Chương 1: Lũ nhóc con kia, ăn cơm thôi nào! U lề u lề u lề… - Người Vớt Xác

Trang chủ › Người Vớt Xác › Chương 1

Chương 1 - Lũ nhóc con kia, ăn cơm thôi nào! U lề u lề u lề…

‹ Chương trước
☰ DS Chương 📖 5,962 chữ

Thôi Quế Anh đeo tạp dề, tay trái bưng bát, tay phải cầm muôi. Bà vừa gọi lũ trẻ vừa gõ muôi vào thành chum cháo.

Lý Duy Hán đang ngồi bên cạnh, bận nhồi thuốc lào vào điếu. Ông giơ chân đạp vào mông vợ một cái, bực bội mắng:

- Bà bị úng óc à? Gọi lợn con đấy phỏng?

Thôi Quế Anh trừng mắt nhìn chồng, đặt phịch chồng bát xuống trước mặt ông rồi chửi:

- Xì! Lợn còn chẳng quậy bằng chúng nó, ăn cũng chẳng khỏe bằng chúng nó!

Nghe tiếng gọi, một lũ trẻ từ ngoài cửa chạy ùa vào. Bảy đứa con trai, bốn đứa con gái, đứa lớn nhất mười sáu tuổi, đứa nhỏ nhất mới lên ba.

Vợ chồng Lý Duy Hán có bốn con trai và một con gái. Các con lớn lên rồi lần lượt ra ở riêng, ngày thường chỉ có nhà anh cả ở gần, thỉnh thoảng gửi đôi song sinh ba tuổi sang đây nhờ ông bà trông nom.

Nhưng cứ đến kỳ nghỉ hè, chẳng biết là vì thấy gửi con sang ông bà tiện hơn, hay nghĩ bụng đã là con mình thì phải tranh thủ nhờ vả được gì hay nấy, tóm lại, nhà nào cũng lục tục đem con đến gửi.

Nhà anh cả đã nhận, những nhà còn lại cũng ngượng chẳng tiện từ chối. Thế là trong nhà bỗng đông nghịt, nom chẳng khác nào mở lớp học.

Niềm vui con đàn cháu đống còn chưa kịp nếm cho trọn, vợ chồng già đã trông thấy đáy chum gạo mỗi ngày một gần.

Người ta vẫn bảo, con trai con gái đang tuổi lớn đều ăn khỏe hơn cả cha mẹ. Đám trẻ này đứa nào cái bụng cũng như hang không đáy. Mỗi bữa, nhà Thôi Quế Anh phải múc cháo bằng chum, một chum còn chưa đủ, trên bếp vẫn phải hâm thêm một nồi.

Vợ chồng bà tuy đã lên chức ông bà từ lâu nhưng tuổi tác chưa đến nỗi già. Hơn nữa, theo lệ ở nông thôn bấy giờ, trừ khi ốm đau nằm liệt, mất hẳn sức lao động, còn chỉ cần vẫn đủ sức xuống ruộng thì dù có già đến đâu cũng chẳng thể ngửa tay chờ con cái dâng cơm phụng dưỡng.

- Đừng chen! Đừng chen! Cả lũ đầu thai từ quỷ đói à? Xếp hàng cho bà!

Lũ trẻ bưng bát đến nhận cháo, Thôi Quế Anh đứng múc cho từng đứa.

Đứa cuối cùng bước tới là một cậu bé mười tuổi. Cậu mặc quần yếm bò, đi đôi dép quai hậu đang thịnh hành, da dẻ trắng trẻo, gương mặt hơi rụt rè.

So với đám anh chị em xung quanh, đứa nào cũng lấm lem, mũi dãi thò lò, cậu trông có vẻ chẳng ăn nhập gì.

- Tiểu Viễn Hầu, lại đây. Bà để cháu ngồi chỗ này ăn.

- Cháu cảm ơn bà.

Thôi Quế Anh cười, đưa tay xoa đầu thằng bé. Trong đám cháu nội cháu ngoại đông đúc, nó là đứa cháu ngoại duy nhất, nhưng giờ thì cũng chẳng còn là cháu ngoại nữa.

Thằng bé tên Lý Truy Viễn. Mẹ nó là con gái út của Thôi Quế Anh, cũng là sinh viên đại học đầu tiên trong lịch sử thôn Tư Nguyên.

Cô con gái út thi đỗ vào một trường đại học ở thủ đô. Tốt nghiệp xong, cô ở lại đó làm việc, rồi tự mình yêu đương, kết hôn. Trước ngày cưới, cô từng đưa người yêu về nhà một lần. Đó là một người thành phố da dẻ mịn màng, dáng vẻ thư sinh.

Cụ thể trông ra sao, vợ chồng Thôi Quế Anh chẳng còn nhớ rõ. Hôm ấy, đứng trước mặt con rể tương lai, hai người cứ câu nệ, ngượng ngùng, chẳng dám nhìn kỹ.

Sau đó, con gái mang thai rồi sinh một đứa con trai. Vì đường sá xa xôi, công việc lại bận rộn, cô chưa từng đưa con về quê. Nhưng từ ngày tốt nghiệp đi làm, tháng nào cô cũng gửi tiền về cho cha mẹ, chưa bao giờ ngừng.

