Chương 130: Đại Ngụy Ngô vương xưng đế
Bất quá, kế sách có thể kiềm chế hai nước Ngụy Ngô tuy nhiều, nhưng hiện tại hữu hiệu nhất chỉ có hai.
Một là khơi mào loạn trong, họa ngoài cho hai nước Ngụy Ngô, khiến chúng đầu tắt mặt tối, ngừng phát triển, thậm chí quốc lực tụt dốc. Hai là xúi hai nước Ngụy Ngô giao chiến, đơn giản thô bạo mà tiêu hao quốc lực hai bên.
Trong ba nước, nước Ngụy là nơi nỗi lo trong nhà phức tạp nhất, giặc ngoài lại nhiều nhất.
Về loạn trong, nước Ngụy không những phải đối mặt với vấn đề sĩ tộc ngày càng bành trướng, mà còn phải đối mặt với cuộc tranh quyền giữa tập đoàn công thần cũ và tân quý mới nổi. Điều này ở mức độ không nhỏ đã bào mòn quốc lực, phá hoại sức gắn kết của nước Ngụy. Cho nên dù nước Ngụy có đủ sức diệt Thục Ngô, nhưng vì khuyết tật bẩm sinh ấy, bước tiến của chúng vô cùng chậm chạp.
Về họa ngoài, phía bắc nước Ngụy có hùng chủ sa mạc Kha Tỷ Năng, dưới tay hơn mười vạn kỵ binh khảng huyền. Đông bắc có thổ hoàng đế Liêu Đông là Công Tôn Uyên đang rục rịch nổi dậy. Tây nam có Thục Hán hung hãn, thỉnh thoảng lại kéo đến đánh một trận. Phía nam có Đại Ngụy Ngô vương Tôn Thập Vạn, cách vài bữa lại đến khiêu khích.
Nhất là họa biên giới phương bắc, mức độ nghiêm trọng của nó bị không ít người đời sau xem nhẹ, họ cứ tưởng uy hiếp của Tào Ngụy chỉ có Thục Hán và Ngô quốc.
Thực ra không phải vậy. Trong một giai đoạn khá dài, bộ lạc Tiên Ti phương bắc do Kha Tỷ Năng thống lĩnh tạo ra cho nước Ngụy những uy hiếp và phiền toái còn cao hơn hẳn những gì hai nước Thục Ngô gây ra.
Tiên Ti có tới hơn mười vạn kỵ binh khảng huyền đấy!
Huống chi bản thân Kha Tỷ Năng lại là một hùng chủ cực kỳ xuất sắc. Tuy xuất thân từ chi bộ Tiên Ti, hắn tác chiến dũng mãnh, chấp pháp công bằng, không tham của cải, chính vì thế được dân chúng Tiên Ti suy tôn làm đại nhân, tức thủ lĩnh.
Sau khi lên làm đại nhân, Kha Tỷ Năng tích cực học hỏi kỹ thuật và văn hóa tiên tiến của người Hán, khiến bộ lạc Tiên Ti ngày càng cường thịnh. Bộ chúng dưới tay hắn đánh giặc giữ thành đều có phép tắc, sức chiến đấu khá mạnh.
Trước đây, vì lúc Kha Tỷ Năng tiến hành cuộc chiến thống nhất các bộ lạc đã bị nước Ngụy nhiều phen can thiệp, hắn ôm hận trong lòng. Bề ngoài hắn dâng thư cho nước Ngụy tỏ lòng trung thành để mê hoặc triều đình Ngụy, khiến chúng buông lỏng cảnh giác. Trong bóng tối, Kha Tỷ Năng tiếp tục thống nhất các bộ lạc, thường xuyên lệnh cho bộ hạ dẫn vạn kỵ làm hại biên giới nước Ngụy, cướp bóc của cải, bắt giữ dân làng, nhằm xây dựng một chính quyền Tiên Ti cường đại hơn.
Nước Ngụy có thời gian hoàn toàn bó tay, đau đầu không thôi.
Sau này, năm 235, U Châu thứ sử nước Ngụy là Vương Hùng cảm thấy uy hiếp sâu sắc, đã phái thích khách Hàn Long ám sát Kha Tỷ Năng. Chính quyền Tiên Ti theo đó sụp đổ, các bộ lạc Tiên Ti lại sa vào hỗn chiến, tạm thời không còn uy hiếp được Trung Nguyên.
Đương nhiên, bây giờ mới năm 229, hùng chủ sa mạc Kha Tỷ Năng vẫn chưa chết, mọi chuyện vẫn còn dư địa để thao tác.
