Chương 133: Giá Thủ Đoạn Giá Thời Đại Đích Nhân Bất Tằng Kiến Quá - Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng

Trang chủ › Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng › Chương 133

Chương 133 - Giá Thủ Đoạn Giá Thời Đại Đích Nhân Bất Tằng Kiến Quá

☰ DS Chương 📖 2,198 chữ

Chương 133: Thủ đoạn này, người đời nay chưa từng thấy qua (xin nguyệt phiếu!)

Thật ra, trước đó Tư Mã Ý và Lục Tốn đã từng đấu trí từ xa.

Tháng tám năm ngoái, tức năm 228, quân Ngụy và Ngô giao chiến ở Thạch Đình. Tư Mã Ý làm viện binh cho Tào Hưu, đóng phía sau tiếp ứng. Tào Hưu đại bại, Tư Mã Ý lập tức dẫn quân rút về, chưa từng bày trận đối đầu chính thức với Lục Tốn.

Tuy chưa từng trực tiếp giao chiến, Tư Mã Ý lại hiểu Lục Tốn rất rõ.

Lục Tốn đã ra tay ba lần, lần nào cũng đại thắng, khiến Quan Vũ, Lưu Bị và Tào Hưu đều thua đến mức toàn quân tan tác. Bởi vậy, Tư Mã Ý nắm khá rõ thực lực của Lục Tốn, biết đây là kẻ khó đối phó.

Nhưng cũng chẳng còn cách nào khác. Tào Duệ đã hạ lệnh đánh Ngô từ ba đường, hắn chỉ có thể tuân mệnh.

Dĩ nhiên, Tư Mã Ý cũng biết trong mắt Lục Tốn, bản thân hắn chẳng có gì bí mật.

Từ việc đẩy lui Gia Cát Lượng ở Trần Thương đến việc vượt nghìn dặm đánh Mạnh Đạt, Tư Mã Ý đều phô bày tài cầm quân hơn người.

Có thể nói, tài năng quân sự của hai người ngang ngửa nhau. Nhắc đến Lục Tốn, ấn tượng sâu đậm nhất với người đời vẫn là trận “đốt liền doanh trại dài bảy trăm dặm”. Nhưng đó là kế cầm cự đến cùng, một mưu kế công khai mà đối thủ biết vẫn khó lòng hóa giải. Trước khi bị đánh bại, Lưu Bị đã bị Lục Tốn bào mòn hết nhuệ khí, quân lính cũng chẳng còn lòng chiến đấu.

Đối mặt với một đối thủ như vậy, Tư Mã Ý quả thật chẳng có kế nào thật hay.

Hắn chỉ đành tùy cơ ứng biến.

Trên đồng bằng Giang Hán, phía nam núi Hiện Sơn, hơn mười vạn quân Ngụy và Ngô đã giằng co suốt hơn một tháng.

Quân Ngụy dựa lưng vào núi Bách Trượng, mặt hướng đông nam. Quân Ngô chiếm giữ sông Hán và Trường Giang, đóng trại sát bờ sông.

Trong thời gian ấy, hai bên đã vài lần giao chiến ngắn, thắng bại đều có. Quân Ngụy vừa chiếm được chút lợi thế trên bộ, quân Ngô liền dựa vào ưu thế thủy quân gỡ lại một trận.

Chiến trường phía tây dần rơi vào thế giằng co. Tư Mã Ý và Lục Tốn đều chưa ra tay thêm, chỉ chờ thời cơ để tung đòn sau cùng.

Quân Ngụy và quân Ngô bước vào cuộc đấu trí, đấu sức và so bì quốc lực.

…

Cùng lúc ấy, Mã Tốc dẫn cô gái Khương, Mã Ôn, ba viên đại tướng và hai vạn dân phu, ngày đêm hì hục làm đường ở đoạn cuối tuyến Kiến Ninh đến quận Vân Nam. Hắn cố gắng hoàn thành khúc đường này trước cuối năm.