Số tiền gửi trước khi cưới, vợ chồng Lý Duy Hán đều cất riêng. Bốn người con trai lần lượt cưới vợ, hai ông bà nghiến răng chịu đựng, nhất quyết không đụng đến một đồng. Đến lần con gái đưa chồng về nhà, Lý Duy Hán còn đẩy thẳng tiền sính lễ con rể đưa tới, sau đó cộng cả số tiền con gái gửi về rồi trả lại hết.

Hai người vốn định cố gắng thêm, cho con gái một phần hồi môn tử tế. Nhưng bốn đứa con trai cưới vợ trước, dù có thắt lưng buộc bụng đến đâu, họ cũng chẳng còn moi ra được đồng nào.

Chuyện ấy vẫn khiến hai vợ chồng canh cánh trong lòng. Tiền con gái gửi về lại trả cho con gái, thành ra ngày gả con, cha mẹ chẳng bỏ ra được thứ gì. Nghĩ sao cũng thấy hổ thẹn.

Còn số tiền con gái gửi về sau khi lấy chồng, hai người vẫn cất nguyên. Mấy đứa con trai bị vợ xúi giục, tìm đủ lý do sang nhòm ngó khoản tiền ấy, lần nào cũng bị Lý Duy Hán chỉ thẳng vào mũi mắng cho một trận phải quay về.

Nửa tháng trước, con gái nhờ một người mặc quân phục đưa con trai về quê, kèm theo một lá thư và một khoản tiền. Trong thư nói cô đã ly hôn, công việc gần đây cũng có thay đổi, chỉ đành tạm thời gửi con cho cha mẹ nuôi một thời gian.

Cô còn viết, sau khi ly hôn, cô đã đổi họ của con theo họ mình. Vậy là đứa cháu ngoại này bỗng biến thành cháu nội.

Lý Truy Viễn về quê chẳng những không thấy khó chịu, trái lại còn nhanh chóng hòa nhập. Suốt ngày cậu theo mấy người anh em chạy chơi khắp đầu làng cuối xóm, vui đến quên trời đất.

Bữa này là cháo khoai lang. Ăn vào ngòn ngọt nhưng không chắc bụng, tiêu hóa lại nhanh. Dù có ăn mấy bát, bụng căng tròn như trống, chạy nhảy một hồi là lại thấy đói.

Hơn nữa, cháo khoai lang hay khoai lang sợi, ăn mãi ăn nhiều quả thật sẽ làm dạ dày khó chịu. Đến lúc không đói, chỉ cần nhìn thấy thôi là bụng đã cồn lên, miệng chua loét.

Lý Truy Viễn thì chưa ngán. Cậu rất thích cảm giác được ăn trong một “nhà ăn tập thể” như thế này, nhất là các món dưa muối, tương mặn do Thôi Quế Anh làm, món nào cũng hợp khẩu vị.

- Bà ơi, hôm nay sao bà không sang nhà ông Râu Kẽm ăn cỗ?

Người lên tiếng là con trai nhà bác hai, tên ở nhà là Hổ Tử, năm nay chín tuổi.

Thôi Quế Anh dùng đuôi đũa gõ lên đầu nó một cái, mắng:

- Đồ quỷ sứ! Người ta có mẹ mất mới làm cỗ, cháu muốn nhà người ta ngày nào cũng làm cỗ chắc?

Hổ Tử vừa ôm đầu vừa nói:

- Sao lại không được ạ? Ngày nào cũng có cỗ thì tốt quá còn gì.

- Đồ quỷ sứ, nói năng linh tinh! Nhà người ta có muốn làm cũng đâu thể ngày nào cũng có đủ người xếp hàng chết cho nhà người ta làm cỗ.

“Cạch!”

Lý Duy Hán nện mạnh đũa xuống bàn, quát:

- Bà là người lớn, ăn nói nhảm nhí gì trước mặt trẻ con vậy?

Thôi Quế Anh cũng nhận ra mình lỡ lời. Bà không cãi lại chồng, chỉ múc một thìa tương mặn bỏ vào bát cháo của Lý Truy Viễn. Trong tương có lạc giã vụn và vài miếng thịt băm. Thìa vừa rồi vừa khéo có cả thịt.

Lý Truy Viễn dùng đũa đảo mấy cái. Màu tương tan ra, những miếng thịt trắng mềm nổi lềnh bềnh trên mặt cháo.

Bọn trẻ mắt tinh, lại ghét nhất chuyện người khác có mà mình không có. Hổ Tử lập tức nói:

- Bà ơi, cháu cũng muốn thịt! Loại giống trong bát anh Viễn ấy!

- Bà ơi, cháu cũng muốn!

- Cháu nữa!

Những đứa khác cũng nhao nhao theo.

- Đi đi, đi hết đi! Thôi Quế Anh bực bội quát. Các em còn nhỏ, không hiểu chuyện, làm ầm lên thì thôi. Còn Phan Hầu, Lôi Hầu, Anh Hầu, mấy đứa lớn các cháu là anh là chị, hùa theo làm gì? Biết điều một chút đi! Bữa nay nhà ta mua thức ăn bằng tiền mẹ thằng Tiểu Viễn Hầu gửi về. Cha mẹ các cháu chẳng góp nổi một hạt gạo nào, còn mặt mũi tranh phần với người ta à?

