Bình Dương phủ là một thị trấn cổ nghìn năm bên bờ sông Phần, đồng thời cũng là trọng trấn miền Nam Tấn. Lịch sử lâu đời đã bồi đắp cho vùng đất này nguồn tài nguyên phong phú, cũng hun đúc nên một nền văn hóa sâu dày.
Hơn chục năm qua, cùng với việc khai thác tài nguyên dưới lòng đất, những nét văn hóa cổ xưa từng lắng chìm trong lịch sử cũng dần sống lại. Trường tư thục, thứ tưởng như chỉ còn thấy trong sách cũ, nay lại được người ta yêu thích.
Tư thục Tam Hữu là một ngôi trường xưa được sửa sang, khoác lên mình sức sống mới như thế.
Trường nằm trong hiệu sách ở dãy cửa hàng tầng trệt, mặt tiền hướng ra đường, thuộc khu dân cư Uẩn Hoa.
Hiệu sách mang tên Tam Hữu Thư Ốc.
Thầy dạy ở đó cũng là chủ hiệu sách, họ Ngô. Ông thấp bé, đẫy đà, đeo cặp kính tròn gọng đen. Mỗi khi gặp ai, ông đều chắp tay vái chào. Chẳng hiểu sao, nhờ thế mà ông được cả khu dân cư kính trọng, mọi người gọi ông là “thầy Ngô”.
Tư thục của thầy Ngô rất nhỏ, chỉ có một thầy, một trò.
Thầy chính là thầy Ngô.
Trò là cậu bé Trịnh Thanh, con một hộ dân trong khu Uẩn Hoa.
Khu dân cư Uẩn Hoa do chính quyền thành phố Bình Dương xây dựng theo kiểu khu nhà mẫu vào thập niên chín mươi. So với bây giờ, nơi này quả thật không rộng, chỉ có chín tòa nhà. Nhưng vị trí lại vô cùng thuận tiện.
Phía đông khu dân cư là con phố buôn bán sầm uất. Qua cổng đông, đối diện ngay bên kia đường là siêu thị lớn nhất thành phố. Phía tây có Học viện Bình Dương, trường đại học duy nhất trong thành phố. Phía nam là trường trung học thực nghiệm Bình Dương, trường trọng điểm của tỉnh. Kề bên trường thực nghiệm là Trung học Tấn Nam, một trường tư thục hàng đầu tỉnh. Thêm vào đó, bên kia phố còn có trường tiểu học trọng điểm trực thuộc thành phố. Học sinh sống trong khu, dù có kém may mắn đến đâu, từ lúc sinh ra cho tới khi tốt nghiệp đại học cũng chẳng cần đi quá hai dãy phố.
Trịnh Thanh cảm thấy cuộc đời mình chỉ còn cách kiểu đời người trong truyền thuyết ấy một bước chân.
Trong nhà Trịnh Thanh có nhiều người làm nghề dạy học. Ông nội là giáo sư Học viện Bình Dương. Cha dạy ở trường Trung học Tấn Nam bên cạnh khu dân cư, mẹ dạy tại Trường Tiểu học số Một Bình Dương ở phía đối diện. Các cô chú, bác dì khác cũng làm việc quanh mấy tòa nhà trường học ấy. Từ khi biết nhớ, cậu đã sống giữa tiếng chuông vào lớp, tan học chói tai. Lớn thêm chút nữa, cậu lại chạy nhảy khắp sân trường của mấy trường gần nhà.
Nhưng dù chạy đi đâu, cuộc đời cậu dường như vẫn bị nhốt trong mấy sân trường và dãy phòng học này.
“Nhốt”.
Trịnh Thanh nhấc cây bút lông nặng trĩu, viết chữ ấy lên tờ giấy tuyên trắng tinh.
- Tập trung tinh thần! Đừng quên con đến đây để làm gì!