Nói cách khác, thiên hạ nhìn bề ngoài là tam quốc đỉnh lập, nhưng nước Ngụy thực tế lại phải đối mặt với bốn mặt trận. Đó là mặt trận chống Thục, mặt trận chống Ngô, mặt trận chống Tiên Ti phương bắc, và mặt trận chống họ Công Tôn ở Liêu Đông. Bốn mặt trận này không mặt trận nào dễ xơi. Giả sử nước Ngụy dồn toàn bộ binh lực sang mặt trận chống Thục, thì nước Ngô chắc chắn sẽ thừa cơ tiến lên phía bắc, bộ lạc Tiên Ti của Kha Tỷ Năng cùng họ Công Tôn ở Liêu Đông cũng sẽ hỏa thượng đào kim. Trong cục diện ấy, nước Ngụy chỉ còn cách chia binh nhìn bốn phía, phải ở những thời điểm khác nhau, những địa điểm khác nhau, đối phó với nhiều mối đe dọa.
Nhưng dù nước Ngụy tồn tại nhiều vấn đề đến thế, hai nước Thục Ngô cũng chẳng thừa cơ diệt được Ngụy, ngược lại cuối cùng bị nước Ngụy cùng Tây Tấn thay thế Ngụy tiêu diệt.
Ngô quốc cũng họa ngầm khắp nơi không kém. Bản địa Giang Đông có thế gia kiềm chế, trong cảnh nội Bách Việt phản loạn không ngừng, Giao Châu cũng chẳng bao giờ yên ổn.
Theo điều Mã Tất biết, từ năm 203 đến năm 242 công nguyên, các quận Ngô, Hội Kê, Dự Chương, Pô Dương, Đan Dương thuộc Giang Đông đã phản loạn hàng chục lần. Quy mô nhỏ thì mấy nghìn người, quy mô vừa thì vạn người, quy mô lớn thì mấy vạn người. Thời gian bình loạn ngắn thì vài tháng, vừa thì một năm, dài thì mấy năm.
Năm 203, sơn khấu lại nổi dậy, quét qua Dự Chương, Tôn Quyền phái Lữ Phạm bình Pô Dương, Trình Phổ đánh Lạc An.
Năm 204, giặc Hồng Minh, Hồng Tiến, Uyển Ngự, Ngô Miễn, Hoa Đương năm người, mỗi người lãnh hơn vạn hộ, đóng đồn liền nhau ở Hán Hưng. Ngô lại có năm sáu nghìn hộ đóng riêng ở Đại Đàm, Trâu Lâm sáu nghìn hộ đóng riêng ở Cái Trúc, cùng xuất hiện ở Dư Hãn.
Năm 205, Tôn Quyền phái Hạ Tề đánh Thượng Nhiêu, chia đất lập quận Kiến Bình.
Năm 208, sơn tặc thống soái Khiếp là Kim Kỳ dẫn vạn hộ đóng ở núi An Lặc, Mao Cam vạn hộ đóng ở núi Ô Liêu, soái Điệp là Trần Bộc, Tổ Sơn hai vạn hộ đóng ở núi Lâm Lịch.
Năm 211, dân huyện Dư Hàng quận Ngô là Lang Trĩ tập hợp tông tộc dấy loạn, lại được mấy nghìn người. Năm huyện Đông Dã quận Hội Kê có giặc Lữ Hợp, Tần Lang gây loạn.
Năm 213, dân phía đông Dự Chương là Bành Tài, Lý Ngọc, Vương Hải dấy binh làm loạn, tụ chúng hơn vạn người.
Năm 215, dân Pô Dương là Vưu Đột nhận ấn thụ của Tào Tháo, xúi dân thành giặc, Lăng Dương, Thủy An, Kinh huyện đều hưởng ứng theo Vưu Đột.
Năm 217, gặp sơn tặc soái Đan Dương là Phí Sạn nhận ấn thụ của Tào công, xúi giục Sơn Việt làm nội ứng, Tôn Quyền phái Lục Tốn đánh Phí Sạn. Chi đảng của Phí Sạn đông mà quân đi đánh ít, Tôn Quyền bèn thu nạp bộ ngũ ba quận phía đông.
Năm 221, sơn tặc Đan Dương, Pô Dương nổi lên như ong, đánh chiếm thành quách, giết hại trưởng lại, tụ tập khắp nơi. Năm này Lưu Bị đông chinh.
Năm 225, tặc Pô Dương Bành Kỳ tự xưng tướng quân, đánh chiếm các huyện, chúng mấy vạn người. Năm này nước Ngụy đánh Ngô.
Năm 228, sơn dân Đan Dương, Ngô, Hội Kê lại làm khấu tặc, đánh chiếm các huyện thuộc. Mấy năm sau mới bình định, chiêu an được vạn người.
