Một vị cao tăng đắc đạo sau khi viên tịch thường có hai cách.
Một là nhục thân thành Phật. Khi ấy, thi thể được thờ trong chùa, ngày ngày nhận hương khói và lễ bái của tín đồ.
Cách thứ hai là hỏa táng. Sau khi cao tăng đắc đạo qua đời, trong tro cốt thường kết thành xá lợi, đó là báu vật tối thượng của nhà Phật, người ngoài có bỏ ra cả nghìn vàng cũng khó lòng cầu được.
Ngoài xá lợi, thân thể của cao tăng cũng hóa thành tro. Tuy không quý bằng xá lợi, nhưng tro cốt của người tinh thông Phật pháp có thể ngăn trăm tà, khiến yêu ma quỷ quái chẳng dám bén mảng. Công dụng của nó chẳng khác gì pháp khí bên Đạo gia. Nếu nhà một tín đồ Phật giáo thờ được một nhúm tro cốt của bậc cao tăng, cả gia đình, thậm chí mấy đời sau, cũng có thể được bình an.
Chiếc hũ tro mà lão hòa thượng trao cho lão đạo sĩ chính là tro cốt của Minh Tịnh đại sư bên chùa Huyền Không. Hai mươi năm trước, khi ấy đại sư đã chín mươi chín tuổi, ngài viên tịch rồi được hỏa táng. Lần này, để trấn áp tà vật trong khu mộ phía tây thôn Hướng Gia, lão hòa thượng đặc biệt mang một phần tro cốt từ chùa đến.
Minh Tịnh đại sư không mấy nổi danh giữa thế tục. Thậm chí, rất ít người từng nghe đến tên ngài, bởi đại sư gần như không có tín đồ. Điều này bắt nguồn từ cách hành sự của chùa Huyền Không. Trong chùa chỉ có lác đác vài vị tăng nhân, ba thế hệ cộng lại cũng chưa đến hai mươi người. Mỗi năm, số tăng nhân xuống núi tu hành giữa cõi đời chỉ độ hai ba người. Họ lại chưa từng dùng pháp danh để giao thiệp với người đời. Lâu dần, phần lớn thiên hạ chẳng biết chùa Huyền Không nằm ở đâu. Chỉ những vị cao tăng đã sống qua nhiều năm tháng mới biết đến ngôi chùa ấy.
Thế nhưng trong giới Phật môn, tăng nhân chùa Huyền Không lại có uy danh lừng lẫy, được vô số cao tăng kính ngưỡng. Còn Minh Tịnh đại sư thì được công nhận là một trong những người tinh thông Phật pháp nhất. Xét về hai việc cứu độ chúng sinh và siêu thoát vong hồn, tu vi của ngài khiến tất cả cao tăng Phật giáo đều khâm phục.
Khi còn sống, Minh Tịnh đại sư từng ba lần xuống núi, làm chấn động cả Phật môn. Ba lần ấy cũng đặt nền móng cho địa vị cao cả của ngài trong nhà Phật.
Lần đầu là khi ngài còn trẻ. Đất nước chìm trong chiến loạn, nơi nơi xác chết ngổn ngang, dân chúng sống chẳng bằng chết. Năm hai mươi ba tuổi, Minh Tịnh đại sư rời chùa Huyền Không, bắt đầu đi khắp thế gian. Hễ đến nơi từng xảy ra chiến trận, hoặc nơi có quá nhiều người chết, ngài lại ở đó siêu độ vong hồn. Bao giờ những oan hồn đều được dẫn lối siêu thoát, ngài mới chịu rời đi.
Lần xuống núi ấy kéo dài suốt mười một năm, Minh Tịnh chưa một lần trở về chùa Huyền Không. Ngài siêu độ không biết bao nhiêu vong hồn, dùng đôi chân mình đi gần khắp những vùng đất trong nước từng chịu cảnh binh đao.
