Trận đánh lớn đã cận kề, không thể lơi lỏng dù chỉ một khắc. Lão Chu có trời cao che chở, vậy những người bên cạnh hắn thì sao? Suốt hơn mười năm chinh chiến đẫm máu, biết bao dũng sĩ đã bỏ mạng. Việt Quốc công Hồ Đại Hải dũng mãnh chẳng kém Thường Ngộ Xuân. Còn Đinh Phổ Lang, đầu đã lìa khỏi cổ mà thân vẫn giữ tư thế xông trận, quả là Hình Thiên thời cuối Nguyên.
Trương Hy Mạnh nào dám chắc mình sẽ bình an sống đến ngày Đại Minh dựng nước. Mắt thấy thành lũy chỗ nào cũng sơ hở, hắn nóng ruột đến phát sợ.
Giờ đây, hy vọng đều đặt cả vào Mã thị. Chỉ xem vị Mã hoàng hậu tương lai ấy có bản lĩnh đến đâu…
Trương Hy Mạnh trở về căn nhà nhỏ mình đang ở, thấp thỏm chờ tin.
Lại nói bên phủ soái, Quách Tử Hưng triệu mấy người đến bàn bạc. Có con rể Chu Trọng Bát, Bành Đại từ Từ Châu tới, và Tôn Đức Nhai.
- Ta đã xem xét việc phòng thủ cả bốn mặt thành. Quanh chân thành vẫn còn không ít nhà cửa, hào bên ngoài chưa đào, hào nước quanh thành cũng chưa vét dọn. Cứ thế này thì chống quân Nguyên bằng cách nào?
Quách Tử Hưng vừa dứt lời, Bành Đại lập tức đứng bật dậy, vẻ mặt kích động.
- Quách đại soái, không giấu gì ngài, Từ Châu bị quân Thát Đát đánh vào từ cửa nước, chẳng mấy chốc thành đã thất thủ. Mười vạn anh em, quá nửa chết hoặc bị thương! Ta cũng thấy Hào Châu phòng bị chưa đủ, đang tính nói với đại soái, chẳng ngờ ngài đã nhận ra trước. Không còn gì phải bàn, ta tán thành sửa sang ngay!
Bành Đại vừa nói xong, Tôn Đức Nhai đã lên tiếng:
- Lão Bành, nói thì dễ lắm. Quan quân có thể kéo đến bất cứ lúc nào. Bây giờ đào hào, vét sông quanh thành, còn kịp sao?
Bành Đại nổi giận:
- Tôn soái còn hỏi ta à? Mấy tháng nay các người đã làm gì? Cứ tưởng quan quân là bùn nặn, chẳng đáng lo ngại. Còn bọn ta bại trận từ Từ Châu về, toàn là lũ bất tài vô dụng. Các người cứ việc chẳng làm gì, thế cũng đánh lui được quan quân!
- Ngươi!
Tôn Đức Nhai giận tím mặt. Hắn nghĩ bụng, mình cũng là một nửa chủ nhân Hào Châu, vậy mà đám tàn quân mất nhà này còn dám đến dạy đời hắn!
Hắn đang định mắng trả thì Quách Tử Hưng hừ một tiếng:
- Thôi cãi nhau đi. Đại địch trước mắt, chuyện cũ đừng nhắc nữa. Ta nghĩ giờ đã không kịp sửa hào nước quanh thành, chỉ còn cách tính trong thành. Đào hào, đắp tường thấp, dọn sạch nhà cửa trong phạm vi ba mươi trượng tính từ chân thành để phòng quan quân.
Quách Tử Hưng vừa nêu kế hoạch, Bành Đại sáng mắt, đang định khen hay thì Tôn Đức Nhai đã cướp lời:
- Đại soái định xây dựng rầm rộ đấy à?
Quách Tử Hưng gật đầu:
- Đúng vậy!
Tôn Đức Nhai cười khẩy:
- Theo ta, kế này dở tệ!
Quách Tử Hưng nhướng mày, trầm giọng hỏi:
- Sao lại thế?