Phan Tử, Lôi Tử và Anh Tử ngượng ngùng cúi đầu. Mấy đứa nhỏ hơn thì nhìn nhau cười, chẳng mấy chốc đã quên chuyện.

Bà nội không phải chưa từng bóng gió. Chúng cũng từng đem chuyện ấy nói lại với cha mẹ, nhưng cha mẹ đều dặn cứ giả vờ không biết.

Lúc này, Thạch Đầu, con trai nhà chú ba, năm nay tám tuổi, hỏi:

- Thế cô Hoàng Oanh còn ở đây không ạ?

Thôi Quế Anh hỏi lại:

- Hoàng Oanh nào?

Hổ Tử đáp:

- Bà ơi, là cô hôm qua nhảy múa ca hát ở nhà ông Râu Kẽm ấy. Cô hát hay lắm, múa cũng đẹp nữa.

- Thật à?

Hôm qua Thôi Quế Anh bận rửa bát ở nhà sau nhà ông Râu Kẽm, chân tay chẳng lúc nào ngơi, làm gì có thì giờ ra đằng trước xem đội tang lễ biểu diễn.

Lý Duy Hán cũng không đi. Ông lấy cớ phải ra thuyền, nhưng thật ra vẫn ở nhà. Sở dĩ không đi là vì ngại. Dẫu sao ông đã để Phan Tử, Lôi Tử dắt theo Viễn Hầu, Hổ Tử và Thạch Đầu, tổng cộng năm đứa trẻ, sang ăn cỗ rồi. Một người lớn như ông mà còn mò sang ăn thì khó coi quá.

Năm đứa trẻ không chỉ tự mình ăn, còn gói mang về không ít món, nhất là những món mặn được chia theo đầu người trên mâm. Lý Truy Viễn cũng học theo các anh, xé một miếng giấy ni lông đỏ trải trên bàn, gói thức ăn vào đó.

Về đến nhà, chúng lại chia cho những đứa em không được sang ăn cỗ. Nhìn các em ăn ngon lành, chúng cảm thấy mình chẳng khác nào vị tướng vừa khải hoàn trở về.

Lôi Tử nói:

- Cô ấy hát hay thật. Người cũng đẹp. Cô còn bảo mọi người cứ gọi mình là Hoàng Oanh.

Phan Tử gật đầu:

- Cô ấy tốt lắm. Người đẹp, quần áo cũng đẹp. Sau này cháu muốn cưới một người như cô ấy.

Thôi Quế Anh cúi đầu hỏi Lý Truy Viễn bên cạnh:

- Tiểu Viễn Hầu, có đúng thế không?

- Ừm.

Lý Truy Viễn đặt đũa xuống, gật đầu.

- Đẹp ạ.

Đội tang lễ ở nông thôn phải là kiểu người lên được sân khấu, xuống được bếp núc.

Khi làm nghi lễ, họ khoác áo đạo sĩ hoặc áo cà sa, tụng kinh làm phép, dáng vẻ phải thanh tao, nghiêm trang.

Sau bữa cỗ trưa, họ còn phải tổ chức một buổi văn nghệ, nào ca hát, nhảy múa, xiếc, ảo thuật, có trò gì diễn được thì đều phải lôi ra diễn hết.

Nhà nào giàu có, lại thích phô trương, còn có thể mời đội tang lễ biểu diễn buổi tối. Nhưng trước khi buổi diễn ấy bắt đầu, người lớn thường đuổi hết trẻ con về nhà đi ngủ.

Hoàng Oanh họ Tiêu, tên thật là Tiêu Hoàng Anh, Hoàng Oanh chỉ là nghệ danh. Tuổi cô ta thực ra không còn trẻ, đã ngoài ba mươi và từng ly hôn.

Tài ca múa của cô ta chỉ thuộc loại làng nhàng. Bù lại, cô ta biết ăn diện, quần áo cũng táo bạo, hợp mốt. Chiếc sườn xám đen bó sát xẻ cao, để lộ cả mảng chân trắng nõn, cộng thêm tài khuấy động đám đông thân thiện, nhiệt tình…

Nếu dùng cách chửi cay độc nhất của đàn bà nông thôn, cũng là lời khen cao nhất dành cho một người đàn bà, thì chỉ có một chữ:

Lẳng.

Bấy giờ, trong làng có ti vi chẳng được mấy nhà. Nhiều người thường phải mang ghế sang chen chúc xem, nhưng chỗ ngồi cũng chẳng đủ. Thời thịnh hành còn chưa tràn xuống khắp vùng quê, cái vẻ lẳng lơ của Hoàng Oanh đối với các cô gái, các nàng dâu quanh vùng chẳng khác nào đem đại bác bắn chim sẻ.

Không chỉ hớp hồn cánh đàn ông, cô ta còn khiến đám con trai mới lớn ngẩn ngơ, đầu óc quay cuồng.

Lúc này, trước cửa gian nhà chính xuất hiện một bóng người. Đó là Triệu Tứ Mỹ, hàng xóm của gia đình. Bà ta và Thôi Quế Anh quen nhau đã nhiều năm, gần như chị em ruột. Hồi con cái còn nhỏ, hễ rảnh rỗi là hai người lại ngồi trên bờ đê buôn chuyện thiên hạ.