Thầy Ngô khẽ gõ thước gỗ lên bàn. Tiếng cộc cộc vang lên nghe lạnh cả người.
Trịnh Thanh hít sâu, từ từ thở ra, cố gắng gạt hết tạp niệm, chăm chú đồ theo chữ mẫu trước mặt.
Ban đầu, Trịnh Thanh học thư pháp với ông nội. Giáo sư Trịnh là người trí thức kiểu cũ, chữ viết đẹp, mà đòi hỏi với lớp trẻ trong nhà cũng nghiêm khắc vô cùng.
Trước sáu tuổi, cậu phải học thuộc thơ văn cổ. Từ những sách vỡ lòng, đến ba trăm bài thơ Đường, rồi những bài từ, khúc, văn cổ do chính ông giáo sư chọn lựa. Ngay từ khi mới tập nói, cậu đã bắt đầu nhận mặt chữ, học thuộc kinh sách. Trịnh Thanh cùng đám anh chị em họ, dưới cây thước của ông giáo sư, sụt sùi bước vào quãng đời học thuộc lòng khổ ải, tưởng chừng chẳng bao giờ kết thúc.
Ngày này qua ngày khác, không có chủ nhật, cũng chẳng có nghỉ hè nghỉ đông.
Lên sáu, cậu không chỉ phải học thuộc nữa, mà còn bắt đầu tập viết.
Từ cách cầm bút cho đúng, đến từng nét chấm, nét ngang, nét phẩy, nét mác. Trong ô chữ vuông kẻ dòng mờ, tuổi thơ tẻ nhạt của Trịnh Thanh cứ thế trôi qua. Nước mắt khổ sở của cậu cũng thấm đầy nghiên mực.
Sáu giờ sáng, cậu bị lôi khỏi giường đúng giờ, bắt đầu viết chữ mẫu buổi sớm. Năm mươi chữ lớn phải viết xong trước bữa sáng. Ăn sáng rồi thì đọc bài, đến trưa phải thuộc bài được giao, sau đó lại viết thêm mấy trang chữ lớn. Ăn trưa, cậu được chợp mắt nửa giờ. Tỉnh dậy lại học thuộc, tập viết. Ăn tối xong, vẫn tiếp tục học thuộc, tập viết. Đúng chín giờ, cậu bị đuổi lên giường. Khoảng thời gian từ đó cho đến lúc ngủ là lúc Trịnh Thanh vui nhất trong ngày.
Bởi khi ấy, cậu được tha hồ nghĩ ngợi vẩn vơ, không phải viết chữ lớn, cũng chẳng cần học thuộc văn cổ.
Nhưng nghĩ ngợi quá nhiều lại khiến đầu óc mệt nhoài.
Mỗi lần ngủ thiếp đi sau những lúc mải nghĩ vẩn vơ, Trịnh Thanh đều rơi vào một giấc mơ hỗn loạn. Cảnh tượng như tranh sơn thủy vẩy mực, mờ ảo, trừu tượng, không sao nắm bắt được, vậy mà cứ bám riết lấy cậu.
Hễ tỉnh dậy sau giấc mơ ấy, cậu lại la hét, mồ hôi lạnh đầm đìa, thường phải uể oải suốt một hai ngày. Người nhà chỉ nghĩ cậu bị bóng đè, bèn cẩn thận chăm nom. Bài vở cũng được giảm bớt trong một hai hôm.
Với Trịnh Thanh, những ngày ấy chẳng khác nào được nghỉ phép, vui sướng vô cùng.
Nhưng những ngày bị bóng đè đâu phải muốn có là có.
Hồi còn nhỏ, Trịnh Thanh rất khó rơi vào giấc mơ ấy, chừng nửa năm mới bị một lần. Có lẽ vì khát khao trong lòng quá mãnh liệt, theo tuổi tác tăng lên, cậu càng thường xuyên gặp ác mộng, tình trạng cũng dần nặng thêm.
