cả hai lại đều là linh dược bị học cung Tắc Hạ nghiêm cấm thu hái. Hễ nơi nào tìm được, các nước đều phải nộp lên. Muốn kiếm được chúng chẳng những khó mà còn nguy hiểm khôn lường. Cho dù may mắn luyện thành một hai viên, người ta cũng giữ lại cho mình hoặc người thân dùng lúc cần, ai lại đem bán ra ngoài?
Ngô Thăng chẳng còn gì để nói. Hắn đành nén ý định luyện đan đang sôi sục, trước mắt cứ xem thử thứ đan dược này được luyện ra sao rồi tính tiếp.
- Bao giờ bắt đầu luyện đan?
- Nhà họ Thẩm đã gom đủ hai vị thuốc chính. Hiện giờ họ đang thu mua những vị thuốc phụ còn lại. Trong số đó có ba vị, nương tử ta đã đích thân ra ngoài tìm mua. Chờ thêm vài ngày nữa là được.
Đan phương quý giá đến mức ấy, dĩ nhiên Kim Vô Huyễn phải giữ lại một phần. Trong mười ba vị thuốc phụ, ba vị quan trọng nhất, gã không nói cho nhà họ Thẩm biết, chỉ bảo Thẩm phu nhân tự mình tìm kiếm. Còn Thẩm phu nhân cũng chẳng dại gì tiết lộ cho người trong tộc.
Nhưng với Ngô Thăng, Kim Vô Huyễn không cần che giấu nhiều như vậy. Hai người từng giao phó tính mạng cho nhau, còn gì phải giấu giếm nữa?
- Ngô huynh, nói thật với huynh, lần này đệ đến Bình Dư luyện đan cũng chẳng nắm chắc. Năm xưa đệ từng theo sư phụ học luyện đan, nhưng chỉ nhớ được lượng dùng của hai vị thuốc chính. Còn mười ba vị thuốc phụ phải dùng bao nhiêu thì đệ chưa từng biết. Lần này mời huynh đến đây, cũng mong huynh đệ chúng ta cùng nhau suy xét.
Ngô Thăng nghĩ ngợi giây lát rồi hỏi:
- Phân tích đan Trường Thọ… Được rồi, cứ gọi là Thanh Linh đan đi. Kim lão đệ đã có dự tính gì chưa?