Chương 132: Đỉnh Cấp Đối Quyết, Tư Mã Ý Đại Chiến Lục Tốn, Cầu Nguyệt Phiếu - Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng

Trang chủ › Mô Phỏng Tam Quốc: Mã Tắc Này Quá Cẩn Trọng › Chương 132

Chương 132 - Đỉnh Cấp Đối Quyết, Tư Mã Ý Đại Chiến Lục Tốn, Cầu Nguyệt Phiếu

☰ DS Chương 📖 3,550 chữ

Chương 132: Trận thư hùng đỉnh cao, Tư Mã Ý đại chiến Lục Tốn

Để hồi âm cho Gia Cát Lượng, trình bày cách nhìn của mình về cuộc chiến Ngụy Ngô, Mã Tắc chỉ trêu chọc Đại vu sư một lát rồi bỏ nàng lại, ngồi vào bàn cầm bút suy nghĩ.

Trong dòng thời gian cũ, năm ấy Ngụy và Ngô không hề giao chiến, chẳng có gì để tham khảo. Mã Tắc đành dựa vào tính tình của các vị thống soái hai bên mà đoán xem trận này ai thắng ai thua.

Cánh quân của Tôn Quyền thì chẳng cần bàn nhiều. Danh hiệu “Tôn Thập Vạn” của hắn, người đời ai cũng biết. Dẫu trong tay có mười vạn quân, nhiều khả năng đê Đông Hưng vẫn sẽ rơi vào tay quân Ngụy.

Nhưng Tôn Quyền cũng chẳng cần hoảng hốt. Ngay cả khi quân Ngụy chiếm được đê Đông Hưng, chúng cũng khó lòng uy hiếp Kiến Nghiệp.

Bởi thủy quân Ngụy quá yếu.

Từ đó, Mã Tắc kết luận: bất kể ai làm chủ tướng cánh đông của Ngụy, Tôn Quyền, thống soái cánh đông của Ngô, ắt sẽ bại.

Cánh quân giữa cũng chẳng cần phân tích nhiều. Trong thư, Gia Cát Lượng không nói rõ người cầm quân là Gia Cát Cẩn, chỉ bảo Chu Hoàn dẫn năm vạn quân chống địch. Nhưng Chu Hoàn rõ ràng không đủ tư cách một mình thống lĩnh năm vạn quân. Chủ tướng ắt phải là Gia Cát Cẩn, đại tướng quân nước Ngô đang trấn thủ Giang Hạ.

Gia Cát Cẩn làm người hết sức thận trọng, không cầu lập công, chỉ mong đừng để thất bại. Bảo hắn dẫn quân tiến công thì có lẽ không giỏi, nhưng giữ thành lại là sở trường.

Vì thế, khả năng cánh quân này đôi bên bất phân thắng bại rất cao.

Vậy thì chiến trường then chốt nhất chính là cánh tây, tức trận Giang Lăng, nơi đại tướng quân nước Ngụy Tư Mã Ý đối đầu với thượng đại tướng quân nước Ngô Lục Tốn.

Tư Mã Ý năm mươi tuổi, Lục Tốn bốn mươi sáu.

Hai lão tướng mưu trí hơn người, lại đều vững như bàn thạch, sắp bước vào cuộc đấu trí sinh tử.

Ai thắng, ai bại?

Chẳng ai đoán nổi.

Nhắc đến chức quan của Lục Tốn, cũng phải nói qua tình hình đặc biệt của nước Ngô.

Tháng Tư năm nay, tức năm 229, Tôn Quyền lên ngôi hoàng đế ở Vũ Xương. Xét Lục Tốn lập được ba công lao vang dội, hắn đặt thêm chức thượng đại tướng quân phía trên đại tướng quân. Lục Tốn được phong thượng đại tướng quân, hữu đô hộ; Gia Cát Cẩn được phong đại tướng quân, tả đô hộ, kiêm chức thứ sử Dự Châu.

Sau khi Tôn Quyền dời đô đến Kiến Nghiệp, Lục Tốn giữ chức thượng đại tướng quân, giúp thái tử Tôn Đăng trấn thủ Vũ Xương. Gia Cát Cẩn thì thống lĩnh các tướng như Chu Hoàn, đóng quân ở Giang Hạ. Bởi vậy, xét về địa vị, Lục Tốn làm thượng đại tướng quân cao hơn Gia Cát Cẩn làm đại tướng quân.