Năm 234, tặc Lư Lăng là Lý Hoàn, La Lệ gây loạn.
Năm 235 đến 237, bình định người Sơn Việt.
Năm 236, tặc Pô Dương Bành Đán gây loạn.
Năm 242, gặp sơn dân ba quận Kiến An, Pô Dương, Tân Đô nổi loạn.
Có thể nói, số lần phản loạn của Sơn Việt, sơn dân, sơn tặc ở vùng Giang Đông so với những gì kể trên chỉ nhiều chứ không ít, cho tới lúc Đông Ngô diệt vong vẫn còn không ít phản loạn.
Ngoài loạn Việt di ở Giang Đông, Kinh Châu và Giao Châu cũng có man di nổi loạn. Năm 220, tặc soái quận Quế Dương khởi sự ở Giao Châu, Bộ Chất dẫn quân bình định, bắt được vạn người. Năm 231, Đông Ngô động viên năm vạn quân, mất ba năm mới bình được Vũ Lăng man. Năm 239, Giao Châu mấy vạn người phản loạn, hơn một năm mới dẹp yên.
Bốn châu Kinh, Ích, Dương, Giao vốn là nơi nhiều tộc nhân nhung, man, việt, di. Sơn Việt, sơn dân, sơn tặc ở Giang Đông đã kìm chân một lực lượng quân sự không nhỏ của Đông Ngô.
Nói cách khác, dù là khơi đại chiến giữa hai nước, hay là xúi nội ưu ngoại hoạn của hai nước khiến chúng tự loạn trận cước, điều kiện đều có sẵn.
Nhưng rốt cuộc là cho hai nước đánh nhau trước? Hay cho hai nước loạn trước? Hay cả hai cùng tiến hành?
Đây là ba vấn đề, cũng là một vấn đề.
Mã Tất nhíu chặt mày, phân tích từng cái một.
Từ khi Thục Hán và Ngô quốc khôi phục liên minh, Thục Hán luôn hi vọng Đông Ngô có chút hồi đáp, cùng dốc sức bắc phạt. Nhưng Đông Ngô trên miệng thường đồng ý cùng ra sức, rồi lại nằm im một chỗ chẳng nhúc nhích, mặc cho Thục Hán ở trên xoay vần.
Hơn nữa Tôn Quyền thường tự mình dẫn đại quân bắc phạt, gần như lần nào cũng rút quân trước khi viện binh nước Ngụy đến nơi, qua lại chưa đầy một hai tháng. Hầu như lần nào cũng thế: quân viện Ngụy chưa đến, Tôn Quyền rút. Quân viện chưa đến Thọ Xuân, Tôn Quyền rút trở về. Quân của đế chưa đến vài trăm dặm, Tôn Quyền bỏ chạy.
Nói cách khác, dù Đông Ngô có ra tay, mỗi lần bắc phạt thời gian đều vô cùng ngắn ngủi, hơi bất lợi là rút quân.
Nguyên nhân chủ yếu trong đó là Tôn Quyền gian xảo, cố ý bảo tồn thực lực, không muốn quyết chiến với nước Ngụy.
Nước Ngụy ở ba yếu địa chiến lược phòng thủ Thục Ngô đều đóng trọng binh, nhất là Hợp Phì và Tương Dương, đóng quân không dưới hai mươi vạn. Tôn Quyền chỉ đánh Hợp Phì chứ không đánh Tương Dương, chính là không muốn quyết chiến với nước Ngụy. Bởi Tương Dương cách kinh thành Lạc Dương của Ngụy khá gần, nước Ngụy ở Lạc Dương còn đóng trung quân mười vạn, một khi khai chiến là đại quyết chiến. Còn đánh Hợp Phì thì vì cách Lạc Dương khá xa, dù chiến sự bất lợi cũng có thể đi đường thủy rút quân trước khi viện binh Ngụy đến.
Vì sách lược của nước Ngụy là tây thủ đông công: phòng thủ Thục Hán thì kiên trì cố thủ, không dã chiến với quân Thục, đợi lương hết chúng tự rút. Còn đối xử với Ngô quốc thì nói đánh là đánh, chỉ cần Ngô quốc dám ló đầu, lập tức vung đòn sét đánh lôi đình.
Nói cách khác, xúi Ngô quốc đi đánh nước Ngụy dường như không thực tế lắm.
Vậy chỉ còn cách ngược lại, xúi nước Ngụy đi đập Ngô quốc.
Trước mắt khéo vừa có một thời cơ như thế.
Tôn Quyền xưng đế rồi!