Thôi Quế Anh hỏi:

- Ăn cơm chưa? Lại đây, thêm đôi đũa.

Triệu Tứ Mỹ vội xua tay, cười nói:

- Ôi chao, sang nhà ai ăn ké tôi còn ngượng, chứ sang nhà bà thì càng ngượng hơn. Nhìn xem, nhà bà giờ chỉ còn uống đồ loãng thôi kìa.

- Cháo này ăn vào bụng dễ chịu lắm, tôi thích món này. Lại đây, tôi múc cho bát. Chum gạo có vét đến đâu thì cũng chẳng đến mức thiếu mất phần của bà.

- Thôi thôi, tôi ăn rồi. À này, bà có biết vừa rồi tay đội tang lễ dẫn người đến nhà ông Râu Kẽm làm ầm lên không? Nghe nói còn đập phá đồ đạc, suýt nữa đánh nhau.

Nghe vậy, Thôi Quế Anh lập tức cầm bát đũa đứng dậy. Bà vừa và cháo vào miệng vừa tiến về phía cửa.

- Có chuyện gì? Nhà ông Râu Kẽm chưa trả đủ tiền à?

- Không phải chuyện tiền công biểu diễn. Là người trong đội bị mất tích.

- Cái gì, mất người à?

Thôi Quế Anh mút mút đầu đũa.

- Mất ai?

- Một người đàn bà, cái cô hôm qua uốn éo lẳng lơ ấy. Hôm qua cô ta vặn mông mà tôi nhìn phát ngượng, cứ như sắp để lộ cả khe mông ra ngoài.

- Cô Hoàng Oanh ạ?

Phan Tử lên tiếng hỏi.

Những đứa trẻ khác cũng dựng tai nghe ngóng.

- Hình như đúng là cô ta. Cái con đàn bà lẳng lơ ấy đấy.

Triệu Tứ Mỹ cười trên nỗi đau của người khác, nom rất khoái chí.

- Rốt cuộc mất tích thế nào? Tìm thấy chưa?

Thôi Quế Anh hỏi.

- Nghe nói tối qua có người trông thấy con đàn bà ấy đi theo cậu con trai út nhà ông Râu Kẽm chui vào rừng nhỏ bên bờ sông. Sau đó cô ta không quay lại chỗ đội nữa. Đội tang lễ bèn kéo đến nhà người ta đòi người.

- Thế thằng con nhà ông Râu Kẽm đâu?

- Nó vẫn ở nhà, nhưng cứ khăng khăng bảo không biết gì, nói chẳng có chuyện ấy. Nhưng người trong làng trông thấy cũng không ít. Rõ ràng là nó với con đàn bà kia cùng chui vào rừng.

- Còn người đâu?

- Ai mà biết. Mất tăm rồi. Đội trưởng lần này đến là để đòi người, nhưng cả nhà ông Râu Kẽm cứ cắn răng nói chưa từng gặp cô ta, còn bảo chính cô ta bỏ đi.

- Thế phải làm sao?

- Nhà ông Râu Kẽm bồi thường cho đội trưởng một khoản tiền, nghe đâu chẳng nhỏ đâu.

Thôi Quế Anh lập tức vỗ vỗ vào cánh tay Triệu Tứ Mỹ, nhướng mày:

- Có chuyện rồi!

Triệu Tứ Mỹ cũng vỗ lại vào tay bà, hất cằm:

- Chứ còn gì nữa!

Trước đây ông Râu Kẽm từng làm phó trạm trưởng trạm lương thực trên huyện. Đó là một chức béo bở. Bây giờ dù đã về hưu, ngoài cậu con út chơi bời lêu lổng, mấy người con trai còn lại đều có việc làm trên huyện. Trong làng này, ngay cả nhà trưởng thôn cũng không oai bằng nhà ông ta.

Bởi vậy, chuyện có thể khiến ông Râu Kẽm chịu bỏ tiền dàn xếp, bên trong nhất định có điều mờ ám.

- Đưa tiền xong là tay đội trưởng đi luôn à?

- Đi rồi.

- Thế người cũng không tìm nữa?

- Tìm cái gì mà tìm. Người ta đã cầm đồ nghề, lên xe tải sang nhà khác biểu diễn rồi.

- Ôi chao…

Thôi Quế Anh lắc đầu.

- Mong là đừng xảy ra chuyện gì.

- Ai mà biết được.

- Con người ấy, đúng là thật giả lẫn lộn.

- Chứ còn gì nữa.

Nghe đến đó, Hổ Tử và Thạch Đầu bỗng òa khóc:

- Hu hu hu! Cô Hoàng Oanh ơi, cô Hoàng Oanh!

- Hoàng Oanh của cháu! Cô Hoàng Oanh mất rồi, hu hu!

Triệu Tứ Mỹ suýt bật cười đến nổ cả bong bóng mũi. Bà ta chỉ vào hai đứa trẻ, nói:

- Bà nhìn hai đứa cháu mình xem, đúng là giống hệt mấy kẻ si tình.

Thôi Quế Anh lườm bà ta:

- Nhà bà chẳng có cháu gái à? Gả một đứa cho chúng nó đi.