Thông thường, vào thời này, đại tướng quân là người đứng đầu hàng võ tướng. Nhưng quan chế Đông Ngô rất đặc biệt, có chỗ khác với Thục Hán và Tào Ngụy.

Tôn Quyền muốn phong chức gì thì phong, chẳng theo khuôn phép nào.

Hắn nghĩ ra chức quan lớn đến đâu, chức quan có thể cao đến đó.

Thậm chí, sau khi Cố Ung, thừa tướng nước Ngô, qua đời năm 244, Tôn Quyền còn phong Lục Tốn làm thừa tướng, đứng đầu bá quan và quan văn, kiêm Kinh Châu mục, chức quan cai quản cả một châu, đồng thời giữ chức thượng đại tướng quân, đứng đầu hàng võ tướng. Danh nghĩa lẫn thực quyền, Lục Tốn đều đạt đến địa vị văn võ song toàn, trấn thủ một phương, quyền thế tột bậc.

Chức quan tuy nghe hơi quá, nhưng Lục Tốn hoàn toàn xứng đáng.

Chiến công của hắn quá rực rỡ.

Nếu hỏi người đời sau, thống soái giỏi đánh trận nhất thời Tam Quốc là ai, hẳn sẽ có đủ đáp án: Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý, Tào Tháo, Quan Vũ hoặc người khác.

Nhưng trên thực tế, thống soái đánh trận giỏi nhất thời ấy chính là Lục Tốn.

Quan Vũ, thượng tướng quân của Thục Hán, để mất toàn quân, công lao của Lục Tốn tuy chưa bằng một nửa; nhưng việc hoàng đế Thục Hán Lưu Bị mất sạch quân mã thì hoàn toàn do hắn gây ra. Còn mười mấy vạn quân của đại tướng quân Tào Hưu nước Ngụy thảm bại cũng là bại dưới tay hắn.

Ba vị chủ soái có chức tước từ đại tướng quân trở lên, sau khi giao chiến với Lục Tốn đều chẳng bao lâu thì mất mạng. Hai người bị hắn chọc tức đến chết, một người bị bắt sống ngay trận tiền rồi mất đầu.

Tiếng tăm của Lục Tốn ở đời sau có lẽ không mấy vang dội. Nhưng vào thời này, tướng sĩ Ngụy và Thục đều vô cùng kiêng dè, nghe tên hắn là biến sắc.

Trận Di Lăng khiến Thục Hán suốt hơn bốn mươi năm sau không dám nhìn về phía đông. Trận Thạch Đình đánh cho nước Ngụy khiếp vía, suốt hai mươi năm không dám kéo quân xuống phương nam, tiến vào Kinh Tương.

Lục Tốn tính tình khiêm nhường, nhẫn nhịn giỏi. Hắn đã đánh là phải đánh long trời lở đất, ra tay một đòn chí mạng, nhất quyết diệt sạch quân địch mới thôi.

Chức quan Tôn Quyền phong cho hắn đã đủ cho thấy điều đó.

Nhưng lần này, Lục Tốn gặp phải đối thủ xứng tầm. Tư Mã Ý ở phía bên kia cũng chẳng phải tay vừa.

Vì vậy, kết quả cuộc đối đầu giữa hai người rất khó đoán.

Nếu thật sự khai chiến, Tư Mã Ý khó có khả năng thắng. Phần nhiều hai bên sẽ thăm dò nhau, thấy có thể rút thì dừng.

Nghĩ đến đây, Mã Tắc cầm bút viết:

“Thần xem ra: cánh đông, Tôn Quyền bại; cánh giữa, đôi bên ngang sức; cánh tây, Lục Tốn có lẽ sẽ thắng nhỏ.”

“Thêm nữa, vua tôi nước Ngô đều gian khôn, giữ mình thì có thừa, tiến thủ lại không đủ. Trận này nhiều nhất chỉ kéo dài ba tháng…”

Viết đến đó, Mã Tắc ngẫm nghĩ rồi xé bỏ đoạn sau. Hắn chỉ bỏ phần đầu vào túi thư, gọi thân binh đến, sai đưa thư về Thành Đô.