Sau đó, trước tháng tư, hắn sẽ làm xong hai trục đường chính còn lại. Có như vậy mới nhận được phần thưởng hậu hĩnh, rồi tha hồ mua sắm một phen.

Trên công trường, Mã Ôn cùng ba viên tướng dẫn dân phu làm việc khí thế ngất trời.

Trên cánh tay Mã Tốc đậu một con đại bàng, hắn cũng nhìn công trường đến say sưa.

Đại vu sư vẫn quấn kín mít, lặng lẽ dịu dàng ở bên hắn.

Nói cho cùng, Mã Tốc chẳng bận tâm bên Ngụy hay bên Ngô thắng trận. Điều hắn quan tâm là hai nước đã đánh nhau chưa, đánh có dữ dội không.

Chỉ cần hai nước giao chiến, quốc lực của cả hai sẽ sụt giảm ào ào. Với Thục Hán, đó chính là chuyện tốt lành.

Một bên suy yếu, một bên mạnh lên, thực lực Thục Hán đang nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với hai nước kia.

Lúc này, Thục Hán đang âm thầm phát triển chẳng khác nào một gã cầm thanh đại kiếm nấp trong bụi cỏ, lặng lẽ nhìn hai anh hùng thuộc hai phe khác nhau đánh nhau ngoài kia. Đợi cả hai đều sức cùng lực kiệt, hắn sẽ xông ra, vung kiếm đâm tới tấp.

Đại khái là cảnh tượng như vậy.

Ai cũng biết trong ba nước, Ngụy mạnh nhất, kế đó là Đông Ngô, cuối cùng mới đến Thục Hán.

Nếu lấy quốc lực Ngụy hiện tại làm mốc 100, thì Đông Ngô và Thục Hán lúc này chỉ vào khoảng 50 và 30. Bộ lạc Tiên Ti của Kha Bỉ Năng ở cực bắc có quốc lực chừng 30; nước Yên của họ Công Tôn ở Liêu Đông chỉ vào khoảng 10.

Thật ra, quốc lực của ba nước cùng hai thế lực láng giềng vẫn luôn biến đổi.

Nếu chia ra từng giai đoạn, thì trước hết là giai đoạn Lưu Bị cầm quyền, từ năm 214 đến năm 223.

Trong giai đoạn này, Ngụy, Thục, Ngô vẫn chưa chính thức lập quốc, nhưng nền móng của ba nước đã có, chỉ còn chưa xưng đế dựng nước mà thôi. Sau trận Xích Bích, nếu quốc lực Tào Ngụy là 100, thì Tôn Quyền và Lưu Bị cộng lại cũng chưa đến 40, trong đó Đông Ngô là 30, Lưu Bị chỉ có 5. Khi ấy, nội bộ Đông Ngô vẫn chưa thống nhất, Lưu Bị còn phải nương nhờ ở Kinh Châu, thế lực chưa lớn mạnh. Ngoài ra, thiên hạ còn có Mã Siêu, Lưu Chương, Trương Lỗ và nhiều phe khác.

Sau trận Hán Trung, tình thế đổi chiều. Lưu Bị đánh Tào Tháo một trận tan tác. Chẳng bao lâu sau, Quan Vũ phát động chiến dịch Tương Phàn, đánh đến nỗi Tào Nhân không dám ra khỏi thành. Quan Vũ còn dìm chết bảy đạo quân Ngụy, bắt sống mấy vạn quân, số chết đuối cũng lên đến hàng vạn. Chủ tướng Vu Cấm bị bắt sống, đến Tào Tháo cũng sợ đến mức suýt dời đô.

Nếu tính quốc lực Tào Ngụy lúc đó là 100, Thục Hán có lẽ đạt khoảng 50, còn Đông Ngô nhiều nhất cũng chỉ 40. Chính vì thế, Tôn Quyền cảm nhận sâu sắc mối đe dọa từ Thục Hán, mới bất chấp tình nghĩa đồng minh, đánh úp Quan Vũ để chiếm lấy Kinh Châu.