- Hừ.

Triệu Tứ Mỹ chỉ tay về phía Lý Truy Viễn.

- Kết thông gia thì cũng không phải không được. Nhưng phải gả cho thằng Tiểu Viễn Hầu nhà bà. Như vậy cháu gái Tiểu Quyên nhà tôi mới được theo nó lên thủ đô hưởng phúc.

- Thôi đi! Suốt ngày chỉ mơ chuyện trên trời.

Lý Duy Hán đã ăn xong. Chuyện đàn bà buôn dưa lê, ông chẳng có hứng thú, cũng không tiện chen lời. Ông chỉ lặng lẽ cầm điếu thuốc lào của mình lên, mở bao diêm ra, nhưng bên trong đã trống không.

Lý Truy Viễn đặt đũa xuống, chạy ra sau bếp lấy một bao diêm mang tới cho ông.

Lý Duy Hán không nhận bao diêm, chỉ đưa nõ điếu thuốc đến trước mặt thằng bé.

Lý Truy Viễn cười, rút một que diêm ra.

“Xoẹt!”

“Xoẹt!”

“Xoẹt!”

Mãi đến lần thứ ba, que diêm mới bén lửa. Cậu vội lấy bàn tay kia che gió, cẩn thận đưa ngọn lửa xuống gần nõ điếu.

Lý Duy Hán rít liền mấy hơi, đến khi khói thuốc tuôn ra mới mãn nguyện, gương mặt đầy vẻ khoan khoái.

Ngày trước, con gái ông cũng thích châm thuốc cho cha. Con bé từng nói, sau này lớn lên sẽ mua thuốc bao giấy cho cha hút.

“Phù…”

Lý Truy Viễn thổi tắt que diêm, ném xuống đất rồi lấy đế giày giẫm đi giẫm lại mấy lần.

Phan Tử lên tiếng:

- Ông ơi, chiều nay mình chèo thuyền đi hái gương sen nhé?

Lý Duy Hán liếc mâm cơm đạm bạc, gật đầu:

- Được. Gọi cả Lôi Tử đi, mang theo lưới. Xem có vớt được mấy con cá đem về cho bà nấu canh không.

Hổ Tử và Thạch Đầu nghe vậy, lập tức quên béng chuyện chim Hoàng Oanh, cùng réo lên:

- Ông ơi, cháu cũng đi! Cháu cũng đi!

Mấy đứa nhỏ khác cũng hùa theo, sợ bỏ lỡ cuộc vui.

Lý Duy Hán nghiêm mặt nhìn một lượt, quát:

- Ông nói cho các cháu biết, dưới sông này có thủy hầu đấy. Nó chuyên kéo người xuống nước dìm chết, bắt làm kẻ chết thay cho mình. Có người chết thay rồi, nó mới được đầu thai.

Đám trẻ lập tức sợ xanh mặt, chẳng đứa nào dám lên tiếng.

Thạch Đầu vẫn chưa phục, hỏi:

- Tại sao các anh được đi?

Phan Tử và Lôi Tử dù sao cũng là trẻ lớn, đã hiểu chuyện. Hai đứa liền phối hợp với ông để dọa bọn em:

- Anh khỏe lắm, thủy hầu không kéo nổi anh đâu.

- Anh bơi giỏi, thủy hầu đuổi không kịp.

Lý Truy Viễn không bị dọa. Cậu cũng muốn đi, nhưng ngượng ngùng chẳng dám mở miệng, chỉ cúi đầu mân mê mấy ngón tay, thỉnh thoảng lại lén liếc ông ngoại.

Lý Duy Hán nói:

- Viễn Hầu cũng đi.

Hổ Tử lập tức phản đối:

- Không công bằng! Anh Viễn cũng chỉ lớn hơn cháu một tuổi thôi mà.

Thạch Đầu phụ họa:

- Đúng đó! Sức anh Viễn còn chẳng bằng cháu, sao đánh nhau với thủy hầu được?

Lý Duy Hán chậm rãi nhả ra một vòng khói, đưa ra một lý do hợp tình hợp lý đến mức bọn trẻ cũng phải tin:

- Viễn Hầu từ nơi khác trở về. Thủy hầu ở đây không quen nó.

…

Nhà cửa trong làng phần lớn đều dựng men theo bờ sông. Cửa trước trông ra đường, cửa sau quay về phía sông.

Mỗi khi rửa rau giặt áo, người ta chỉ cần xách đồ ra cửa sau, bước xuống vài bậc đá xanh là tới bờ nước.

Nhà nào biết vun vén thường giăng một tấm lưới ngay đoạn sông trước nhà, quây bên trong để nuôi vịt nuôi ngỗng.

Thuyền nhà họ Lý buộc dưới gốc hồng sau cửa. Lý Duy Hán tháo dây, bước lên trước rồi dùng sào tre giữ thuyền khỏi chòng chành.

Phan Tử ôm cần câu, Lôi Tử bưng lưới cá, lần lượt nhảy xuống thuyền.

Lý Truy Viễn đeo một chiếc giỏ tre nhỏ sau lưng. Lý Duy Hán đưa tay đón cậu lên.

- Ngồi cho vững cả đi, thuyền chạy đây!