Nói ít thì sai ít.

Kẻo đến lúc đó lại bị vả cho không ngóc đầu lên được.

Nhỡ đâu quân Ngụy đánh đến hăng máu, quyết sống mái với nước Ngô thì sao?

Khả năng ấy cũng có.

Đứng ngoài cuộc phân tích một hồi, Mã Tắc càng cảm nhận rõ Lục Tốn đáng sợ đến mức nào.

Người này đúng là khắc tinh của các đại tướng quân.

Trọng Đạt, bảo trọng!

Một lát sau, nhìn sứ giả nhanh chân rời đi, Mã Tắc chợt nảy ra ý nghĩ. Hắn thử đặt mình vào vị trí Tư Mã Ý, cân nhắc cục diện Kinh Tương.

Nếu hắn là Tư Mã Ý, phải làm thế nào mới đánh bại được Lục Tốn?

Ý nghĩ vừa lóe lên, Mã Tắc đã bĩu môi. Hắn gạt phắt nó đi, cười khẩy:

- Lục Tốn chỉ là tên thất phu, con chó chỉ biết co mình giữ nhà, chẳng đáng lo!

- Nếu ta thống lĩnh đại quân, giơ tay là diệt được tên này!

…

Đầu tháng Mười Một, đê Đông Hưng, hồ Sào.

Mấy hôm nay gió bấc gào thét, tuyết bay mịt trời, rét buốt thấu xương.

Quân Ngô đóng trại trên đê, liên tiếp đánh lui mấy đợt tấn công dữ dội của quân Ngụy. Thấy chưa thể hạ đê ngay, quân Ngụy lại đã mỏi mệt, viện binh của Tôn Quyền sắp kéo đến, chủ soái Mãn Sủng quyết định tạm dừng, ăn no trước đã.

Hắn sai các phó tướng Điền Dự, Trương Dĩnh cùng những người khác bày tiệc rượu trên bãi đất bằng cách đê không xa, uống rượu mua vui, coi như sưởi ấm giữa tiết trời lạnh buốt.

Cùng lúc đó, Mãn Sủng ngấm ngầm ra lệnh cho tướng sĩ không được rời kiếm khỏi người, không được buông đao khỏi tay. Họ vừa ăn vừa cố ý nói cười ầm ĩ, giả vờ không chút phòng bị.

Lặng lẽ chờ con cá mắc câu.

Tiệc rượu từ giữa trưa kéo dài đến tận chiều. Ăn uống no say rồi, không ít binh sĩ Ngụy nằm ngay trên tuyết ngủ thiếp đi.

Cảnh ấy khiến Hồ Tuân, tướng giữ đê Đông Hưng, tức đến nghiến răng. Hắn sai người báo tình hình quân Ngụy cho Tôn Quyền, đang ở cách đó hai mươi dặm.

Trước đó, vì bất mãn chuyện nước Ngụy xây thành mới ở Hợp Phì, gần đất Đông Ngô hơn thành cũ, Tôn Quyền đã sai người đắp đê ở Đông Hưng để đáp trả.

Trận Hợp Phì lần này nổ ra, Tôn Quyền đã sớm dẫn quân đến nơi. Hắn vốn định nhân lúc Mãn Sủng đem quân đánh đê Đông Hưng, lập tức kéo quân đi lấy thành mới Hợp Phì. Nhưng thành mới nằm cách xa bờ nước, hơn hai mươi ngày liền hắn không dám rời thuyền, chỉ ở cách chiến trường hai mươi dặm, lặng lẽ quan sát tình hình.

Nghe tin quân Ngụy dám uống rượu no say ngay trước mắt quân Ngô, còn uống đến say mềm, Tôn Quyền mừng rỡ khôn xiết.

Cơ hội đến rồi!

Ta nhất định phải bắt sống Mãn Sủng!

Nghĩ vậy, Tôn Quyền lập tức thúc ba vạn quân lên bờ, giao cho lão tướng Phan Chương chỉ huy. Ba vạn người băng qua đồng tuyết mênh mông, cấp tốc áp sát quân Ngụy.

Tôn Quyền còn nhớ lời Khổng Tử từng nói bên bờ sông: nắm bắt được mọi thời cơ thoáng qua trong chớp mắt, ấy mới là thống soái hàng đầu.