Lần thứ hai, năm mươi tuổi, Minh Tịnh đại sư lại rời núi. Ngài vượt đường xa sang Ấn Độ, noi theo việc Huyền Trang đại sư năm xưa sang Tây Thiên thỉnh kinh. Chuyến khổ hành đi về kéo dài tám năm. Từ chùa Na Lan Đà ở Ấn Độ, ngài mang về mấy quyển kinh mà các chùa trong nước đang thiếu, rồi công bố cho mọi người, để tăng nhân khắp nơi có thể dựa vào đó tu hành.
Lần cuối cùng Minh Tịnh đại sư xuống núi là vào giữa thập niên bảy mươi, khi trận động đất xảy ra ở Đường Sơn. Ngài rời chùa Huyền Không, ngồi xếp bằng ngay giữa vùng tâm chấn, liên tục tụng kinh suốt tám mươi mốt ngày để siêu độ những người dân đã chết trong tai họa ấy. Mãi đến khi Đường Sơn không còn oan hồn vất vưởng giữa cõi đời, ngài mới trở về núi.
Ba lần xuất sơn tu hành ấy khiến vô số cao tăng trong Phật môn kính ngưỡng. Ngay cả Minh Tịnh đại sư cũng không biết mình đã siêu độ bao nhiêu vong hồn. Có thể nói, ngài đã lập nên công đức vô thượng mà suốt bao nhiêu năm qua, Phật môn chưa từng có người nào sánh được.
Sau khi Minh Tịnh qua đời, vốn dĩ ngài có thể tọa hóa thành nhục thân Phật, được dát vàng rồi đặt trong chùa cho người đời thờ phụng. Nhưng đại sư lại dặn trước rằng sau khi mình chết, nhất định phải hỏa táng thành tro. Những viên xá lợi kết thành từ đó được đặt tại mấy nơi cực kỳ hung hiểm để trấn áp tà vật. Ngài còn nói rõ, nếu nơi nào cần dùng tro cốt của mình, cứ việc lấy ra bất cứ lúc nào.
Bởi vậy, lần này lão đạo sĩ rời thôn Hướng Gia hơn nửa tháng, một là đến chùa Huyền Không mời vị hòa thượng tu phép ngậm miệng xuống núi, cùng mình trấn áp khu mộ cũ; hai là mong mang được một phần tro cốt của Minh Tịnh đại sư về, dùng để bày trận phong thủy.
Lão đạo sĩ nhận lấy chiếc hũ đựng tro cốt của Minh Tịnh đại sư. Tiếp đó, y lấy từ trong đạo bào ra năm lá cờ nhỏ, trên mỗi lá lần lượt viết Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Lão hòa thượng đứng bên cạnh trông thấy, mắt lập tức sáng lên.
- Ta đã bỏ cả vốn liếng rồi, chẳng hề nương tay đâu!
Lão đạo sĩ đau lòng thở dài:
- Pháp khí của Cổ Tỉnh Quan chúng ta vốn chẳng còn bao nhiêu, đếm đi đếm lại cũng chỉ có mấy món. Lần này mang năm lá cờ ra đây, bảo vật trấn quan cũng chẳng còn được mấy thứ. Đâu có như chùa Huyền Không các ngươi, dựng từ hơn nghìn năm trước, trong chùa giữ biết bao báu vật nhà Phật. Tùy tiện đem ra cho người ta vài món cũng chẳng thấy tiếc. Than ôi, người với người đúng là chẳng thể đem ra so sánh!
Lão đạo sĩ tiện tay ném năm lá cờ đi. Những lá cờ mang dấu hiệu Ngũ Hành lập tức cắm xuống năm phương quanh khu mộ.
Ngay khoảnh khắc cắm cờ, cả vùng núi phía tây bỗng rung lên. Mặt đất dưới chân dường như cũng chuyển động theo.