Theo nhịp cây sào tre khi dài ra, rút lại trên mặt nước, con thuyền bắt đầu lướt đi.

Phan Tử và Lôi Tử đã quen cảnh chèo thuyền. Hai đứa ngả người nằm dài, nhàn nhã vô cùng. Còn Lý Truy Viễn thì ngồi ngay ngắn, lưng thẳng tắp, nhìn những đám rong nước trôi ngang và từng con chuồn chuồn sà sát mặt sông.

- Này, Viễn Tử.

Phan Tử đưa cho cậu một nắm đậu rang.

Phan Tử là con cả trong nhà. Nhà nó ở gần, ngày thường rảnh rỗi lại tranh thủ chạy về lấy ít đồ ăn vặt, nhưng mẹ nó đã dặn phải giấu đi mà ăn một mình, không được chia cho ai.

Ngược lại, lúc mẹ Lý Truy Viễn nhờ người mặc quân phục đưa cậu tới đây, bà còn gửi theo cả một túi lớn đồ ăn vặt, nào bánh quy, ruốc thịt, hoa quả đóng hộp. Hôm kia lại gửi thêm một bao to. Tất cả đều bị Thôi Quế Anh khóa trong tủ, mỗi ngày chia một phần cho lũ trẻ.

- Cảm ơn anh Phan Tử.

Lý Truy Viễn nhận lấy, bỏ một hạt vào miệng. Người địa phương gọi thứ đậu này là đậu quyền. Thật ra đó là đậu tằm, còn nguyên vỏ, thêm ít gia vị và muối rồi rang lên. Nhai vào thơm giòn.

Nhưng Lý Truy Viễn không thích ăn thứ này. Đậu quá cứng, cắn mãi không vỡ, sơ ý còn dễ mẻ răng.

Vì thế, trong lúc hai người anh cứ nhai rôm rốp, cậu chỉ ngậm một hạt trong miệng như ngậm kẹo.

Phan Tử cất giọng hát:

- Mai này dẫu có nghìn nghìn khúc hát, trôi dạt theo đường xa; mai này dẫu có nghìn nghìn vì sao, soi sáng hơn trăng đêm nay.

Lôi Tử bật cười:

- Cậu hát sai rồi. Bài ấy đâu có hát như thế.

Phan Tử khinh khỉnh:

- Hừ, cậu biết hát thì hát đi!

Lôi Tử mấp máy môi mấy lần, gãi đầu:

- Tớ chỉ nhớ được giai điệu thôi.

Lý Duy Hán đang chống sào hỏi:

- Các cháu hát bài gì thế? Ông nghe chẳng hiểu gì cả.

Phan Tử đáp:

- Ông ơi, hôm qua là Hoàng Oanh hát đấy. Bài hát Việt Quảng Đông.

- Việt Quảng Đông à?

Lý Duy Hán hơi ngạc nhiên.

- Bài vừa rồi là Việt Quảng Đông sao?

Lôi Tử vội nói:

- Không phải đâu ông, là khúc hát Quảng Đông, bên Quảng Đông với Hồng Kông ấy.

- Ồ, ra là vậy. Thế các cháu hát cho ông nghe tử tế xem nào.

Lôi Tử nói:

- Phan Tử có biết hát đâu. Cậu ấy còn chẳng nhớ nổi lời, kém xa Hoàng Oanh hôm qua.

Thật ra Hoàng Oanh hát cũng chẳng chuẩn. Nhưng trong tình cảnh đất liền lúc bấy giờ, chuẩn hay không chuẩn chẳng khác nhau bao nhiêu. Mọi người vốn chẳng hiểu lời hát, chỉ cần giọng điệu đủ tự tin là được.

Phan Tử chỉ vào Lý Truy Viễn:

- Hôm qua lúc Hoàng Oanh hát, cháu thấy Viễn Tử cũng hát theo. Cậu ấy biết hát đấy.

Lý Duy Hán nói:

- Viễn Hầu, hát cho ông nghe thử nào.

Lý Truy Viễn ngượng ngùng:

- Cháu chỉ biết một đoạn thôi.

Lôi Tử giục:

- Hát đi, hát đi! Viễn Tử không chỉ biết hát tiếng Quảng Đông đâu, cậu ấy còn biết hát tiếng Anh nữa đấy.

Lý Truy Viễn đành cất tiếng:

- Mai này dẫu có nghìn khúc ca bay về nơi xa, vẫn theo đường con bước; mai này dẫu có nghìn vì sao, còn sáng hơn vầng trăng đêm nay.

Cháu chỉ biết đến thế thôi. Mẹ cháu thích bài này, ở nhà thường mở cho cháu nghe.

Lôi Tử quay sang nhìn Phan Tử, giọng đầy khiêu khích:

- Nghe rõ chưa? Lời cậu hát sai hết rồi.

Phan Tử trợn mắt lườm Lôi Tử.

Ba anh em vừa nói chuyện vừa đi. Chẳng bao lâu, con thuyền đã chèo tới đoạn sông rộng hơn.

Phan Tử sang giúp ông lấy sào. Lý Duy Hán vừa tìm chỗ thả lưới, vừa gỡ những nút buộc trên lưới cá. Lôi Tử thì dựng cần câu lên.