Thoạt đầu, cậu chỉ la hét rồi tỉnh giấc. Sau đó, cậu bắt đầu mộng du. Có buổi sáng tỉnh dậy, cậu hoảng hốt nhận ra mình đang nằm trên nóc tủ lớn trong nhà, mà chẳng nhớ nổi đã trèo lên đó bằng cách nào. Có khi cậu mộng du ra ban công, hát một khúc chẳng đầu chẳng đuôi rồi lặng lẽ bò về giường ngủ tiếp. Thậm chí có đêm, cậu còn mò lấy cây bút lông, hí hoáy vẽ đầy những nét kỳ quái.
Cơn ác mộng ngày một nặng, Trịnh Thanh bắt đầu đau đầu.
Ban đầu, người nhà tưởng cậu tìm cách trốn học, nên chẳng mấy để tâm. Nhưng để yên lòng, họ vẫn đưa cậu đến bệnh viện chuyên khoa trong thành phố chụp phim. Bác sĩ không phát hiện bệnh gì, đành cho rằng cậu bé chịu áp lực quá lớn, cần nghỉ ngơi điều độ.
Mãi đến một ngày, Trịnh Thanh bắt đầu lấy đầu đập vào tường để giảm đau, cả nhà mới cuống lên. Giáo sư Trịnh tìm đến một người bạn cũ, đưa cậu lên tỉnh rồi ra tận thủ đô, khám hết các bệnh viện danh tiếng mà vẫn không tìm ra nguyên nhân. Cơn đau đầu của Trịnh Thanh thì ngày một dữ dội.
Cuối cùng, theo lời khuyên của bạn già, giáo sư Trịnh để cậu tĩnh dưỡng, giữ lòng thư thái, dùng cách bảo thủ để xoa dịu bệnh tình. Sau khi từ thủ đô trở về, Trịnh Thanh không còn phải dậy ngủ đúng giờ, không cần học thuộc, cũng chẳng phải luyện viết chữ lớn nữa.
Nhưng thả lỏng hoàn toàn chẳng giúp bệnh tình khá lên. Cơn đau đầu của cậu trái lại càng xuất hiện thường xuyên hơn.
Khi ấy, Trịnh Thanh tám tuổi.
Cũng vào mùa xuân năm đó, thầy Ngô đeo cặp kính tròn gọng đen, đến khu Uẩn Hoa và mở hiệu sách Tam Hữu đậm chất xưa ở căn tiệm tầng trệt số ba, ngay mặt phố.
Giáo sư Trịnh là người trí thức kiểu cũ, còn thầy Ngô của Tam Hữu Thư Ốc cũng là một người có học thức uyên bác. Qua lại đôi lần, hai ông lão nhanh chóng thành bạn tâm giao, cùng say mê thư pháp và hội họa.
Một chiều cuối tuần nọ, Trịnh Thanh lại theo ông nội đến Tam Hữu Thư Ốc. Giáo sư Trịnh và thầy Ngô pha một ấm trà, bàn luận về sách Kim Quỹ Yếu Lược của Trương Trọng Cảnh. Trịnh Thanh thì cầm cuốn Harry Potter, vui vẻ đọc say sưa.
Đọc đến đoạn vết sẹo hình tia chớp trên trán Harry khiến cậu đau đầu dữ dội, Trịnh Thanh bỗng cảm thấy như chính mình cũng đang trải qua chuyện ấy. Cậu dường như cũng đau đầu, tâm trạng lập tức sa sút. Thở dài, cậu gấp sách lại rồi lắc đầu, nào ngờ cơn đau tưởng như chỉ do mình tưởng tượng ra lại là thật.
Cơn đau đầu dữ dội ập đến bất ngờ. Trịnh Thanh chỉ kịp rên lên một tiếng “đau đầu”, rồi trợn mắt, ngã lăn ra trước mặt hai ông lão, người co giật liên hồi.