Kinh Châu mất, Quan Vũ tử trận, tập đoàn Lưu Bị chịu tổn thất nặng nề, quốc lực tụt thẳng xuống 30. Tôn Quyền chiếm được Kinh Châu, quốc lực cũng tăng lên khoảng 60. Sau đó, Lưu Bị đại bại ở Di Lăng, quân lính tổn thất nặng nề, quốc lực Thục Hán lại giảm mạnh xuống còn 15. Tào Ngụy vì thế không còn xem Thục Hán là đối thủ, mặc cho nước này tự sinh tự diệt, còn mình quay sang đánh Đông Ngô và đề phòng bộ lạc Tiên Ti của Kha Bỉ Năng.

Lúc bấy giờ, nước Yên ở phương bắc vừa mới thành lập, chỉ là một chính quyền cát cứ, quốc lực rất yếu, chừng 10. Bộ lạc Kha Bỉ Năng vẫn ở mức 30.

Giai đoạn thứ hai là thời Gia Cát Lượng cầm quyền.

Sau khi Lưu Bị mất, Gia Cát Lượng nắm toàn bộ đại quyền Thục Hán. Ông giỏi trị nước, chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã giúp quốc lực Thục Hán tăng trưởng không ngừng. Thêm vào đó, chiến thắng ở Nam Trung giúp Thục Hán thu được nhiều tài nguyên và dân số, còn những thành quả trong các cuộc bắc phạt, chiếm được hai quận Âm Bình và Vũ Đô, cũng góp phần đưa quốc lực nước này hồi phục lên mức 40.

Trong khi ấy, Tào Ngụy thay vua, binh đao liên miên. Dù chiếm vùng đất tốt nhất thiên hạ, quốc lực vẫn không tăng đáng kể, duy trì ở mức khoảng 100. Ngô vào khoảng 60, bộ lạc Kha Bỉ Năng vẫn là 30, nước Yên vẫn là 10.

Thật ra, trong năm thế lực gồm ba nước cùng hai láng giềng, Ngụy có lãnh thổ rộng nhất, dân số đông nhất, đất canh tác cũng màu mỡ nhất. Xét ra, tốc độ phát triển quốc lực của Ngụy phải nhanh hơn cả.

Thế nhưng chỉ trong mười một năm, từ năm 223 đến năm 234 sau khi Lưu Bị mất, Ngụy đã đánh Ngô sáu lần, đánh Thục sáu lần. Tào Ngụy không có cơ hội yên ổn phát triển, quốc lực mãi không thể bỏ xa hai nước Ngô, Thục. Thậm chí khi đối mặt với hai nước liên thủ tấn công, Ngụy còn tỏ ra chật vật, phải hết sức thận trọng chống đỡ.

Giai đoạn thứ ba bắt đầu sau khi Gia Cát Lượng qua đời.

Sau khi Gia Cát Lượng mất, ba nước Ngụy, Thục, Ngô hầu như không còn trận đánh lớn nào ra hồn, chỉ đánh qua đánh lại những trận nhỏ, chẳng thành thế cục. Thêm vào đó, Ngụy lần lượt dẹp được mối họa Kha Bỉ Năng vào năm 235 và nước Yên vào năm 239, không còn chướng ngại nào cản đường phát triển.

Từ đó, quốc lực Ngụy bắt đầu tăng vọt. Trước kia, Ngụy có quốc lực 100, Thục Hán 30, Đông Ngô 60. Nhưng sau khi Gia Cát Lượng mất, Ngụy có được cơ hội phát triển dồi dào.