Tôn Đức Nhai cười khì:
- Chuyện rõ rành rành. Nào phá nhà, nào đào hào, nào đắp tường… Ai sẽ làm? Dân trong thành hay anh em chúng ta? Dân chúng chịu ra làm sao? Nếu bắt quân ta làm, quân Thát Đát còn chưa tới mà người mình đã mệt rã rời, đến lúc đó còn sức giữ thành à?
Quách Tử Hưng sững người. Nghe ra cũng có lý.
Tôn Đức Nhai nói tiếp:
- Còn nữa, dù có dựng công sự bên trong vững đến đâu, liệu có hơn nổi tường thành? Chỉ cần giữ được tường thành thì giữ, không giữ nổi thì mọi chuyện chấm hết. Theo ta, khỏi cần phí công. Mọi người cứ dưỡng sức, lau dao cho thật sắc, đợi quân Thát Đát kéo đến thì liều mạng với chúng! Người khác sợ, ta sẽ đứng trên thành chống đỡ!
Quách Tử Hưng vốn không giỏi quyết đoán. Hai điều Tôn Đức Nhai nói nghe cũng không phải vô lý… Ông bất giác nhìn sang con rể Chu Trọng Bát.
Chu Trọng Bát bỗng bật cười:
- Tôn đại soái, ngài tưởng đào hào, đắp tường trong thành là để phòng khi tường thành vỡ, ta còn tiếp tục đánh nhau sao?
Tôn Đức Nhai ngẩn ra:
- Chẳng lẽ không phải?
- Phải, mà cũng không phải!
Chu Trọng Bát quay sang Quách Tử Hưng:
- Đại soái, mấy tháng trước, phần đông quân Khăn Đỏ trong thành còn là dân buôn gánh, làm thuê, chưa từng thấy gươm đao. Nay đại quân Giả Lỗ kéo đến đánh, lính giữ thành rất dễ hoảng sợ. Đê dài nghìn dặm cũng có thể vỡ vì một tổ kiến. Chỉ cần một chỗ phòng bị sơ hở, cả thành sẽ thua sạch.
Chu Trọng Bát thong thả nói tiếp:
- Nếu đào hào, đắp tường trong thành, ta có thể ngăn lính giữ thành bỏ chạy. Sau tường còn bố trí được đội giám sát quân sĩ, để họ không hoảng loạn rồi tháo chạy. Dù quân Nguyên thật sự phá được tường thành, giết vào trong, ta vẫn còn một toán quân sung sức chờ sẵn sau tường. Họ có thể lấy sức nhàn chống quân đã mệt, đẩy giặc ra ngoài. Sau đó ta tranh thủ sửa lại tường thành, vẫn còn đánh tiếp được!
- Nếu không chuẩn bị gì, chỉ trông vào một bức tường thành và đám quân ô hợp, ta chẳng dám chắc có thể ngăn nổi tinh binh quân Nguyên.
Ý của lão Chu là phải có thêm một khoảng đệm, thêm một tầng phòng bị.
Đào hào đắp tường vừa ngăn quân địch, vừa phòng quân mình tháo chạy. Có thêm một bức tường, thành sẽ vững thêm một phần, lòng người trong thành cũng yên thêm một phần.
Kế hoạch này lợi đủ đường, quả là khéo léo.
Bành Đại không nhịn được, vỗ tay khen:
- Hay! Quả là hay! Nếu ngày trước Từ Châu dựng thêm một bức tường bên trong, quân Thát Đát đâu dễ gì giết vào như vậy! Chu công tử, ngài quả là văn võ song toàn!
Bành Đại hết lời ca ngợi Chu Trọng Bát. Mặt lão Chu hơi ửng đỏ, không dám nhận lời.
Nói cho cùng, xét về lý lẽ, đào hào đắp tường quả là có căn cứ.
Lúc này, mặt Tôn Đức Nhai xanh mét. Chu Trọng Bát dám vả thẳng vào mặt hắn, đúng là to gan! Hắn hừ lạnh:
- Ngươi nói có lý, nhưng sao không nói sớm? Giờ bảo ai đi đắp tường? Trong thành chỉ có mấy vạn quân, ngươi muốn vắt kiệt sức mọi người à?