- Ta phải đổi hướng đi của cả dãy núi này. Nơi đây cách không xa hoàng cung mà Nỗ Nhĩ Cáp Xích từng xây ở Thẩm Dương. Sở dĩ vậy là vì vùng này có long mạch. Tuy long mạch chẳng thể sánh với long mạch ở kinh thành, nhưng dãy núi này dù sao cũng mang chữ long trong đó. Huống hồ, Nỗ Nhĩ Cáp Xích từng tụ được không ít đế khí ở Thẩm Dương, cũng có thể mượn dùng một phen.
Vừa lẩm bẩm, lão đạo sĩ vừa chôn tro cốt của Minh Tịnh đại sư cạnh năm lá cờ. Xong xuôi, y nói tiếp:
- Ta sẽ bày Đại Trận Ngũ Hành Khóa Âm, dẫn long mạch và đế khí về đây để trấn áp tà vật trong khu mộ. Có tro cốt của Minh Tịnh đại sư trợ lực, dù đến lúc âm khí nặng nhất, khi Quỷ Môn hằng năm mở rộng, thứ bên trong cũng tuyệt đối không thể xông ra.
Ngày mười bốn tháng bảy âm lịch hằng năm là ngày ma, còn gọi là Tết Trung Nguyên. Vào hôm ấy, nơi giao nhau giữa cõi người và cõi âm sẽ mở rộng. Sau mười một giờ đêm, những thứ âm tà bắt đầu lang thang giữa nhân gian, ma quỷ hoành hành.
Hôm đó âm khí nặng nề nhất, yêu ma quỷ quái đều có thể nhân cơ hội xuất hiện. Với những tà vật hung dữ, đây cũng là lúc thích hợp nhất để chúng thoát ra quấy phá.
Cắm cờ, chôn tro xong, lão đạo sĩ quay sang lão hòa thượng:
- Ngươi cũng đừng đứng không nữa. Dùng Kinh Bổn Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát gia trì cho bùa chú của ta. Tốt nhất là khắc cả sáu vị sứ giả của Địa Tạng vào đó. Việc này cần bản lĩnh lắm đấy, ngươi làm được không?
Lão hòa thượng khẽ gật đầu, hai tay chắp trước ngực.
Lão đạo sĩ trừng mắt, vẻ mặt đầy kinh ngạc:
- Ta chỉ thuận miệng nói vậy thôi, nào ngờ ngươi thật sự khắc được cả sáu vị sứ giả vào đó. Chuyện này ít nhất phải cần ba vị cao tăng cùng ra tay mới làm nổi. Người xuất gia không nói dối. Tên trọc kia, nếu ngươi không lừa ta, ít nhất ta có thể trấn thứ trong khu mộ này thêm hai mươi lăm năm!
Lão hòa thượng vẫn im lặng.
Lão đạo sĩ chép miệng mấy tiếng, lắc đầu không thôi. Y lấy sáu lá bùa đặt ra trước mặt, cắn rách đầu ngón tay giữa, nặn máu tươi rồi bắt đầu vẽ những nét bùa lên giấy.
Vẽ xong cả sáu lá, lão hòa thượng cởi áo cà sa. Ngón trỏ của y liên tục lướt qua, cắt áo cà sa thành sáu mảnh. Cùng lúc ấy, cái miệng vẫn khép chặt của y dường như đang tụng Kinh Bổn Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát.
Theo từng hồi kinh vang lên, trên sáu mảnh áo cà sa dần hiện ra hình dáng sáu vị sứ giả của Địa Tạng.
Sứ giả Diễm Ma, Đồng Tử Giữ Báu, sứ giả Sức Mạnh, Thiên Nữ Đại Từ, Thiên Nữ Kho Báu và sứ giả Nhiếp Thiên lần lượt hiện rõ đường nét trên áo cà sa.
Lão đạo sĩ hưng phấn nhận lấy những mảnh áo. Y bước theo các vị trí của Bát Quái, tay phải liên tục kết ấn, tay trái đưa sáu lá bùa cùng sáu mảnh áo cà sa khảm vào Đại Trận Ngũ Hành Khóa Âm.
- Mắt trận này đúng là uy phong hết chỗ nói! Trấn áp tà vật trong khu mộ hai mươi lăm năm, dư sức!