Trong ba mươi năm, từ năm 234 đến năm 263, quốc lực Ngụy tăng vọt từ 100 lên 1000. Thục Hán tuy vẫn phát triển, nhưng quốc lực nhiều nhất cũng chưa vượt quá 100; Đông Ngô cũng chưa quá 300. Nếu lấy quốc lực Ngụy làm mốc 100, Thục Hán chỉ còn 10, Đông Ngô chỉ còn 30. Khoảng cách lớn đến mức hai nước cộng lại cũng không phải đối thủ của Tào Ngụy!

Nước Yên và bộ lạc Kha Bỉ Năng ở phương bắc đều bị diệt, quốc lực giảm về 0.

Lúc này, ngoài chính Ngụy ra, chẳng còn người hay thế lực nào có thể ngăn Ngụy thống nhất thiên hạ.

Nếu năm 249 nước Ngụy không xảy ra biến cố Cao Bình Lăng, rồi sau đó lại trải qua ba cuộc nổi loạn ở Hoài Nam, triều đình Tào Ngụy không tranh đấu lẫn nhau suốt hơn mười năm, thì Thục và Ngô đã diệt vong sớm hơn rất nhiều.

Nói chung, khoảng cách quốc lực giữa Ngụy, Thục, Ngô và nước Yên thay đổi theo từng thời kỳ.

Trước khi Quan Vũ mất, khoảng cách giữa ba nước cùng hai thế lực láng giềng là nhỏ nhất: Ngụy 100, Thục Hán 50, Đông Ngô 40, Kha Bỉ Năng 30, nước Yên 10.

Cục diện thiên hạ khi ấy là một siêu cường, ba thế lực ngang hàng và một thế lực yếu. Ngụy bị các mối họa bốn phía kiềm chân, không thể yên tâm phát triển.

Sau khi Quan Vũ mất, Lưu Bị lại đại bại ở Di Lăng, quốc lực Thục Hán giảm mạnh còn 15. Gia Cát Lượng nắm quyền, khôi phục quốc lực Thục Hán lên 30. Lúc ấy, người Tiên Ti dưới sự cai quản của Kha Bỉ Năng đã đạt quốc lực 40. Về sau, Kha Bỉ Năng nhiều lần đem quân quấy nhiễu biên giới Ngụy, làm đảo lộn đà phát triển của nước này, khiến khoảng cách giữa các thế lực mãi không thể kéo giãn.

Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, Ngụy ra tay ám sát Kha Bỉ Năng, rồi quét sạch nước Yên. Từ đó không còn nỗi lo phía sau, Ngụy mới có được cơ hội phát triển lớn nhất.

Việc Mã Tốc cần làm là ngăn giai đoạn thứ ba xảy ra. Kha Bỉ Năng không được chết, còn Ngụy và Ngô thì phải cách một thời gian lại đánh nhau.

Trong khi đó, Thục Hán cứ yên tâm phát triển mấy chục năm. Cuối cùng, quốc lực sẽ vượt qua Ngụy và Ngô, rồi quét sạch thiên hạ, dựng lại cơ nghiệp thống nhất như Tây Hán.

Nói thì dễ, nhưng nếu không có tầm nhìn xa, người ta khó lòng nhận ra điều đó.

Làm đường và khiến dân số bùng nổ chính là hai phương thuốc cứu mạng mà Mã Tốc chuẩn bị cho Thục Hán.

Kìm hãm tốc độ phát triển của Ngụy và Ngô là một phương thuốc nữa.

Đây cũng là đòn hiểm tối hậu mà nước Mỹ thời hậu thế dùng để đối phó với đối thủ cạnh tranh.

Thời gian đã chứng minh, kế ấy luôn linh nghiệm.

Vì thế, Mã Tốc học ngay cách ấy rồi đem ra đối phó với Ngụy.

Trước mắt, kế ly gián đã có hiệu quả rõ rệt, đường sá cũng được làm rất thuận lợi.

Đã đến lúc bắt tay vào chuyện khiến dân số tăng vọt.

Mã Tốc liếc sang đại vu sư bên cạnh. Con đại bàng đậu trên tay hắn dường như đã hơi bồn chồn.