Lý Truy Viễn không được giao việc gì, vẫn đeo chiếc giỏ tre nhỏ, ngồi ngay ngắn một chỗ. Khi thì cậu nhìn ông và các anh xoay xở, khi lại ngắm rong nước trôi theo dòng cùng những con ếch đang nhảy nhót trên đó.

Nhìn một hồi, Lý Truy Viễn bỗng ngờ vực, hơi nhổm người về phía trước.

Lý Duy Hán vẫn luôn để ý đứa cháu ngoại này. Thấy vậy, ông lập tức nhắc:

- Viễn Hầu, ngồi vào trong một chút, kẻo ngã xuống nước!

Lý Truy Viễn chỉ về phía trước:

- Ông ơi, anh ơi, đằng kia có một đám rong nước màu đen.

- Đâu?

Lôi Tử nhìn theo hướng ngón tay cậu. Gã chợt kêu lên:

- Ồ, đúng là màu đen thật!

- Ở đâu? Ở đâu?

Phan Tử đang chống sào ở đuôi thuyền nên không nhìn rõ. Nó liền chống mạnh cây sào, đưa thuyền tiến về phía ấy.

Ban đầu Lý Duy Hán không để tâm. Ông đang bận gỡ nút lưới. Đến khi nghe Lý Truy Viễn và Lôi Tử vẫn ríu rít bàn tán, ông mới ngẩng đầu nhìn sang.

Chỉ một thoáng, ông đã trừng mắt đứng sững.

Đám màu đen kia mảnh như tơ, lan tỏa trên mặt nước, tản ra nhưng không rời rạc. Đó đâu phải rong nước. Rõ ràng là tóc người!

Phan Tử cứ liên tục chống thuyền tới gần, khiến khoảng cách với khu vực ấy càng lúc càng ngắn. Phần chìm dưới nước cũng lờ mờ hiện ra: những đường nét đen sẫm, hàng cúc trắng, đường cong mềm mại của tà áo…

Vì Lý Truy Viễn đang ngồi nên người đầu tiên nhìn thấy phần dưới nước lại là Lôi Tử, đang đứng ngay bên cạnh cậu. Lôi Tử lập tức hét lớn:

- Ông ơi, là người! Có người rơi xuống nước! Phan Tử, mau chèo tới cứu người!

Câu chuyện thủy hầu từ lâu đã chẳng dọa nổi đám trẻ lớn như chúng. Bản tính chất phác, lương thiện khiến chúng theo bản năng cho rằng có người bị rơi xuống nước, phản ứng đầu tiên là cứu người.

- Nói bậy!

Lý Duy Hán bỗng gầm lên.

Ông vốn là người ông nghiêm khắc nhưng hiền từ, hiếm khi nào thất thố như vậy. Dưới làn da thô ráp nứt nẻ, những đường gân xanh nổi rõ. Ông ném phăng tấm lưới xuống thuyền, vừa đi về phía đuôi thuyền vừa quát Phan Tử:

- Quay đầu! Quay đầu ngay! Đưa sào đây, không được chèo tới đó!

Con thuyền nhà mình đã đi vào khu vực này được một lúc mà chẳng ai nghe thấy tiếng người rơi xuống nước. Giờ mặt sông bên kia lại phẳng lặng, không gợn sóng. Người kia còn cần gì cứu nữa? Chắc chắn đã chết từ lâu rồi!

Nhưng theo lẽ thường, gặp một xác chết trôi cùng lắm chỉ thấy xui xẻo. Vì sao Lý Duy Hán lại hoảng hốt đến vậy?

Ông hiểu rất rõ, lúc này chỉ có thể mau chóng tránh xa.

Vùng này sông ngòi dày đặc, lại gần sông lớn và biển. Chuyện có người chết đuối dưới nước chẳng phải hiếm hoi gì. Hầu như làng nào, hoặc vài làng lân cận, cũng có một người chuyên làm nghề vớt xác.

Đó thường không phải nghề chính, nhưng người đảm nhận lại cố định. Một là vì nghề này xúi quẩy, hai là có quá nhiều điều kiêng kỵ. Người không được truyền lại nghề xưa, chẳng ai muốn dây vào.

Làng Tư Nguyên có một người vớt xác tên Lý Tam Giang. Xét theo vai vế, Lý Duy Hán còn phải gọi hắn một tiếng chú.

Lý Tam Giang không con không cái. Ruộng đất được làng chia, hắn cũng lười cày cấy, đem cho người khác thuê, chỉ mong đổi lấy ít lương thực sống qua ngày.

Nhưng hắn không phải hạng lười biếng bữa đói bữa no. Một nghề là làm đồ giấy cúng, một nghề là vớt xác. Cả hai nghề đều kiếm được không ít tiền, hơn hẳn mấy sào ruộng. Bởi vậy, dù sống một mình, ngày nào hắn cũng có rượu ngon thịt thà, cuộc sống khá sung túc.

Những năm trước, để giúp bốn người con trai dựng vợ, Lý Duy Hán từng thuê ruộng của Lý Tam Giang mà cày cấy. Nói cho cùng, ông đã chiếm phần lợi của người ta. Vì thế, mỗi khi cần vớt xác, ông cũng đi theo vị tộc thúc này để phụ một tay.