Hắn cho rằng mình chính là một thống soái hàng đầu.

Trên bờ, khi quân Ngô sắp đến gần doanh trại quân Ngụy, Phan Chương nói với các tướng sĩ bên cạnh:

- Quân địch đang uống rượu, nằm ngủ. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Lập công lĩnh thưởng, chính là hôm nay!

Các binh sĩ bị viễn cảnh tốt đẹp ấy khích lệ, ai nấy giơ cao binh khí, nguyện liều chết một phen.

Phan Chương lại ra lệnh cho quân sĩ men theo con đê, lặng lẽ áp sát quân Ngụy.

Quân Ngụy đang uống rượu hoặc nằm dưới đất, từ xa trông thấy quân Ngô rón rén đến gần thì bụng dạ buồn cười. Một số người thậm chí không nhịn được, phá lên cười.

Phan Chương lập tức phất tay. Quân Ngô thừa thế xông lên, tiếng hò giết vang trời.

Chẳng ngờ quân Ngụy không những không rối loạn mà còn bất thần bật dậy, cầm binh khí xông ngược trở lại. Ai nấy hung hãn như hổ xuống núi, không ai cản nổi.

Cục diện đảo chiều trong chớp mắt. Chủ tướng Phan Chương chết sững tại chỗ.

Quân Ngô lập tức đại loạn. Kẻ bị quân Ngụy chém chết, người bị giẫm đạp mà chết, kẻ rơi xuống nước, nhiều không đếm xuể.

Mãn Sủng dẫn quân đuổi hơn hai mươi dặm, bắt được gần một vạn binh sĩ. Vũ khí và áo giáp thu được chất cao như núi.

Thấy quân Ngụy đánh đâu thắng đó, Tôn Quyền sợ đến nỗi vội cho thuyền rời bờ thật xa, cũng chẳng dám tiếp tục chi viện đê Đông Hưng. Hắn lập tức truyền lệnh cho Hồ Tuân dẫn quân giữ đê mau chóng rút theo đường thủy.

Mãn Sủng thấy vậy cũng không đuổi theo quân Ngô. Hắn bèn phái một nghìn bộ binh và kỵ binh nhẹ nhàng chiếm lấy đê Đông Hưng, rồi sai người phi ngựa mang chiến báo về Lạc Dương, trình lên Ngụy đế Tào Duệ.

Cánh giữa, chiến trường Giang Hạ.

Chủ tướng quân Ngụy là Vương Lăng, năm mươi bảy tuổi. Chủ tướng quân Ngô là Gia Cát Cẩn, năm mươi lăm tuổi. Hai bên cầm cự tại một thành nhỏ phía bắc sông đã hơn một tháng. Quân Ngụy mấy phen tấn công dữ dội mà vẫn không hạ nổi thành, thế trận tạm thời giằng co.

Hai lão tướng tuổi tác xấp xỉ, đều đã gần sáu mươi, cũng nhìn thấu chuyện đời. Đứng hai bên thành nhìn nhau, họ đều hiểu chiến trường này không quyết định thắng bại của cuộc đại chiến Ngụy Ngô. Thế là cả hai ngầm hiểu ý, bắt đầu cầm chừng, kéo dài trận đánh.

Cánh tây, chiến trường Giang Hán.

Tư Mã Ý đóng quân ở Tương Dương, uy hiếp Giang Lăng. Lục Tốn sừng sững bất động, lấy bất biến ứng vạn biến.

Tình hình Kinh Châu hiện giờ như sau: nước Ngụy chiếm Tương Dương, nằm phía nam sông Hán Thủy và phía bắc Trường Giang.

Đông Ngô thì nắm Giang Lăng, trọng trấn Kinh Châu trải dài hai bên bờ Trường Giang. Giang Lăng nằm giữa vùng Sở rộng lớn, phía tây nhìn về Ích Châu và Thiểm Châu, phía đông khống chế Hồ Nam và Hồ Bắc, bên dưới trông xuống Giao Châu cùng Quảng Châu, phía bắc nhìn đến Uyển Thành và Lạc Dương. Từ đời Tần, nơi đây đã là quận trị Nam Quận. Nước Ngô tiếp tục giữ nguyên lệ ấy.