Hắn vừa dứt lời, chợt có người từ ngoài bước vào.
Nàng cúi mình thi lễ với Quách Tử Hưng, rồi nói:
- Nghĩa phụ, con bất tài, nhưng xin nhận lệnh đắp tường.
Người vừa đến chính là Mã thị.
Quách Tử Hưng giật mình, đứng bật dậy, sa sầm mặt trách:
- Con bé này, nói năng kiểu gì vậy? Chẳng lẽ đàn ông trong thành chết sạch cả rồi sao?
Tôn Đức Nhai không nói gì, chỉ cười lạnh, như thể muốn bảo: đánh trận là việc của đàn ông, một cô gái như ngươi chen vào làm gì?
Mã thị vẫn điềm tĩnh:
- Nghĩa phụ, quân Nguyên có hơn mười vạn, nếu đánh vào thành thì đàn ông chẳng qua chỉ chết một mạng. Còn phụ nữ chúng con không chỉ mất mạng mà còn bị làm nhục. Thà góp chút sức, giành lấy một đường sống, còn hơn ngồi yên chờ chết.
- Hơn nữa, một khi đại quân vây thành, ngoài chút lương thực từng nhà có thể mua được, hẳn vẫn còn thiếu thốn. Ai ra đắp tường, đào hào, già trẻ gì cũng được nhận một phần lương thực. Một cân cũng được, nửa cân cũng xong, ít ra còn có cái ăn. Đây cũng là một cách, tốt hơn để mọi người đói rét, lòng người rối loạn.
Nghe nàng nói một hồi, Quách Tử Hưng kinh ngạc. Sao ông lại không nghĩ đến điều ấy? Cô con gái nuôi này chẳng khác nào Hoa Mộc Lan tái thế, một bậc anh hùng giữa chốn khuê phòng!
- Con bé, lý lẽ thì phải, nhưng sao con có thể ra mặt ngoài đường?
Mã thị mỉm cười:
- Thưa nghĩa phụ, chồng con khoác giáp cầm binh khí, giữ thành giết giặc. Nghĩa phụ gánh trên vai mạng sống của biết bao quân dân, ngày đêm lo liệu. Con đâu phải người vô tâm, sao có thể yên ổn ở nhà? Thêm một người làm cũng thêm được ba phần sức. Xin nghĩa phụ chuẩn thuận!
Nói rồi, Mã thị lại cúi mình thi lễ. Quách Tử Hưng cảm động khôn xiết, vội bước tới nắm lấy tay nàng. Ông quay sang, nắm luôn tay Chu Trọng Bát, lắc mạnh.
- Con gái ngoan! Con rể tốt! Cứ làm theo lời hai con. Kẻ nào dám không nghe, xử theo quân pháp!
Vợ chồng họ phối hợp ăn ý, cuối cùng cũng đạt được điều mong muốn.
Chu Trọng Bát không khỏi xót xa, nói:
- Muội muội, lại khiến muội phải chịu khổ cùng ta rồi.
Mã thị khẽ lắc đầu:
- Đã là vợ chồng, còn nói những lời ấy làm gì? Chẳng lẽ muội muốn trơ mắt nhìn quân Nguyên giết vào thành sao? Muội không sợ chịu khổ, chỉ sợ làm không tốt, hỏng việc lớn… Muội cũng nghe Tôn đại soái nói rồi. Người trong thành chẳng cùng lòng, muội thật sự sợ xảy ra chuyện ngoài ý muốn.
Chu Trọng Bát cũng cảm khái. Lòng người không đồng, tầm nhìn lại chẳng cao, làm việc quả thật khó khăn!
- Muội muội, ta còn phải giữ thành. Bên cạnh muội không có ai giúp, cứ để tiểu tiên sinh phụ một tay. Hắn nhiều mưu mẹo, gặp việc khó xử thì chúng ta cùng tìm cách.
Nghe vậy, Mã thị gật đầu:
- Đành vậy thôi.