Lý Tam Giang chưa bao giờ cho ông lên thuyền chạm vào thi thể. Mỗi lần chỉ bảo ông ở trên bờ, bày bàn cúng rồi chuẩn bị ít tiết gà, tiết chó. Nhưng đi cùng nhiều lần, Lý Duy Hán cũng học được từ hắn không ít điều trong nghề.

Trong tiếng lóng của nghề vớt xác, xác nổi được gọi là xác trôi.

Thông thường, người chết đuối ngâm dưới nước vài ngày, thi thể dần phân hủy rồi sẽ nổi lên. Do cấu tạo xương chậu, xác đàn ông thường úp mặt xuống, còn xác đàn bà thường ngửa mặt lên.

Phần lớn xác trôi đều làm theo một quy trình cố định. Lý Tam Giang vớt lên, cõng về bờ rồi giao cho người nhà. Nhưng có lần uống rượu, hắn từng nghiêm túc nói rằng có hai loại xác trôi, hắn không dám tùy tiện đụng tới.

Một là xác trôi nằm cạnh vòng xoáy. Điều đó có nghĩa gần đó có chỗ rò nước hoặc bùn lún. Chỉ sơ sẩy một chút, cả người lẫn thuyền đều có thể bị lật úp rồi hút xuống.

Còn loại thứ hai, đến Lý Tam Giang gặp phải cũng run môi, dựng tóc gáy.

Đó là xác trôi chỉ để mái tóc nổi trên mặt nước, còn thân người thì đứng thẳng dưới đáy sông!

Loại xác ấy ôm hận quá sâu, chết rồi vẫn chẳng chịu nhắm mắt. Nó nhất định phải kéo một kẻ khác xuống chết thay!

Lý Duy Hán vẫn nhớ lần đó, trên bàn rượu, Lý Tam Giang trợn đôi mắt đỏ ngầu, nghiêm giọng dặn ông:

- Hán Hầu, nhớ lấy. Nếu trên sông mà thấy loại xác trôi này, đừng nghĩ ngợi gì hết. Chạy được bao xa thì chạy ngay bao xa. Chậm chân, nó sẽ giữ ông lại đấy!

Vì vậy, khi phát hiện đó là một xác trôi đứng thẳng dưới nước, sao Lý Duy Hán không kinh hãi cho được? Huống chi trên thuyền lúc này còn có ba đứa cháu.

Phan Tử vẫn tò mò, rõ ràng chưa hiểu ý ông. Đến khi Lý Duy Hán chạy tới giật lấy cây sào, nó lảo đảo một bước. Cây sào trong tay cũng chọc lệch xuống bùn, khiến thân thuyền nghiêng mạnh sang phải.

Người thường xuyên đi thuyền gặp cảnh này vẫn còn chống đỡ được. Lôi Tử đang đứng bên mạn thuyền lập tức cúi người, chộp lấy mép thuyền, nhanh chóng giữ lại thăng bằng.

Nhưng Lý Truy Viễn ngồi ở đó thì chưa từng trải qua chuyện như vậy. Phần thân trên của cậu bị quán tính hất ra ngoài. Cả người rơi tõm xuống nước, đúng phía bên có xác trôi.

Nước sông trong vắt. Lại đang giữa buổi chiều, ánh nắng chiếu xuống rực rỡ, dưới nước nhìn rất rõ.

Lý Truy Viễn vừa rơi xuống còn theo bản năng quẫy đạp. Nhưng cảnh tượng trước mắt lập tức khiến cậu sững sờ.

Đúng như anh Lôi Tử nói, dưới nước đang đứng một người.

Mà người ấy không phải ai khác, chính là Hoàng Oanh, cô bé được mấy anh em nhắc tới bên mâm cơm hôm nay!

Nàng vẫn mặc bộ sườn xám đen từng mặc lúc biểu diễn, trên áo điểm những chiếc cúc trắng có hoa văn. Tà áo xẻ cao tới tận eo. Dưới chân là đôi giày cao gót màu đỏ.

Dòng nước lặng lẽ trôi. Dưới sức đẩy của dòng chảy, hai cánh tay nàng nhịp nhàng đưa ra sau rồi lại vung về trước, hai chân cũng đung đưa qua lại.

Trông nàng chẳng khác nào đang bước đi dưới lòng sông.

Nàng vung tay, nàng lắc eo, nàng để lộ đôi chân, nàng nhón gót, nàng cất tiếng hát…

Ngay cả dưới nước, nàng vẫn phô diễn cái dáng điệu lẳng lơ khiến đàn bà trong làng vừa ghen tị vừa ghét bỏ.

- Mai này dẫu có nghìn khúc ca bay về nơi xa, vẫn theo đường con bước…

Bên tai Lý Truy Viễn như lại vang lên giọng Quảng Đông không chuẩn của Hoàng Oanh.

Hòa cùng tiếng hát, Hoàng Oanh từ từ xoay người, từng chút một hướng về phía Lý Truy Viễn.

Mái tóc dài của nàng bay chếch lên trên, tựa như một chiếc ô đen xòe rộng. Lớp phấn trên mặt còn dày hơn hôm qua, đôi môi cũng đỏ thắm hơn.

Bất chợt, nàng nở nụ cười.

‹ ☰ ›