Nhưng Giang Lăng nằm giữa bốn bề chiến trận, dễ đánh khó giữ, cần Tương Dương phối hợp ứng cứu. Một khi Tương Dương không giữ nổi, phía bắc Giang Lăng sẽ lâm nguy.

Cuộc vây đánh Giang Lăng của Tào Ngụy vào mùa đông năm Hoàng Sơ thứ ba, tức năm 222, đã chứng minh rõ điều đó. Muốn giữ yên Giang Lăng, ngoài việc chiếm thành này, nhất thiết còn phải nắm được Tương Dương. Bằng không, phe đóng quân tại Giang Lăng khó lòng tự bảo vệ mình.

Tương Dương từ xưa đã là nơi binh gia tranh giành. Với Đông Ngô, dù là để bảo vệ Kinh Châu hay tiến lên phía bắc, chiếm được Tương Dương đều rất cần thiết. Bởi thế, lấy Tương Dương luôn là mục tiêu chiến lược của Đông Ngô.

Từ năm Kiến An thứ mười bốn, Chu Du đã khuyên Tôn Quyền: “Chiếm Tương Dương, dồn ép Tào Tháo, ắt có thể mưu tính phương bắc.” Vì vậy, sau khi lấy được Giang Lăng cùng vùng phụ cận, Tôn Quyền liên tiếp đánh vào Tương Dương đang nằm trong tay Tào Ngụy. Hai bên kéo theo gần mười vạn quân, giằng co hết lượt này đến lượt khác.

Với Tào Ngụy, Tương Dương là căn cứ chiến lược để bảo vệ Hứa Đô, Lạc Dương, tiến xuống phía nam đánh Đông Ngô và thống nhất thiên hạ. Bởi vậy, Tào Ngụy rất coi trọng việc phòng thủ nơi này. Trong cuộc tranh giành lâu dài với Đông Ngô, họ luôn đối đầu quyết liệt, tuyệt không chịu nhường dù chỉ một bước.

Khi Ngụy Văn Đế Tào Phi lên ngôi, phần đông đại thần Tào Ngụy xét thấy vùng Tương Dương, Phàn Thành bị chiến tranh tàn phá, bèn chủ trương dời trị sở Kinh Châu đến Uyển Thành. Lúc ấy, Tào Ngụy chưa đủ sức thống nhất thiên hạ, nên về mặt quân sự chủ trương phòng thủ.

Tương Dương nằm phía nam sông Hán Thủy, tuy phía nam có núi Hiện hiểm trở, nhưng quân Ngụy không giỏi thủy chiến, khó kiểm soát phòng tuyến sông Hán để chặn quân Ngô. Nếu cố giữ Tương Dương, một khi khu vực Giang Hán thất thủ, quân giữ thành tất sẽ bị cô lập ở ngoài, rơi vào cảnh nguy khốn.

Tình thế ấy chẳng khác nào năm xưa Quan Vũ dâng nước nhấn chìm bảy đạo quân.

Còn Phàn Thành nằm ở vùng đất bằng phía bắc sông Hán Thủy, tuy khó công lại dễ thủ, nhưng không thích hợp làm trung tâm chỉ huy quân sự. Bởi vậy, trong một thời gian ngắn, nước Ngụy dời trọng tâm phòng thủ đến Uyển Thành, bỏ Tương Dương và Phàn Thành, khiến toàn bộ đất đai Kinh Châu lọt vào tay đối phương.

Nhưng về sau, họ nhận ra làm vậy bất lợi cả khi đánh lẫn khi giữ.

Xét từ phía Tào Ngụy, họ có thể tạm thời bỏ Tương Dương và Phàn Thành, nhưng tuyệt đối không thể để Đông Ngô chen chân vào. Vì vậy chẳng bao lâu sau, Tào Phi đã chiếm lại và xây dựng lại hai thành ấy, biến chúng thành tuyến phòng thủ bên ngoài của Uyển Thành. Bố trí như vậy vừa tránh được sở trường thủy chiến của quân Ngô, giữ lại khoảng đệm chiến lược để xoay xở, vừa bảo toàn hai thành trấn có ý nghĩa chiến lược là Tương Dương và Phàn Thành.