Trước đây, hai nước Ngụy Ngô thường xuyên khai chiến, nhưng Tôn Quyền trên danh nghĩa vẫn là Ngô vương do Đại Ngụy sách phong, hai nước vẫn giữ sự khắc chế ở mức độ nhất định, chưa từng phá hũy trầm thuyền mà đánh nhau.
Nhưng sau khi Thục Hán lập quốc, tự nhận là chính thống Đại Hán, địa vị của Tôn Quyền bỗng chốc trở nên lúng túng.
Thời đại này là thời đại coi trọng danh chính ngôn thuận.
Tôn Quyền nếu không có cử động gì, hắn chính là Đại Ngụy Ngô vương, đánh Ngụy tức là phạm thượng tác loạn. Nếu chọn ủng hộ Hán thất, thì phải thần phục Thục Hán, nhưng ai lại bằng lòng thần phục một chính quyền yếu hơn mình chứ?
Cho nên quyết tâm tự lập của Tôn Quyền vốn từ lâu đã rất mãnh liệt.
Nhưng vì điều kiện chưa chín muồi, cứ kéo dài mãi đến năm nay, ngày mười ba tháng tư năm 229. Nhân lúc hai nước Thục Ngụy vừa đại chiến một năm ở tây tuyến, đều mệt mỏi rã rời, Tôn Quyền quyết đoán, xưng đế ở Vũ Xương, đổi niên hiệu Hoàng Long, lập quốc hiệu là Ngô, đại xá thiên hạ. Truy tôn phụ thân Tôn Kiên làm Vũ Liệt hoàng đế, truy tôn anh trưởng Tôn Sách làm Trường Sa Hoàn vương, lập con Tôn Đăng làm hoàng thái tử.
Tháng chín, tức nửa tháng trước, Tôn Quyền dời đô về Kiến Nghiệp.
Sau khi Tôn Quyền xưng đế, hắn phái sứ giả đến Thục, đề nghị hai đế cùng tôn, hai nhà trên giấy tờ chia đôi nước Ngụy.
Lấy Từ, Dự, U, Thanh thuộc Ngô quốc, lấy Tịnh, Lương, Ký, Diễm thuộc Thục quốc, đất đai Tư Châu của Ngụy thì lấy Hàm Cốc quan làm ranh giới, hai nhà mỗi bên lấy một nửa. Và lập minh ước: nếu có ai hại Hán, Ngô sẽ đánh kẻ đó; nếu có ai hại Ngô, Hán sẽ đánh kẻ đó. Mỗi bên giữ phần đất của mình, không xâm phạm lẫn nhau. Truyền cho hậu đời, giữ được cuối như đầu.
Minh ước này vừa lập, Đông Ngô giải quyết được mối lo phía tây, có thể tập trung tinh lực đối phó Tào Ngụy và loạn Bách Việt trong cảnh nội. Thục Hán cũng không còn lo phía đông, thêm Nam Man đã bình, không còn nội ưu, việc duy nhất còn lại chỉ có một: bắc phạt.
Cục diện như vậy vừa hình thành, với hai nước Thục Ngô là chuyện tốt, nhưng khiến nước Ngụy vô cùng khó chịu.
Thế là thời đại chiến tranh khốc liệt nhất của tam quốc, từ khi Tào Duệ lên ngôi, tức là sau khi Ngô Thục thành lập liên minh kiên cố, chính thức vén màn.
Vì quốc sách của nước Ngụy là tây thủ đông công, nên dù Tôn Quyền không đi đánh Ngụy, nước Ngụy cũng phải tranh thủ đi đập Ngô quốc.
Mà việc Tôn Quyền xưng đế, khéo vừa đúng lúc cho nước Ngụy một thời cơ ra tay.
Bây giờ, chỉ còn xem dùng thủ đoạn gì để cổ vũ nước Ngụy ra tay với Ngô quốc.
Nghĩ đến đây, Mã Tất động bút viết hai lá thư.
Một lá gửi đến bộ lạc Kha Tỷ Năng ở Mạc Nam, trên thư viết: "Các hạ văn võ song toàn, không khác gì Giang Đông tiểu bá vương Tôn Sách năm xưa, quả thật là một đại hùng chủ sa mạc, chính lúc xông pha truất truất phong vân, nhưng phải đề phòng tiểu nhân mưu hại. U Châu thứ sử Vương Hùng đã phái người đi mổ bụng ngài, thích khách tên Hàn Long, lúc này người này rất có thể đã lẻn vào trong bộ lạc của ngài… Không cần cảm ơn, ta tên Lôi Phong."
Một lá thư khác gửi hoàng đế nước Ngụy, Tào Duệ.
Lời lẽ trong thư chắt lọc lại thành một câu: "Không biết các hạ nghĩ sao về chuyện Đại Ngụy Ngô vương xưng đế?"