Đến thời Ngụy Minh Đế Tào Duệ, khi cuộc tranh giành giữa nam bắc càng lúc càng gay gắt, vị thế của Tương Dương với tư cách trọng trấn chống quân nam của nước Ngụy một lần nữa được xác lập. “Trông về Trường Giang”, “giữ phía nam ở Tương Dương” trở thành quốc sách căn bản của Tào Ngụy. Vị thế chính trị và quân sự của Tương Dương cũng ngày một nâng cao.

Trong cuộc tranh giành Kinh Châu, Đông Ngô không thể lấy được Tương Dương, Tào Ngụy cũng không đủ điều kiện đưa quân xuống phía nam với quy mô lớn. Hai bên vì thế giằng co lâu dài tại vùng Giang Hán.

Xét rộng ra toàn bộ đường biên giữa Ngụy và Ngô, nước Ngô nắm cả hai bờ nam bắc của Trường Giang, đồng thời chiếm được một dải đất ở phía bắc sông, kiểm soát một số quận huyện. Nước Ngụy thì rút khỏi toàn bộ vùng giáp sông, lui về phòng thủ trên đồng bằng.

Đường ranh giới ấy dần hình thành qua những cuộc giao tranh, tùy theo thực lực của mỗi bên và giới hạn mà bên kia không thể nhượng bộ.

Bởi tình thế trong nước và quân lực hai bên khác nhau. Nước Ngụy ở phía bắc, giỏi đánh bộ nhưng kém thủy chiến. Quân Ngô thì ngược lại. Tào Ngụy đã nếm mùi giao chiến trên Trường Giang, trận Xích Bích chính là bài học rõ nhất. Nếu đường biên thật sự bị đẩy sát bờ Trường Giang, nước Ngụy sẽ luôn phải đối mặt với thủy quân Đông Ngô. Đó cũng là một lý do lớn khiến đường ranh giới dần dịch lên phía bắc rồi ổn định lại: trong một thời gian ngắn, nước Ngụy không thể vượt sông đánh xuống phía nam.

Đồng bằng Nam Dương và đồng bằng Giang Hoài lại khác. Quân Ngô đánh bộ không bằng quân Tào, nên Tào Ngụy có thể giữ vững vùng này. Nhưng thủy quân bất lợi, họ không thể tiến xuống phía nam; nước Ngô cũng không thể đánh lên phía bắc. Hai bên vì vậy hình thành thế cân bằng.

Một nguyên nhân khác là chiến lược thu quân về cố thủ mà Tào Ngụy áp dụng. Cũng như năm xưa Tào Tháo bỏ Hán Trung, đưa dân trong vùng đi nơi khác, để lại thành trống cho Lưu Bị, Tào Ngụy cũng dùng kế vườn không nhà trống ở phía bắc Trường Giang.

Trong thời buổi ấy, chiến tranh thực chất là cuộc tranh giành dân số. Dân chúng là gốc rễ của sản xuất, cũng là nền tảng để đánh trận. Ngụy tuy thu quân về phía bắc Trường Giang, nhưng dân đã dời lên bắc, xét cho cùng cũng chẳng thiệt hại bao nhiêu. Nơi không có dân thì chẳng thể sản xuất lương thực, vật dụng, lại khiến quân Ngô mỗi khi tiến đánh phải kéo dài đường tiếp tế.

Bởi vậy, quân Ngụy không đánh xuống được, quân Ngô cũng chẳng tiến lên nổi. Đường ranh ấy chính là điểm cân bằng giữa hai bên. Tuy không nằm ngay trên Trường Giang, nhưng ý nghĩa của nó chẳng khác nào lấy Trường Giang hiểm trở làm chỗ dựa. Nói cho cùng, Trường Giang vẫn là ranh giới giữa Ngụy và Ngô.

Giờ đây, Đại tướng quân Tư Mã Ý phụng mệnh Tào Duệ, dẫn tám vạn đại quân xuống phía nam, áp sát bờ Trường Giang, định đẩy Lục Tốn về Giang Nam, rồi nhân đó mưu chiếm Giang Lăng.

Lục Tốn là Thượng đại tướng quân nước Ngô, dĩ nhiên chẳng thể để Tư Mã Ý toại nguyện.

Hai bên bày trận trên vùng đồng bằng phía bắc Trường Giang, phía nam Tương Dương.

Chiến trận đã cận kề.